LUẬN VĂN: Cơ sở lý luận về kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Cơ sở lý luận về kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa
Lời nói đầu Thời gian gần đây, có những tài liệu do một số người đưa ra đã chĩa mũi nhọn
đả kích vào chủ trương quan trọng của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình đổi mới
toàn diện đất nước: "Chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao

1. Thế nào là kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
a. Thị trường.
Thị trường xuất hiện đồng thời với sự ra đời và phát triển của sản xuất hàng
hóa và được hình thành trong lĩnh vực lưu thông. Người có hàng hóa dịch vụ đem ra
trao đổi gọi là người bán, người có nhu cầu và có khả năng thanh toán là người
mua. Trong quá trình trao đổi, giữa người mua và người bán đã hình thành những
mối quan hệ, vì vậy thị trường là nơi người mua và người bán gặp nhau, hình thành
giá cả. Đứng trên phạm vi toàn xã hội, thị trường là một mạng lưới những người
mua, người bán gặp nhau, nơi cung cầu gặp gỡ và cân bằng.
b. Kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường thể hiện trình độ cao của kinh tế hàng hóa, quan hệ hàng hóa-
tiền tệ trở nên phổ biến.
Trong lịch sử nhân loại đã diễn ra các hình thức kinh tế khác nhau:
Kinh tế tự nhiên (kinh tế hái lượm): con người lệ thuộc hoàn toàn vào thiên
nhiên với cuộc sống hoang dã.
Kinh tế tự cung tự cấp: sản xuất tự thỏa mãn trong các hộ gia đình, chua có sự
phân công lao động, chuyên môn hóa, tự sản, tự tiêu, năng suất, chất lượng hiệu quả
thấp.
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa, sản suất để trao đổi, gắn liền với sự phân
công lao động và trình độ chuyên môn hóa. Không gian thị trường rộng mở cho sự lựa
chọn, tư duy giá trị trở nên phổ biến. Trong các hình thức kinh tế, kinh tế thị trường là
hình thức kinh tế văn minh, là nền kinh tế có động lực, có sự cạnh tranh, sản suất gắn
với nhu cầu, nền kinh tế mở.
Khi nói đến kinh tế thị trường đó là nên kinh tế vận động, phát triển gắn liền với hệ
thống đồng bộ các thị trường hàng hóa dịch vụ, thị trường tiền tệ và thị trường vốn, thị
trường lao động và thị trường tài nguyên. Kinh tế thị trường đầy đủ gắn liền với một hệ
thống luật lệ, thể chế, hệ thống các đạo luật, các quy phậm là sương sốngcủa nền kinh
tế. Về thực chất là những khuôn khổ pháp lý đảm bảo cho nền kinh tế năng động có trật

tự.


