Luận văn: Thực trạng về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp Việt Nam từ trước năm 1985-1988 tới nay pot - Pdf 12


Trang 1 Luận văn
Thực trạng về chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp Việt Nam từ trước
năm 1985-1988 tới nay

Trang 2
MỞ ĐẦU
Đất nước ta đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất lương thực chủ
yếu là cây lúa nước mà một số hoa màu khác nhưng phân tán. bên cạnh đó, nề kinh
tế của nước ta còn gặp nhiều khó khăn, chưa có đượcnề tảng để tạo đà phất triển.
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI năm 1986 đã mở ra cho nền kinh tế nông
nghiệp một hướng đi mới với một nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, xoá bỏ
cơ chế tập trung quan liêu bao cấp theo định hướng xã hội chủ nghĩa dưới sự quản
lý của Nhà nước và đặc biệt là nền kinh tế nông nghiệp đã được chú trọng hơn. Từ
sau nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và nhiều chính sách mới được ban hành đã giải
quyết được những ràng buộc phong kiến phi kinh tế trong nông nghiệp và chỉ thị
100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng với nhân dân khoán sản phẩm cây lúa đến
nhóm người và người lao động. Đây được coi là chìa khoá vàng để mở ra thời kỳ
mới của nông ngiệp. Bởi vì Đảng ta đã xác định để phát triển được nền kinh tế thì
trước tiên là phải phát triển được nông nghiệp. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp với xu hướng giảm tỷ trọng cây lượng thực, tăng dần tỷ trọng cây công
nghiệp và thuỷ sản và giảm dần tỷ trọng nông nghiệp trong nông thôn và tăng dần tỷ
trọng công nghiệp, xây dựng và dịch vụ.
Phát triển nông ngiệp một cách toàn diện nhằm từ đó tích luỹ cho công
nghiệp và các ngành khác trong nền kinh tế.
Việc thực hiện những chiến lược đó phụ thuộc phần lớn vào hiệu quả đổ

Nước ta nằm ở khu vực nhiệt đới, đất nước trải dài theo hướng Bắc-Nam,
phần lớn địa hình là đồi núi, có ba mặt tiếp giáp với biển… chính vì vậy, có thảm
thực vật phong phú, đa dạng, có tiềm năng sinh khối lớn, nhiều loài vật có giá trị
kinh tế cho phép phát triển một nền nông nghiệp đa dạng và có thể đi vào chuyên
canh nhiều loại cây, con. Hiện nay, nông nghiệp nước ta sản xuất lương thực chủ
yếu là cây lúa nước nhưng phần tán, việc áp dụng các kỹ thuật cơ giới hoá, hiện
đại hoá vào sản xuất nông nghiệp thiếu kinh nghiệm và còn nhiều bất cập.
-Nước ta đất chật, dân số không ngừng tăng lên lên khả năng mở rộng quy
mô sản xuất nông nghiệp hạn chế.
-Việc chuyển nền nông nghiệp Việt Nam sang sản xuất hàng hoá gặp nhiều
khó khăn về vốn, kỹ thuật, trình độ lao động, khả năng quản lý …
Đây là những đặc điểm nổi bật cần phải khắc phục nhanh chóng tạo tiền đề
cho nhiệm vụ công nghiệp hoá -hiện đại hoá nông nghiệp nông thôn nước ta theo
hướng bền vững, tiến lên một nền nông nghiệp mà :

Trang 4
-Đi vào sản xuất hàng hoá
-Năng suất cây trồng và gia súc cao.
-Năng suất lao động cao.
-Sử dụng hệ thống thuỷ canh.
Và khắc phục những hạn chế :
-Sử dụng năng lượng lãng phí
-Chất lượng nông sản kém.
-Môi trường bị ô nhiễm.
2. Vai trò, vị trí của sản xuất nông nghiệp.
Nông nghiệp giữ một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt
đối với các nước đang phát triển. Bởi vì các nước này đa số người dân sống dựa
vào nghề nông. Để phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi cho nhân dân, Chính
phủ cần có chính sách tác động vào khu vực nông nghiệp nhằm nâng cao năng
suất cây trồng và tạo ra nhiều việc làm ở nông thôn.

hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp. Đây là một nhiệm vụ rất quan trọng
của nền kinh tế quốc dân.
II. CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NÔNG NGHIỆP VỚI PHÁT
TRIỂN NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN.
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp với sự phát triển của nền
kinh tế quốc dân.
Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là bộ phận cấu thành rất quan
trọng của nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế -
xã hội ở nước ta. Cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là tổng thể của kinh tế
bao gồm mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất thuộc khu vực kinh tế nông thôn trong những khoảng thời gian và điều
kiện kinh tế xã hội nhất định.
Sau khi nghị quyết 10 của Bộ chính trị và nhiều chính sách mới được ban
hành đã giải được những khả năng buộc phong kiến phi kinh tế trong nông nghiệp
và nông thôn, tạo cho nông nghiệp đạt được những thành tựu to lớn góp phần từng
bước chuyển nền nông nghiệp tự cấp tự túc sang sản xuất hàng hoá. Sự chuyển
dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói riêng và nông thôn nói chung đã và đang có
sự khởi sắc, sản xuất phát triển đời sống nhân dân được cải thiện. Mặt khác, việc
chuyển dịch cơ cấu ngành, theo vùng, lãnh thổ, theo các thành phần kinh tế, theo

Trang 6
cơ cấu kỹ thuật - công nghệ hướng tới nền sản xuất hàng hoá và đạt được nhiều
tiến bộ đángg kể.
Thế nhưng ở trong phạm vi của từng vùng trong nước thì không hẳn thế. Do
có sự phát triển không đều giữa các vùng trong nước, quá trình đó diễn ra ở các
vùng không giống nhau: ở vùng kinh tế phát triển , quá trình đó diễn ra theo trình
tự chung còn ở vùng kinh tế kém phát triển, quá trình đó có thể bắt đầu từ việc phá
thế độc canh hoá chuyển sang đa canh lúa, màu phát triển chăn nuôi và bước tiếp
theô là phát triển các ngành nghề tiều, thủ công nghiệp và dịch vụ. Xu hướng
chung của sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn là: tỷ trọng

có chịu sự ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông
nghiệp và nông thôn.
2. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới
a. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của Đài
Loan.
Ta biết rằng Đài Loan là một lãnh thổ nhỏ với 2/3 là đồi núi, đất canh tác
chỉ có gần 900.000 ha, khí hậu á nhiệt đối và nhiệt đới, bởi vậy cơ cấu nông
nghiệp rất đa dạng, phong phú như trồng trọt có lúa nước, lúa mì, khoai lâng, khoai
tây, lạc, chuối…. Về chăn nuôi có lợn, gàm vịt , trâu, bò… Ngư nghiệp có điều
kiện thuận lợi để phát triển, nuôi trồng và đánh bắt thuỷ hải sản, có những sản
phẩm xuất khẩu có giá trị như tôm, cá…
Tuy vậy, cho đến giữa thế kỷ xét xử, nông nghiệp Đài Loan vẫn ở tình
trạng lạc hậu, sản xuất tiểu nông tự cấp, tự túc. Từ đầu những năm 1950 đến nay
cơ cấu nông nghiệp Đài Loan, do có sự tác động của công nghiệp hoá, đã có một
bước phát triển mạnh mẽ, cơ cấu nông nghiệp đã chuyển dịch theo hướng sản
xuất nông sản hàng hoá, hướng về về xuất khẩu, và đã đạt được những thành tựu to
lớn trong thời kỳ công nghiệp hoá. Quá trình đó của Đài Loan được chia làm 3 thời
kỳ.
*Thời kỳ thứ nhất:
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ khôi phục kinh tế sau chiến tranh chuẩn
bị công nghiệp hoá (1949-1953).
Trong thời kỳ này, Đài Loan bắt đầu thực hiện cải cách ruộng đất do chính
quyền Quốc Dân Đảng thực hiện trong 4 năm (1949-1953) với nội dung: giảm tô
từ 50-60% xuống 37,5% (1949), chính quyền đem 130.000 ha ruộng công bán cho
177.000 hộ nông dân thiếu ruộng (1951), ban chấp hành "luật người cày ruộng:

