Nội dung cơ bản của Luật tiếp cận thông tin một số nước - Pdf 12


Nội dung cơ bản của Luật tiếp
cận thông tin một số nước Tự do thông tin là một quyền cơ bản đối với mỗi con người. Quyền
này cho phép và tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân bảo vệ các
quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Đây là một sự bảo vệ quan trọng
chống lại các hình thức lạm dụng, các việc làm sai trái và tham nhũng.
Quyền này cũng có thể đem lại lợi ích cho các Chính phủ thông qua
việc đem lại sự minh bạch và cởi mở trong các quá trình ra quyết định
và qua đó cải thiện lòng tin của công chúng đối với các hoạt động của
Chính phủ (1).
1. Lợi ích của việc ban hành luật tiếp cận thông tin
Đến năm 2009, đã có 86 nước trên thế giới ban hành Luật về Tiếp
cận thông tin. Quốc gia đầu tiên ban hành luật liên quan đến quyền tiếp
cận thông tin là Thụy Điển (năm 1766), sau đó một số nước khác cũng
có đạo luật riêng như Mỹ ban hành Luật Tự do thông tin (năm 1966),
Canada (1983), Hungary (1992), Anh (năm 2000), Nam Phi (năm
2000) Ở châu á, một số nước đã ban hành luật này như Thái Lan
(12/1997), Hàn Quốc (1/1998), Nhật Bản (4/2001), Ấn Độ (năm 2005),
Inđônêxia, Trung Quốc, Thái Lan, Philippines Một số quốc gia khác
cũng đang trong quá trình chuẩn bị ban hành luật này hoặc ban hành
nghị định riêng để điều chỉnh về vấn đề này.
Theo Báo cáo về tiếp cận thông tin trên thế giới thì việc ban hành
luật về tiếp cận thông tin mang lại một số lợi ích cơ bản sau đây:
1.1. Thu hút sự tham gia của công chúng và thực hiện dân chủ
Tự do thông tin là yếu tố quan trọng trong việc thu hút sự tham gia
của công chúng vào các công việc xã hội. Đồng thời, công chúng chỉ
thực sự có khả năng tham gia vào các quá trình dân chủ khi họ có đầy
đủ các thông tin về các chính sách và hoạt động của Chính phủ. Dân

động một cách nhanh chóng hơn đối với các vấn đề đã tồn tại dai dẳng
trong xã hội như là đường sá, xây dựng và tạo việc làm. Ở Thái Lan,
một người mẹ có con bị từ chối không cho nhập học vào một trường
công đầy danh tiếng đã yêu cầu nhà trường phải cho xem kết quả thi
đầu vào. Khi nhà trường từ chối, người mẹ này đã nộp đơn lên ủy ban
Thông tin và cho Tòa án. Kết quả là, bà nhận được thông tin về việc
con cái của nhiều người có ảnh hưởng lớn đã được chấp nhận vào học
trong trường mặc dù có điểm thi rất thấp. Sau đó, Hội đồng Nhà nước
đã ban hành một quyết định rằng, các trường chỉ được phép tiếp nhận
sinh viên dựa trên một yếu tố duy nhất là kết quả học tập. Tại Hoa Kỳ,
Luật Tiếp cận thông tin được sử dụng đã phát hiện ra nhiều trường hợp
tra tấn hoặc giám sát bất hợp pháp do các cơ quan Chính phủ thực hiện.
Một số Luật như Luật Bảo vệ dữ liệu hoặc một số Luật Tự do thông
tin còn cho phép các cá nhân được tiếp cận tài liệu lưu trữ do cá nhân
và các tổ chức tư nhân nắm giữ cũng như cho phép thực hiện quyền
được tiếp cận và quyền được sửa đổi các tài liệu lưu trữ cá nhân và đảm
bảo rằng các tài liệu này luôn chính xác và các quyết định được đưa ra
không dựa trên các thông tin không có liên quan hoặc không được cập
nhật. Quyền này cũng đảm bảo rằng, mọi người có thể nhận thức một
cách rõ ràng những lợi ích hoặc dịch vụ mà họ có quyền được hưởng và
xem họ có được nhận đúng và đủ các lợi ích đó không. Ở Nam Phi, các
quy định về tiếp cận thông tin trong Luật Tăng cường tiếp cận thông tin
đã cho phép các cá nhân muốn biết tại sao đơn xin vay tiền của họ bị
ngân hàng từ chối, hay các cổ đông thiểu số muốn xem hồ sơ lưu trữ
của các công ty tư nhân, hay một nhà lịch sử đang nghiên cứu về việc
một công ty phúc lợi tư nhân hoạt động như thế nào trong thời kỳ phân
biệt chủng tộc, hoặc cả việc một nhóm hoạt động môi trường muốn tìm
hiểu về ảnh hưởng của các dự án đến môi trường.
1.3. Làm cho các cơ quan và Chính phủ hoạt động tốt hơn
Luật Tự do thông tin cũng có khả năng cải thiện cách thức làm việc