phát triển kinh tế.
- Cơ sở chính trị của nó là quyền lực của giai cấp công nhân, là nền dân chủ
của công đảo nhân dân lao động, do giai cấp công nhân lãnh đạo.
- Về lực lượng sản xuất, đó là nền sản xuất phát triển cao với trình độ khoa học
kỹ thuật hiện đại trên cơ sở công nghiệp hóa và hiện đại hóa, bảo đảm cân đói cơ
cấu ngành và phân bố hợp lý các vùng lãnh thổ trong cả nước.
- Về quan hệ sản xuất đó là quan hệ sở hữu với nhiều loại hình quá độ (giữa
nhà nước với tập thể, với tư nhân và ngoài nước); là quan hệ phân phối vừa theo kết
quả lao động, làm nhiều hưởng nhiều, vừa theo vốn đóng góp nhiều hay ít
Mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là nâng cao mức sống, xóa bỏ bóc lột, không để
phân hóa giàu nghèo, đảm bảo cuộc sống ấm no và hạnh phúc cho mọi người trên
cơ sở phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất. Về mặt xã hội, tạo lập một chuẩn mực
giá trị xã hội và một trật tự xã hội trên cơ sở phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, tạo
điều kiện cho con người phát triển toàn diện, xây dựng nền văn minh đại chúng,
một xã hội vừa phồn vinh về kinh tế, vừa ổn định về chính trị xã hội.
Thực hiện định định hướng xã hội chủ nghĩa là một quá trình hình thành từng
bước những tiền đề vật chất và tinh thần, những điều kiện khách quan và chủ quan
để quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội. ở những nước mà cách mạng giải phóng dân tộc
do giai cấp công nhân lãnh đạo, sau khi dành được chính quyền muốn giữ vững
thành quả cách mạng và bảo vệ lợi ích cho người lao động thì không thể đi con
đường nào khác ngoài con đường xã hội chủ nghĩa. Đó chính là lý do vì sao chúng
ta phải thực hiện định hướng xã hội chủ nghĩa, đi theo con đường Bác Hồ đã chọn.
Vậy kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là nền kinh tế hàng
hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hôị chủ nghĩa. Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta
trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
2. Các thành phần kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đảng và Nhà nước ta chủ trương thực hiện nhát quán chính sách phát triển nền
kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo pháp luật đều là bộ

nhau, với kinh tế tập thể và kinh tế nhà nước. Xây dựng quan hệ tốt giữa chủ doanh
nghiệp và người lao động.
+ Kinh tế tư bản nhà nước: Phát triển đa dạng dưới các hình thức liên doanh,
liên kết giữa kinh tế nhà nước với kinh tế tư bản tư nhân trong nước và ngoài nước,

mang lại lợi ích thiết thực cho các bên đầu tư kinh doanh.
+ Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài: Đang phát triển thuận lợi, mục tiêu hướng
vào xuất khẩu. Tạo điều kiện để xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội gắn với thu
hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều việc làm cho nguồn lao động dồi dào trong
nước. Ngoài ra, nhà nước ta đang có những chính sách thích hợp, tạo điều kiện pháp lý
thuận lợi để thu hút mạnh vốn đầu tư nước ngoài.
Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta đang chú trọng phát triển các hình thức kinh
doanh đan xen, hỗn hợp nhiều hình thức sở hữu, giữ các thành phần kinh tế với
nhau giữa trong nước và ngoài nước. Phát triển mạnh hình thức tổ chức kinh tế cổ
phần nhằm huy động và sử dụng rộng rãi vốn đầu tư xã hội. Nhân rộng mô hình hợp
tác, liên kết công nghiệp và nông nghiệp, doanh nghiệp nhà nước và kinh tế hộ nông
thôn. Phát triển các loại hình trang trại với quy mô phù hợp trên từng địa bàn.
3. Những đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường
a.Tự do, tự nguyện đề cao vai trò của người tiêu dùng và người sản xuất
Trong nền kinh tế thị trường, ba vấn đề cơ bản do thị trường quyết định. Sản
xuất cái gì,sản xuất nhu thế nào do lợi nhuận mách bảo, sản xuất cho ai do
thu nhập quyết định. Nguồn lực của xã hội được luân chuyển theo chiều
ngang, không gian thị trường được mở rộng cho sự lựa chọn. Sự vận động
của cung cầu và cạnh tranh đã làm bộc lộ thực chất nguồn lực của xã hội.
Nền kinh tế vận hành một cách khách quan. Nguồn lực xã hội được luân
chuyển từ nơi thừa sang nơi thiếu, từ nơi có hiệu quả thấp sang nơi có hiệu
quả cao. Tuy nhiên để hạn chế mặt trái của kinh tế thị trường, kinh tế thị
trường đầy đủ bao giờ cũng gắn với vai trò quản lý nhà nước nhằm hạn chế
tính tự phát của nó.
b.Kinh tế thị trường gắn liền với sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế, nhiều