Trang 8
(1953), trưng mua số ruộng đất quá hạn mức của địa chủ bán cho nông dân thiếu
ruộng.
Điều trên đã tạo điều kiện chuyển dịch nền kinh tế nông nghiệp phong kiến

-Cung cấp nguyên liệu và lao động cho công nghiệp để phát triển công
nghiệp hoá.
Kết quả: sản phẩm trồng trọt chính (lúa, mía, rau quả) tăng từ 60-400%,
năng suất cấy trồng từ 50-200%, sản lượng thuỷ sản tăng 400%, lâm sản tăng
50%-120%. Kim ngạch xuất khẩu nông lâm thuỷ sản đạt 266,590 triệu USD, tăng
220%. Điểm chủ ý ở đây là cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ 1953-1968 đã có sự
chuyển dịch mạnh mẽ theo hướng công nghiệp hoá. Giá trị sản lượng nông, lâm
ngư nghiệp năm 1968 tăng 5 lần so với 1953, cơ cấu giá trị chăn nuôi tăng từ
15,6% lên 23%, ngư nghiệp từ 7,4%-10,6%, lâm nghiệp từ 5,1%-6,3%.
* Thời kỳ thứ ba
Cơ cấu nông nghiệp trong thời kỳ phát triển công nghiệp để hỗ trợ nông
nghiệp (1961 đến nay). Một trong những nội dung chủ yếu trong thời kỳ này là
tiếp tục chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp cho phù hợp với yêu cầu và khả năng của
công nghiệp hoá.
Số trang trại gia đình bắt đầu giảm, lao động nông nghiệp giảm từ 1,6 triệu
(1969) xuống 1,09 triệu (1991). Tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng số lao
động xã hội giảm từ 38,9% (1969) xuống 12,9% (1991).
Diện tích canh tác giảm 914 ha (1969) xuống 883540 ha (1991). Giá trị sản
lượng nông nghiệp tăng 47731 triệu Đài Loan (1969) lênhà nước 234185 triệu

Trang 10
(1981). Kim ngạch xuất khẩu nông sản tăng 297 triệu USD (1969) lên 10,042 tỷ
USD (1991).
Biểu 2: cơ cấu giá trị sản lượng nông nghiệp (1968-1981)
Năm Giá trị Sl (1)
nông nghiệp
Tỷ trọng giá trị sản phẩm (%)
Trồng trọt Chăn nuôi Ngư nghiệp Lâm nghiệp
1968 48833 60,1 23 9,5 5,6
1981 234185 47,1 29,5 21,4 2,0

đất đai và lao động rẻ để sản xuất và xuất khẩu nông sẩn từ nước ngoài có lợi hơn.
b. Kinh nghiệm về chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của
Indonesia.
Với hơn 200 triệu dân và 70% dân cư sống ở nông thôn, ngành nông
nghiệp Indonesia có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của đất nước. Vấn đề
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nnn1 của Indonesia quan tâm sâu sắc, trong đó chính
sách phát triển nông nghiệp tập trung sản xuất lương thực, thực phẩm vì mục tiêu
an toàn lương thực, thực phẩm và đề cao vai trò khu vực nông thôn.
Để thực hiện việc dễ dàng trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
chính phủ nước này đã tăng cường phát triển cơ sở hạ tầng như đường sá, công
trình thuỷ lợi, nghiên cứu ứng dụng các loại giống cao sản… đều được trợ giá ở
mức độ khác nhau. Đây chính là điều kiện nhằm khuyến khích phát triển cho nền
kinh tế nông nghiệp.
Cơ cấu và diện tích cây trồng liên tục được mở rộng, chú trọng phát triển
những cây công nghiệp có giá trị xuất khẩu ở các trang trại nhà nước và tư nhân.
Trong khu vực Đông Nam Á, Indonesia thực hiện khá tốt chính sách phát triển
kinh tế trang trại. Nhờ đó, Indonesia trở thành nước xuất khẩu ca cao, cà phê, chè
hàng đầu thế giới. Chính phủ nước này luôn cố gắng duy trì sự cần bằng tương đối
giữa nông nghiệp và những ngành công nghiệp, dịch vụ đưa khoa học kỹ thuật
vào sản xuất, thúc đẩy xuất khẩu, hỗ trợ giải quyết các yếu tố đầu vào, đầu ra cho
sản xuất nông nghiệp.
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
và nông thôn.
+Vị trí đại lý và khí hậu tự nhiên: ở những vị trí địa lý khác nhau và vùng
khí hậu khác , việc xác định cơ cấu kinh tế cũng khác nhau. Xác định cơ cấu kinh
tế nông nghiệp và nông thôn cũng có nghĩa là xác định cơ cấu kinh tế nông