liệu về quá khứ và cho phép xã hội cũng như các nạn nhân và gia đình
của họ, những người đã từng bị lạm dụng và thương tổn biết và hiểu rõ
hơn những gì đã xảy ra trong quá khứ. Hầu hết các Hiến pháp mới
được sửa đổi và ban hành đều có quy định về quyền tiếp cận thông tin
của các cơ quan Chính phủ như là một quyền dân sự hay quyền con
người cơ bản.
Sau khi Liên bang Xô viết tan rã, hầu hết các quốc gia Đông Âu và
Trung Âu đã ban hành Luật quy định về việc tiếp cận các hồ sơ lưu trữ
về lực lượng cảnh sát bí mật trước kia. Ở một số quốc gia, các hồ sơ
này được công khai cho các cá nhân để họ biết được các hồ sơ đó đã
ghi gì về bản thân họ. Ở một số quốc gia khác, chỉ có các ủy ban có
thẩm quyền mới được tiếp cận các hồ sơ này để đảm bảo rằng các cá
nhân đã phục vụ trong lực lượng bí mật trước kia không được phép
tham gia Chính phủ đương nhiệm hoặc ít nhất là hồ sơ của họ cũng
được công khai. Ở Mêxicô vào năm 2002, Tổng thống Fox đã ra lệnh
công bố tất cả các hồ sơ về việc lạm dụng nhân quyền trước đây để các
gia đình có thể biết được những gì đã xảy ra đối với người thân của họ
đã bị mất tích trong quá khứ. Ở Hoa Kỳ, Cơ quan lưu trữ an ninh quốc
gia đã đưa ra hàng nghìn yêu cầu và nhận được các thông tin từ Chính
phủ Mỹ về các hồ sơ có liên quan đến việc lạm dụng nhân quyền ở
Mexico, Peru hay Chilê và sau đó cung cấp các thông tin này cho ủy
ban Sự thật của các quốc gia này (2).
2. Đặc điểm chung của các luật tiếp cận thông tin
Các Luật Tự do thông tin trên khắp thế giới có khá nhiều điểm tương
tự nhau. Điều này là do một phần là luật của một số quốc gia được ban
hành trước đây đã được sử dụng làm khuôn mẫu cho các nước khác học
tập theo. Luật Tự do thông tin của Hoa Kỳ có lẽ là một đạo luật có ảnh
hưởng nhiều nhất.
Gần đây Luật Tự do thông tin có một số sáng tạo. Các đạo luật mới
được ban hành có các quy định chưa từng có tiền lệ trong các đạo luật

trên phải được cập nhật thông qua Quốc hội hoặc một văn bản pháp
quy mà việc này thì thường mất rất nhiều thời gian. Điều cũng có thể
gây ra một số vấn đề rắc rối trong trường hợp Chính phủ từ chối bổ
sung các cơ quan mới. Ở Ireland, cơ quan cảnh sát vẫn không thuộc
phạm vi điều chỉnh của Luật. Ở Canada có rất nhiều tranh cãi về tiếp
cận thông tin do cơ quan tư nhân hoặc cơ quan mới thành lập nắm giữ.
Một số quốc gia đã loại trừ một số cơ quan nhất định có nắm giữ các
thông tin nhạy cảm khỏi phạm vi điều chỉnh của Luật. Ở Vương quốc
Anh và Ấn Độ, các cơ quan an ninh và tình báo không thuộc phạm vi
điều chỉnh của Luật. Vấn đề đặt ra đối với việc loại trừ một số cơ quan
là ở chỗ trong khi một số thông tin mà một cơ quan nắm giữ có thể rất
nhạy cảm thì không hề có một cơ chế giám sát cần thiết đối với tất cả
hoạt động của cơ quan này để phòng chống tham nhũng, lạm dụng
quyền lực, lạm dụng thông tin, ví dụ như thông tin về các nguy cơ môi
trường. Ngoài ra, rất nhiều thông tin mà cơ quan này nắm giữ chỉ là
những thông tin thông thường như là việc mua sắm các thiết bị văn
phòng hay việc sử dụng các thẻ tín dụng hoặc ô tô công vụ. Giải pháp
tốt hơn trong trường hợp này là vẫn đưa cơ quan đó vào phạm vi điều
chỉnh và áp dụng các trường hợp ngoại lệ đối với quyền tiếp cận thông
tin để đảm bảo rằng các thông tin nhạy cảm được bảo vệ trong trường
hợp cần thiết.
Ở nhiều quốc gia, quyền tiếp cận thông tin do các tổ chức tư nhân
nắm giữ thường bị hạn chế. Ở Nam Phi, Luật Tăng cường tiếp cận
thông tin cho phép các cá nhân và các cơ quan Chính phủ được yêu cầu
tiếp cận thông tin do các tổ chức tư nhân nắm giữ nếu như điều này là
cần thiết để thi hành các quyền khác. Ở Antigua và Barbuda, Luật Tự
do thông tin năm 2004 cũng quy định về quyền này. Ở Đan Mạch, Luật
Tiếp cận các hồ sơ hành chính nhà nước áp dụng cho cả các công ty khí
đốt tự nhiên và các nhà máy điện. Pháp luật về quyền riêng tư và bảo
vệ dữ liệu tại trên 50 quốc gia có quy định về quyền tiếp cận và chỉnh