thể thống nhất thông suốt, hòa nhập thị trường thế giới. Nguồn lực xã hội
không chỉ ở trong nước mà còn cả quốc tế. Trong đIều kiện của xu hướng
quốc tế toàn cầu hóa, mỗi quốc gia có thể tìm thấy lợi thế của mình trong
quan hệ đa phương.
Đối với nước kém và đang phát triển, mở cửa là xu hướng tất yếu để có
thêm nguồn lực xã hội cho phát triển: vốn, công nghệ, thị trường, quản lý,
đồng thời đặt ra những yêu cầu mới cao hơn, có cả cơ hội và thách thức.
Điều quan trọng là phảI có chiến lược biết chuẩn bị về nội lực để tiếp thu

một cách có hiệu quả các nguồn lực từ bên ngoài.
d. Kinh tế thị trường gắn liền với những khuyết tật vốn có của nó.
Với đặc trưng cơ bản là dân chủ hóa, tự do hóa cá nhân, coi trọng động lực
lợi ích do đó dễ cường điệu hóa lợi ích cá biệt, phá vỡ những cân đối chung,
những cân đối tổng thể của nền kinh tế,coi trọng lợi ích kinh tế, dễ bỏ qua
những vấn đề xã hội, môi trường. Thị trường là cạnh tránh sẽ có kẻ thắng
người thua, nhưng thị trường vô tư không bảo vệ những kẻ chiến bại. Cạnh
tranh sớm muộn cũng dẫn đến độc quyền với những tác hại khôn lường: bóp
méo sự vận động của cung cầu, giá cả. Chuyển sang kinh tế thị trường gắn
liền với những thử thách về đạo đức nhân cách, những yếu tố truyền thống
văn hóa.

4. Sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa ở nước ta.
Về phương diện kinh tế, có thể khái quát rằng, lịch sử phát triển của sản xuất
và đời sống xã hội của nhân loại đã và đang trải qua hai kiểu tổ chức kinh tế thích
ứng với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội, hai
thời đại kinh tế khác hẳn nhau về chất. Đó là: thời đại kinh tế tự nhiên, tự cung - tự
cấp; và thời đại kinh tế hàng hóa, mà giai đoạn cao của nó được gọi là kinh tế thị
trường.
Kinh tế tự nhiên là kiểu tổ chức kinh tế - xã hội đầu tiên của nhân loại. Đó là

đoạn này là nhà nước can thiệp vào kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu kinh tế với
nước ngoài. Sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường thông qua việc xây
dựng các hình thức sở hữu nhà nước, các chương trình khuyến kích đầu tư và tiêu
dùng, cùng với việc sử dụng các công cụ kinh tế như tài chính, tín dụng, tiền tệ để
điều tiết nền kinh tế ở tầm vĩ mô. Sự phối hợp giữa chính phủ và thị trường trong một
nền kinh tế hỗn hợp nhằm bảo đảm sự phát triển có hiệu quả của những nước có mức
tăng trưởng kinh tế nhanh.
Mặc dù sự hình thành và phát triển của kinh tế hàng hóa (sản xuất hàng hóa
nhỏ) tự phát sẽ "hằng ngày hằng giờ đẻ ra chủ nghĩa tư bản" (nói theo cách nói của
V.I.Lê - nin) và sự phát triển của kinh tế thị trường trong lịch sử diễn ra đồng thời
với sự hình thành và phát triển của chủ nghĩa tư bản, nhưng tuyệt nhiên, kinh tế thị
trường không phải là một chế độ kinh tế - xã hội. Kinh tế thị trường là hình thức và