Trang 12
nghiệp và nông thôn ở các vùng điều kiện địa lý và khí hậu tự nhiên khác nhau của
nước ta. Bởi vậy, cơ cấu kinh tế của một nước, một vùng bao giờ cũng dựa trên qu

Trang 13
cạnh tranh trên thị trường, những ngành có hiệu quả cao sẽ phát triển ngày càng
mạnh mẽ, các ngành kém hiệu quả sẽ bị thu hẹp lại, mà việc chủ động thúc đẩy sự
chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung theo mục tiêu và nhu cầu của sự phát triển,
gắn với dự báo tiến bộ khoa học công nghệ và thị trường là một trong những khâu
quyết định tạo ra tăng trưởng kinh tế, ở những nước có công nghệ tiên tiến thì luôn
tạo ra công nghệ mới, còn ở những nước đang phát triển thì tiếp nhận chuyển giao
công nghệ tiên tiến, từ đó hình thành cơ cấu mới trong công nghiệp và trong nền
kinh tế với các ngành nghề mới, sản phẩm mới, tạo ra sức cạnh tranh cao và tăng
trưởng nhanh.
Đất nước ta xuất phát và đi lên từ một nền nông nghiệp lạc hậu chính vì
vậy chúng ta phải tiến hành công nghiệp hoá - hiện đại hoá nông nghiệp và nông
thôn.
Trong nông nghiệp và nông thôn, đẩy mạnh công nghiệp hoá - hiện đại hoá
sẽ thúc đẩy nông nghiệp phát triển vượt bậc. Thực hiện công nghiệp hoá - hiện đại
hoá nông nghiệp, nông thôn sẽ thúc đẩy được nhiều vùng sản xuất hàng hoá tập
trung, chuyên canh như: lúa, cao su, cà phê, chè Hơn nữa, với ngành công nghiệp
chế biến nông, lâm thuỷ sản đã có những bước tăng trưởng đáng kể . Đó là điều
kiện nhằm thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn.

Trang 14
PHẦN II: THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
NÔNG NGHIỆP TỪ NĂM 1985 ĐẾN NAY.
I. GIAI ĐOẠN TỪ TRƯỚC NĂM 1985-1988
Nông nghiệp nước ta trong giai đoạn này gặp rất nhiều những rào cản, vượt
qua tình trạng khủng hoảng và suy thoái kéo dài trong những năm 1976-1980.
Đến tháng 1-1980 - Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương Đảng ra đời lúc
đó với nhân dân khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm người và hộ lao động (và đây
thực chất là khoán hộ). Chính vì vậy, đã được coi là chìa khoá vàng mở ra thời kỳ
mới của nông nghiệp và cả của kinh tế nông thôn. Những kết quả đạt được trong