quá trình rà soát và xem xét lại các quyết định đã ban hành sau này, hạn
chế khả năng các quan chức bỏ lọt các thông tin để tránh việc phải công
bố thông tin cũng như khuyến khích việc tạo lập và lưu trữ hồ sơ một
cách tốt hơn.
2.3. Những người có quyền yêu cầu cung cấp thông tin
Hầu hết các quốc gia hiện nay đều cho phép bất kỳ ai cũng có quyền
yêu cầu cung cấp thông tin mà không tính đến việc họ có các lợi ích
pháp lý liên quan hay không, có là công dân hay cư trú tại quốc gia đó
hay không. Một số quốc gia như Phần Lan còn cho phép việc đưa ra
các yêu cầu vô danh nhằm đảm bảo rằng, người yêu cầu cung cấp
thông tin không bị phân biệt đối xử. Việc đặt ra các hạn chế nghiêm
ngặt hơn có thể làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền tiếp cận thông
tin, ví dụ như một số quan chức Ấn Độ yêu cầu phải đưa ra các chứng
cứ chứng minh mình là công dân Ấn Độ khi họ yêu cầu tiếp cận thông
tin, mặc dù biết rằng không nhiều người Ấn Độ có hộ chiếu hoặc chứng
minh thư.
2.4. Các trường hợp ngoại lệ
Gần như tất cả các Luật Tự do thông tin đều có quy định về các loại
thông tin có thể giữ bí mật, không công bố. Một số trường hợp ngoại lệ
được quy định giống nhau ở hầu hết các đạo luật. Các ngoại lệ này bao
gồm các thông tin về bảo vệ an ninh quốc gia và quan hệ quốc tế,
quyền riêng tư cá nhân, bí mật thương mại, thi hành pháp luật và trật tự
công cộng, thông tin nhận được dưới dạng mật và các cuộc thảo luận
nội bộ. Tại nhiều hệ thống pháp luật, các tài liệu được trình trong Nội
các để ra quyết định và các tài liệu lưu trữ về các phiên họp Nội các
được giữ bí mật trong một thời gian nhất định. Ở Ireland thời hạn này
là 10 năm. Ở New Zealand, tài liệu Nội các lại thường được công bố
theo yêu cầu mà không bị trì hoãn.
Hầu hết các đạo luật đều yêu cầu phải chứng minh các thiệt hại có
thể xảy ra nếu như muốn giữ bí mật thông tin. Yêu cầu phải chứng