phương pháp vận hành kinh tế. Các quy luật của thị trường chi phối việc phân bổ
các tài nguyên, quy định sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào (bao nhiêu) và sản
xuất cho ai. Đây là một kiểu tổ chức kinh tế hình thành và phát triển do những đòi
hỏi khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất. Nó là phương thức sinh hoạt
kinh tế của sự phát triển. Sự cạnh tranh trong cơ chế thị trường theo quy luật giá trị
đòi hỏi các chủ thể sản xuất - kinh doanh không ngừng đổi mới, ứng dụng tiến bộ
khoa học - kỹ thuật, nâng cao năng suất lao động, tiết kiệm chi phí, mở rộng quy mô
sản xuất - kinh doanh. Quá trình hình thành và phát triển kinh tế thị trường là quá
trình mở rộng phân công lao động xã hội, phát triển khoa học - công nghệ mới và
ứng dụng chúng vào thực tiễn sản xuất - kinh doanh. Sự phát triển của kinh tế thị
trường gắn liền với quá trình phát triển của nền văn minh nhân loại, của khoa học -
kỹ thuật, của lực lượng sản xuất. Nhiều học giả đã khái quát rằng: Giai đoạn kinh tế
hàng hóa giản đơn gắn liền với nền văn minh nông nghiệp và kỹ thuật thủ công; giai
đoạn kinh tế thị trường tự do gắn liền với nền văn minh công nghiệp và kỹ thuật cơ
khí; giai đoạn kinh tế thị trường hiện đại gắn liền với nền văn minh trí tuệ và kỹ
thuật vi điện tử - tin học
Cho đến cuối những năm 80, về cơ bản, trong nền kinh tế nước ta, sản xuất

phát triển của Việt Nam trong hiện tại và tương lai phải là sự phát triển vì sự giàu
có, phồn vinh và hạnh phúc của nhân dân lao động, vì sự hùng mạnh và giàu có của
cả xã hội, của toàn dân tộc, là sự phát triển mang tính chất xã hội chủ nghĩa, là sự
phát triển hiện đại. Nghĩa là, chúng ta phải phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Điều đó không chỉ đơn thuần là sự phát triển kinh tế nhằm
đặt được mục tiêu dân giàu, nước mạnh, mà còn bao hàm vấn đề quan trọng mang
tính hiện đại là thiết lập một kiểu tổ chức xã hội, một trật tự xã hội với nội dung
công bằng, văn minh. Nhà nước xã hội chủ nghĩa "của dân, do dân và vì dân" dưới
sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện quan trọng bảo đảm thực
hiện sự định hướng đó.
b. Các chức năng của nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Nhìn chung, tư tưởng về sự can thiệp của nhà nước vào nền kinh tế thị trường
rất đa dạng. Tư tưởng về vai trò kinh tế của nhà nước được vận dụng ở các nước
cũng rất khác nhau và thay đổi qua các thời kỳ. Song, điều khẳng định là: sự can
thiệp, sự quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị trường là thực hiện chức năng
quản lý nhà nước về kinh tế - một đặc trưng của kinh tế thị trường hiện đại (kể cả

trong các nước TBCN). Người ta đã nói đến các chức năng của nhà nước trong nền
kinh tế thị trường (theo lịch sử phát triển).
Những người theo phái trọng thương (thế kỷ 15 - 17) đã chủ trương nhà
nước phải can thiệp vào kinh tế, chủ yếu là các hoạt động ngoạit hương, thực
hiện chính sách thuế quan bảo hộ, nhằm giúp cho nền kinh tế dân tộc phát triển.
Vào những năm 30 của thế kỷ 20, vấn đề nhà nước can thiệp vào kinh tế được
đặt ra trong điều kiện hoàn toàn mới. Lúc này nền kinh tế TBCN thế giới đang lầm
vào khủng hoảng thừa, do đó đòi hỏi nhà nước tư sản phải có phương pháp mới can
thiệp vào toàn bộ quá trình tái sản xuất. Theo J.M. Kên, nhà nước phải duy trì mức
cầu về đầu tư, mở ra các công trình đầu tư lớn; từ đó, theo nguyên lý "số nhân" mà
kích thích tiêu dùng xã hội, nâng cao cầu có hiệu quả. Nhà nước sử dụng tài chính,
tín dụng, lưu thông tiền tệ làm công cụ chủ yếu để điều tiết kinh tế thị trường
TBCN.