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp mới bắt đầu được hình thành song vẫn
chưa được quan tâm đúng mức vì do điều kiện kinh tế nước ta tác động. Nông
nghiệp ta thời kỳ này vẫn độc canh là chủ yếu, cây trồng vật nuôi mới chỉ là "có
sự góp mặt" còn chủ yếu là lúa, hoa màu cho ta năng xuất thấp khiến nước ta vẫn
phải nk lương thực, thực phẩm.
II. GIAI ĐOAHN TỪ NĂM 1989 ĐẾN NĂM 1994
1. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
a. Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp
Trong giai đoạn này, Đảng ta luôn luôn khẳng định sự phát triển kinh tế
nước ta phải dựa trên cơ sở kết hợp một cách đúng đắn giữa công nghiệp, nông
nghiệp, dịch vụ.
Trong hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ, khoá VII họp tháng 12
năm 1993 đã xác định "từ nay đến cuối thập kỷ phải rất quan tâm đến công nghiệp,
hiện đại hoá nông nghiệp và kinh tế nông thôn, phát triển toàn diện nông, lâm ngư
nghiệp gắn với công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản, công nghiệp sản xuất
hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu…" (Đảng cộng sản Việt Nam, Văn kiệnn Hội
nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII, Tháng 1 năm 1994). Trước đó
nhà nước ta đã có chính sách ưu tiên , phát triển cho nông nghiệp và nông thôn,
tạo điều kiện cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Tháng 1 năm 1980, chỉ thị 100 của Ban chấp hành bí thư Trung ương Đảng
với nội dung khoán sản phẩm cây lúa đến nhóm và người lao động (thực chất là
khoán hộ). Đây là chìa khoá vàng mở ra thời kỳ mới của nông nghiệp và kinh tế
nông thôn cho nước ta.
Tiếp đến là Nghị quyết 10 của Bộ chính trị (5-4-1988) về đổi mới quản lý
nông nghiệp với nội dung cơ bản là khoán gọn đến hộ nông dân, thừa nhận hộ

Trang 16
nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ ở nông thôn. Đây là một mốc mới đánh dấu cho
sự mở đầu của thời kỳ đổi mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta.
Những chính sách của Đảng và nhà nước ở trên là một tiền đề mở ra cho

sở sản xuất giống và nuôi tôm xuất khẩu được phát triển , mở rộng các hình thức tổ
chức liên doanh với nước ngoài để nuôi tôm được triển khai ở ven biển Miền
trung. Việc đánh bắt hải sản đang được khôi phục và phát triển ở nhiều địa
phương, tầu thuyền, các phương tiện đánh bắt được tăng cường, nhờ vậy mà sản
lượng thuỷ hải sản tăng nhanh, sản phẩm xuất khẩu ngày càng lớn.
Biểu 3: Cơ cấu giá trị sản xuất nông, lâm, thuỷ sản cả nước 1991-1994 (%)
1991 1992 1993 1994
Nông nghiệp 84,5 84,7 84,5 85,3
Lâm nghiệp 7,7 6,8 7,0 6,5
Thuỷ sản 7,6 8,5 8,5 8,2

Việc giao đất, giao rừng được tiến hành rộng rãi tới người dân, việc bảo vệ,
khoanh nuôi và tái sinh rừng tốt hơn, diện tích rừng trồng tăng lên, kết hợp trồng
rừng với trồng cây công nghiệp, làm vườn và chăn nuôi, góp phần tạo ra sự bền
vững về sinh thái và xã hội để phát triển rừng. Ở nhiều vùng có dự án 327 đang
triển khai tốt bước đầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế lâm nghiệp miền núi. Nhà nước
chủ trương hạn chế khai thác xuất khẩu gỗ tròn, sản lượng gỗ và kim ngạch xuất
khẩu lâm sản có giảm xuống, những rừng đang từng bước được hồi phục.
Chính nhờ vậy, nông nghiệp đã đóng góp quan trọng việc tăng nguồn hàng
xuất khẩu, tăng thêm nguồn ngoại tệ cho đất nước. Với quan điểm xuất khẩu để
tăng trưởng kinh tế, kinh tế nước ta đã có những tiến bộ và chuyển biến tích cực.
Năm 1993 tăng gần 3 lần (1500 triệu rúp đola) đến năm 1994 tăng lên khoảng
1800 triệu đô la, chiếm 48,0% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
* Hai là: ở các vùng sinh thái của đất nước đã bước đầu khai thác lợi thế so
sánh để chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn theo hướng sản xuất
hàng hoá lớn có hiệu quả.
Trong những năm của giai đoạn này, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
diễn ra có giá trị kinh tế cao và xuất khẩu. Trước hết, phải khẳng định thành tựu to
lớn về sản xuất lương thực chủ yếu là cây lúa. Lúa gạo đã và đang hình thành 2
vùng sản xuất chuyên môn hoá của cả nước, những năm này tỷ trọng sản lượng

công nhân sử dụng. Các hộ nông dân đang trở thành lực lượng chủ yếu sản xuất
lương thực và phát triển đa dạng cây trồng, vật nuôi kết hợp khai thác nông lâm
thuỷ sản, mở rộng và phát triển các ngành nghề mới…