Kinh tế Châu Âu của Liên hiệp quốc (UNECE) hạn chế khả năng của
các cơ quan Nhà nước lấy lý do các bí mật thương mại làm cơ sở từ
chối việc cung cấp thông tin về môi trường.
2.5. Khiếu nại và giám sát
Có rất nhiều cơ chế khác nhau để thực hiện quyền khiếu nại và thi
hành Luật Tự do thông tin. Các cơ chế này bao gồm việc giám sát hành
chính, giám sát của tòa án và thi hành hoặc giám sát bởi một cơ quan
độc lập. Hiệu quả của các cơ chế này là rất khác nhau. Các chuyên gia
thường có quan điểm rằng, các Uỷ ban độc lập là cơ chế giám sát hữu
hiệu nhất.
Mức độ khiếu nại đầu tiên ở gần như tất cả các quốc gia là khiếu nại
hành chính. Tuy nhiên, thực tiễn ở nhiều quốc gia cho thấy, các hệ
thống hành chính nội bộ thường có xu hướng ủng hộ việc từ chối cung
cấp thông tin và dẫn đến tình trạng trì hoãn việc cung cấp thông tin.
Trong trường hợp việc khiếu nại hành chính nội bộ đã kết thúc, bước
tiếp theo là khiếu nại đến một cơ quan bên ngoài. Trên 20 quốc gia, cơ
quan giám sát Ombudsman (thường là một quan chức độc lập do Quốc
hội chỉ định) sẽ có thẩm quyền xem xét lại các quyết định đưa ra như là
một bộ phận trong quyền hạn giám sát hoạt động hành chính của Chính
phủ.
Nhiều quốc gia thành lập Uỷ ban thông tin độc lập. Ủy ban này có
thể trực thuộc Quốc hội, trực thuộc một cơ quan Chính phủ khác hoặc
trực thuộc Văn phòng của Thủ tướng (như ở Thái Lan) hoặc là một cơ
quan độc lập hoàn toàn. Nhiều quốc gia trong đó có Vương quốc Anh,
Đức, Thụy Sỹ và Slovania đã gộp ủy ban về Tự do thông tin và ủy ban
quốc gia về Bảo vệ dữ liệu làm một. Đức và Canada cũng thực hiện
việc sáp nhập này tại các cơ quan chính quyền địa phương. Tuy nhiên,
hình thức này gần đây đã bị một Uỷ ban Chính phủ ở Canada phản đối.
Ở Ireland, ủy viên Thông tin cũng thực hiện chức năng giám sát
Ombudsman.

thành nhiều yêu cầu khác nhau để thu lệ phí cao hơn và vượt quá khả
năng chi trả của một người dân bình thường.
Các khoản lệ phí cũng có thể tạo ra các rào cản hành chính không
cần thiết và làm giảm số các yêu cầu hơn là một cơ chế để bồi hoàn các
chi phí đã bỏ ra. Ở Ấn Độ, nhiều cơ quan đã yêu cầu phải nộp các hối
phiếu ngân hàng có giá trị gấp đôi khoản tiền lệ phí nộp đơn hoặc từ
chối việc tiếp cận thông tin bằng việc đặt ra các thủ tục hành chính
rườm rà trong việc thu lệ phí.
Các khoản lệ phí cũng có thể bị lạm dụng. Ở Canada, các cơ quan
trung ương và tỉnh thường yêu cầu các khoản lệ phí khá lớn khi tiếp
nhận yêu cầu và đây là một thách thức đối với người yêu cầu khi muốn
nhận được thông tin. Người này chỉ có thể nhận được thông tin nếu như
có đủ tiền để trả lệ phí hoặc các dịch vụ trợ giúp pháp lý khác để khiếu
nại về mức chi phí quá cao này thì mới có thể đảm bảo được quyền tiếp
cận thông tin của mình. Ủy viên Thông tin đã chỉ trích Chính phủ một
cách mạnh mẽ vào năm 2006, sau khi Chính phủ yêu cầu phải nộp 1,6
triệu đô la cho một yêu cầu mà ủy viên thấy rằng có thể thực hiện một
cách nhanh chóng thông qua việc sử dụng các phần mềm hiện có. Ở
Australia, các chi phí pháp lý để thực hiện khiếu nại hoặc khởi kiện ra
tòa quá cao, nên chỉ có vài người có khả năng chi trả để thực hiện
quyền của mình.
Trên thực tế, hầu hết các quốc gia đều có quy định cho phép thu lệ
phí và trong phần lớn các trường hợp yêu cầu, các khoản lệ phí thường
không được đặt ra bởi vì chi phí cho việc cung cấp thông tin nhỏ hơn
chi phí hành chính cho việc thu và tiếp nhận các khoản lệ phí.
Tốt nhất là nên hạn chế các khoản thu lệ phí trong việc cung cấp
thông tin và không nên thu lệ phí đối với việc khiếu nại. Một nguyên
tắc chung được thừa nhận ở tất cả các quốc gia là lệ phí không nên
được sử dụng như là một rảo cản hoặc một dụng cụ nhằm tìm kiếm lợi
nhuận.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status