nghèo.
- Cứu trợ xã hội
Các
Cung c
ấp các
Ki
ểm soát
đ
ộc
Kh
ắc phục thông chức
năng
trung
gian
y
ếu tố ngoại
sinh:
- Giáo dục phổ
thông.
- Bảo vệ môi
trường.
quy
ền:

- Quy định quyền
sử dụng.
- Chính sách

phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, nói gọn là nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, theo tôi hiểu, thực chất là kiểu
tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị
trường, vừa dựa trên những nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó,
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có hai nhóm nhân tố cơ bản tồn tại
trong nhau, kết hợp với nhau và bổ sung cho nhau. Đó là nhóm nhân tố của kinh tế
thị trường đóng vai trò như là "động lực" thúc đẩy sản xuất xã hội phát triển nhanh
và nhóm nhân tố của xã hội đang định hướng xã hội chủ nghĩa, đóng vai trò hướng
dẫn, chỉ định sự vận động của nền kinh tế theo những mục tiêu đã được xác định.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế "mở". Độ
"mở" của nền kinh tế tùy thuộc vào:
Thứ nhất: Bối cảnh quốc tế, khu vực và năng lực nội sinh của nền kinh tế

trong quá trình vươn ra tiếp cận với nền kinh tế thế giới;
Thứ hai: Năng lực tổ chức quản lý, điều hành của Nhà nước xã hội chủ nghĩa
và khả năng "nội sinh hóa" có hiệu quả các yếu tố "ngoại sinh" (vốn, công nghệ,
kinh nghiệm quản lý, tri thức kinh doanh ) du nhập vào nước ta.
Như vậy, sự hiện diện của nhà nước xã hội chủ nghĩa trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa vừa với tư cách là "bộ phận cấu thành trọng
yếu" (kinh tế nhà nước), vừa với tư cách là chủ thể tổ chức xây dựng quan hệ quản
lý vĩ mô nền kinh tế thị trường.
Quản lý nhà nước đối với nền kinh tế thị trường là thực hiện chức năng quản
lý nhà nước về kinh tế - một đặc trưng của kinh tế thị trường hiện đại. Đối với kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chức năng đó được thực hiện bởi nhà
nước của dân, do dân và vì dân, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản.
Sự điều tiết vĩ mô của nhà nước nhằm phát huy tác dụng tích cực và ngăn chặn
những tác động tiêu cực của thị trường; đảm bảo tính hướng dẫn, điều khiển nền
kinh tế hướng tới chủ nghĩa xã hội. Sự điều tiết của nhà nước nền kinh tế thị trường

của nhân dân lao động, của toàn thể nhân dân".
Có một số người cho rằng, khi chuyển sang kinh tế thị trường thì nhà nước
đừng có can thiệp vào kinh tế và kế hoạch hóa vĩ mô của nhà nước cũng không còn
cần thiết nữa. Quan niệm đó là giản đơn, hoàn toàn sai lầm và không có căn cứ lý
luận và thực tiễn. Mọi người đều thấy rằng, trong tất cả các mô hình kinh tế được
đúc kết đến nay trên thế giới đều có cả hai dạng điều tiết kinh tế.
Một là: Điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch hóa và các biện pháp hành chính
Hai là: Điều tiết gián tiếp thông qua thị trường, vận dụng cơ chế thị trường để
tác động đến các hoạt động của các doanh nghiệp, dùng các đòn bẩy kinh tế để
khuyến khích hoặc gây áp lực buộc các doanh nghiệp phát triển trong khuôn khổ
theo hướng kế hoạch do nhà nước đề ra. Hai dạng điều tiết kinh tế này chỉ khác
nhau ở mức độ, liều lượng và hình thức trong cơ chế chung. Sở dĩ như vậy là vì, với
tư cách là công cụ điều tiết kinh tế vĩ mô, là biện pháp, thủ đoạn kinh tế, cả kế
hoạch hóa và thị trường đều có những ưu thế và khuyết tật của nó.
Thực chất của vấn đề kế hoạch hóa và thị trường - xét từ góc độ nhà nước - là
sự kết hợp giữa điều khiển trực tiếp bằng kế hoạch và điều khiển gián tiếp thông
qua cơ chế thị trường đối với hoạt động trên thị trường, cũng như đối với các hoạt