Trang 19
Bốn là: Cơ cấu kỹ thuật trong công nghiệp và nông thôn đã và đang được
chuyển dịch một cách mạnh mẽ và rộng khắp. Hệ thống kết cấu hạ tầng được cải
tạo, nâng cấp và xây dựng mới để đáp ứng được yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh
tế nông nghiệp. Những kỹ thuật truyền thống đang được thay thế bởi những kỹ
thuật tiến bộ, rõ nhất là giống cây trồng vật nuôi. Cùng với cuộc cách mạng sinh
học, vấn đề thuỷ lợi hoá, hoá học hoá, điện khí hoá từng bước được tăng cường
cho nông nghiệp và nông thôn, công nghệ sau thu hoạch nhất là công nghiệp chế
biến nông sản được coi trọng và phát triển

Biểu 4 cơ cấu tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (%) 1991-1994
1991 1992 1993 1994
Tỷ trọng nông nghiệp trong GDP (%) 40,5 33,9 28,9 28,7

Biểu 5: Sản lượng lương thực 1990-1994 (triệu tấn)
1990 1991 1993 1993 1994
Sản lượng lương thực quy ra thóc

b. Đánh giá chung về những hạn chế của chuyển dịch cơ cấu kinh doanh
nông nghiệp
Bên cạnh những tiến bộ và kết quả được ở trên, quá trình chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp vẫn còn những hạn chế và tồn tại.
+Một là: cơ cấu nông nghiệp nước ta vẫn chưa thoát khỏi tình trạng độc
canh, tự cung, tự túc và vẫn còn đang ở trình độ sản xuất hàng hoá nhỏ là chủ yếu.
Mặc dù có những tiến bộ trong chính sách phát triển nông nghiệp của Đảng
và Nhà nước trong nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng ở nước ta

+Bốn là: các thành phần kinh tế trong nông nghiệp và nông thôn tuy được
pháp luật thừa nhận song vẫn còn những ràng buộc .
+Năm là: Kinh tế hộ tự chủ đã có bước phát triển khá, song năng lực nội
sinh của kinh tế hộ còn yếu, chưa đủ sức tự vươn lên để phát triển kinh tế hàng hoá
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn.
+Sáu là: thị trường nông sản còn hạn hẹp , chưa được khai thông sức mua
của nông dân còn thấp.

Trang 21
2. Một số tác động của việc đổi mới trong chính sách chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng ngày càng tiến bộ là một xu thế tất
yếu, khách quan của các nền kinh tế quốc gia nói chung và nông nghiệp nói riêng.
Nền nông nghiệp nước ta phải nghiên cứu một hướng đi mới nhằm đưa
nông nghiệp phát triển , là điều kiện cho các ngành khác trong nền kinh tế quốc
dân cùng phát triển. Như vậy, trước tiên là ta phải thực hiện công nghiệp hoá hiện
đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Công nghiệp hoá nông nghiệp hướng vào việc
thực hiện thuỷ lợi hoá sớm, cơ giới hoá từng phần công việc, mở rộng điện khí hoá
phát triển công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản đồng thời tích cực xây dựng
kết cấu hạ tầng kinh tế và xã hội ở nông thôn.
Có thể nói, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông nghiệp ý
nghĩa quyết định đối với vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công
nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Đảng và nhà nước ta rất quan tâm tới công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông
nghiệp phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn với công nghiệp chế biến
nông, lâm, thuỷ sản, phát triển công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng và hàng xuất
khẩu.
Đây sẽ là một thời kỳ mở rộng thêm ra về chính sách phát triển cho nông
nghiệp. Nó sẽ tậo điều kiện cho nông nghiệp và nông thôn đi lên cùng với quá
trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp sẽ dễ dàng hơn, thuận lợi hơn, và nó

kinh tế rừng, khai thác có hiệu quả tiềm năng của nền nông nghiệp sinh thái, tăng
nhanh sản lượng hàng hoá gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, mở rộng thị
trường nông thôn…
Trong những năm vừa qua, nông nghiệp nước ta dưới sự chỉ đạo của Đảng
và nhà nước đã đạt được những thành tựu đáng kể. Vấn đề chuyển dịch cơ cấu
kinh tế nông nghiệp được phổ biến và là chính sách nhằm phát triển nền nông
nghiệp nhà nước.
*Một là: chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nhằm mục đích phát triển
hàng hoá, nâng cao năng suất nông sản hàng hoá.
Thời kỳ này đã thực hiên chính sách chuyển dịch nông nghiệp lạc hậu, nhỏ,
nặng về tự cung, tự cấp sang nền nông nghiệp lớn sản xuất hàng hoá, là xu hướng
phát triển tất yếu của nước ta nói riêng, nền kinh tế thế giới nói chung vì vai trò
của nông nghiệp trong sự phát triển kinh tế luôn được đánh giá hết sức quan trọng.

Trang 23
Việc xác định cơ cấu kinh tế nông nghiệp phù hợp với nền kinh tế hiện đại trong
giai đoạn hiện nay - nền kinh tế thị trường là một sự cần thiết tất yếu.
Xét về phương diện tổng thể, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp là sự
đa dạng hoá hoạt động nông nghiệp sao hiệu quả kinh tế cao nhất. Chuyển dịch cơ
cấu kinh tế nông nghiệp phải nhằm phát triển hàng hoá, nâng cao tỷ suất nông sản
hàng hoá ở nước ta trong giai đoạn hiện nay hay cũng có nghĩa là vận hành nông
nghiệp sao cho đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao, tạo điều kiện, khả năng phát triển
nhanh cho bản thân nông nghiệp nói riêng và cho ngành kinh tế đất nước nói
chung .
Biểu 6: Sản lượng lương thực 1995-2000
1995 1996 1997 1998 1999 ước tính năm 2000
Sản lượng lương
thực (triệu tấn)
27,5 29,5 30,6 31,8 34,3 Trên 35,5 tấn
Sản lượng lương thực nước ta những năm vừa qua, mỗi năm tăng 5% (hay

1996 5,6 6,9 5,3
1997 7,0 7,0 7,9
1998 5,7 6,0 4,8
1999 7,3 7,6 7,0
2000 5,4 5,3 6,4
2001 2,6 2,3 4,2
2002 5,2 4,3 9,9

* Hai là: chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nước ta trrong giai đoạn này đã
khai thác lợi thế so sánh và nâng cao hiệu quả kinh tế.
Trong nền kinh tế nói chung và nông nghiệp nói riêng ở mỗi quốc gai đều
có những điểm mạnh và điểm yếu. Như mặt hàng nào đó của người khai thác
không thể có được về khả năng vượt trội như chất lượng, mẫu mã, độ bền
Nông nghiệp nước ta có ưu thế hơn là do tự nhiên ưu đại mang lại. Trong
đó, ngành nông sản nước ta đã và đang khai thác lợi thế để xuất khẩu ra thế giới
nhằm thu lợi nhuận cho đất nước.
* Ba là: chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp 1995-1999 đã gắn liền với quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mà trước hết là công nghiệp hoá ,
hiện đại hoá nông nghiệp nước ta.

Trang 25
Đất nước ta với một nền nông nghiệp lạc hậu, với dân số nông thôn đến
năm 2000 tăng đến 62 triệu người và có thể ổn định mức này tới năm 2010. Quá
trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá kinh tế nông nghiệp, nông thôn Việt Nam gắn
liền với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế có cơ cấu phù hợp, năng động giữa
trồng trọt với chăn nuôi, giữa nông nghiệp với lâm nghiệp, thuỷ hải sản, chế biến,
du lịch nông thôn và dịch vụ.
Qua những quan điểm trên, kinh nghiệm cho thấy rằng nếu không tạo ra
được một cơ cấu thích hợp, năng động giữa nông lâm thuỷ sản, chế biến và dịch vụ
với công nghiệp thích ứng và cơ chế thị trường thì nền kinh tế đất nước không thể


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status