động kinh tế trong xã hội. Thực tế ngày càng chứng tỏ rằng, sẽ hợp lý hơn và hiêu
quả hơn nếu thông qua kế hoạch hóa của Nhà nước điều tiết thị trường để thị trường
điều tiết sản xuất và điều chỉnh hành vi của doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa, quản lý nền kinh tế theo nguyên tắc kết hợp kế
hoạch với thị trường sẽ càng có thêm điều kiện giải phóng lực lượng sản xuất, đẩy
nhanh sự phát triển kinh tế xã hội.
Qua 14 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, Nhà nước ta đã đóng vai
trò rất quan trọng trong việc tạo các điều kiện để chuyển đổi nền kinh tế sang phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quản lý nhà nước nền xã hội
chủ nghĩa định hướng xã hội chủ nghĩa cũng đã đem lại nhiều kết quả. Song, nhìn
chung, ta còn thiếu tri thức và kinh nghiệm quản lý nền kinh tế thị trường, quản lý
nhà nước về kinh tế, xã hội còn nhiều yếu kém.

chấp hành pháp luật.
Phát triển doanh nghiệp nhà nước trong những ngành sản xuất và dịch vụ quan
trọng, xây dựng các Tổng công ty nhà nước đủ mạnh để làm nòng cốt trong những
tập đoàn kinh tế lớn, có năng lực cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế
như dầu khí, điện, than, hàng không, đường sắt, vận tải viễn dương, viễn thông, cơ
khí, luyện kim, hóa chất, vật liệu xây dựng, xuất nhập khẩu, ngân hàng, bảo hiểm,
kiểm toán
Đổi mới cơ chế quản lý, phân biệt quyền của chủ sở hữu và quyền kinh doanh
của doanh nghiệp. Chuyển các doanh nghiệp nhà nước kinh doanh sang hoạt động
theo cơ chế công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần. Bảo đảm quyền tự
chủ và tự chịu trách nhiệm đầy đủ trong sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp,
cạnh tranh bình đẳng trước pháp luật, xóa bỏ bao cấp của Nhà nước đối với doanh
nghiệp.
Thực hiện chủ trường cổ phần hóa những doanh nghiệp mà Nhà nước không cần
nắm giữ 100% vốn để huy động vốn, tạo động lực và cơ chế quản lý năng động thúc
đẩy doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả. Ưu tiên cho người lao động được mua cổ phần
và từng bước mở rộng bán cổ phần cho các nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Thực
hiện việc giao, bán, khoán, cho thuê các doanh nghiệp loại nhỏ mà Nhà nước không
cần nắm giữ. Sáp nhập, giải thể, phá sản những doanh nghiệp không hiệu quả và không
thực hiện được các biện pháp trên.
Phấn đấu trong những năm tới cơ bản hoàn thành việc sắp xếp, đổi mới và

nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước, củng cố và hiện đại hóa
một bước các Tổng công ty nhà nước.
Phát triển kinh tế tập thể với các hình thức hợp tác đa dạng. Chuyển đổi hợp
tác xã cũ theo Luật hợp tác xã đạt hiệu quả thiết thực. Phát triển hợp tác xã kinh
doanh tổng hợp đa ngành hoặc chuyên ngành để sản xuất hoặc kinh doanh dịch vụ,
tạo điều kiện mở rộng quy mô sản xuất, kinh doanh phù hợp với quá trình công
nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong nông nghiệp, trên cơ sở phát huy tính tự chủ của hộ
gia đình, chú trọng phát triển các hình thức hợp tác và hợp tác xã cung cấp dịch vụ,

lao động; người lao động được tìm và tạo việc làm ở mọi nơi trong nước, đẩy mạnh
xuất khẩu lao động với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Phát triển các loại
thị trường dịch vụ khoa học, công nghệ, sản phẩm trí tuệ, dịch vụ bảo hiểm, các
dịch vụ tư vấn và phục vụ sản xuất kinh doanh
Nhà nước tôn trọng nguyên tắc và cơ chế hoạt động khách quan của thị
trường, tạo điều kiện phát huy mặt tích cực, đồng thời khắc phục, hạn chế những tác
động tiêu cực của thị trường. Nhà nước tập trung làm tốt chức năng hoạch định
chiến lược, quy hoạch và kế hoạch định hướng phát triển, thực hiện những dự án
trọng điểm bằng nguồn lực tập trung, đổi mới thể chế quản lý, cải thiện môi trường
đầu tư, kinh doanh; điều tiết thu nhập hợp lý; xây dựng pháp luật và kiểm tra giám
sát việc thực hiện; giảm mạnh sự can thiệp trực tiếp bằng biện pháp hành chính vào
hoạt động sản xuất, kinh doanh. Đơn giản hóa các thủ tục hành chính; công khai hóa
và thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong quan
hệ với doanh nghiệp và nhân dân; kiên quyết xóa bỏ những quy định và thủ tục
mang nặng tính hành chính quan liêu, bao cấp, kìm hãm sự phát triển của lực lượng
sản xuất, gây phiền hà, sách nhiễu cho doanh nghiệp và nhân dân.
c. Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.
Tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa
dạng hóa, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo lộ trình phù hợp với điều kiện của
nước ta và bảo đảm thực hiện những cam kết trong quan hệ song phương và đa
phương như: AFTA, APEC, Hiệp định thương mại Việt - Mỹ, tiến tới gia nhập
WTO
Nhà nước có chính sách khuyến khích mạnh mẽ mọi thành phần kinh tế tham
gia sản xuất, kinh doanh xuất nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ. Nâng cao năng lực
cạnh tranh, phát triển mạnh những sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có khả năng cạnh

tranh trên thị trường quốc tế, giảm mạnh xuất khẩu sản phẩm thô và sơ chế, tăng
nhanh tỷ trọng sản phẩm chế biến và tỷ lệ nội địa hóa trong sản phẩm, nâng dần tỷ
trọng sản phẩm có hàm lượng trí tuệ, hàm lượng công nghệ cao. Xây dựng các quỹ
hỗ trợ xuất khẩu, nhất là đối với hàng nông sản. Khuyến khích sử dụng thiết bị,

tế, các tổ chức phi Chính phủ. Đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn, gắn chặt việc sử dụng vốn vay với trách nhiệm trả nợ.
II. Thực trạng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
1. Những thành tựu đạt được trong công cuộc xây dựng kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa.
Đường lối phát triển kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã
được vạch ra tại Đại hội VI của Đảng và tiếp tục được Đại hội VII của Đảng khẳng
định. Sau nhiều năm kiên trì thực hiện đường lối do Đảng vạch ra, mặc dù có nhiều
khó khăn thách thức nhưng ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính - kinh tế khu
vực và bị thiệt hại lớn do thiên tai liên tiếp xảy ra trên nhiều vùng nhưng nhìn chung
đã đạt được những thành tựu to lớn và rất quan trọng.
1. Sau mấy năm đầu thực hiện chiến lược, đất nước đã ra khỏi khủng hoảng
kinh tế - xã hội. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) sau 10 năm tăng hơn gấp
đôi (2,07 lần). Tích lũy nội bộ của nền kinh tế từ mức không đáng kể, đến năm
2000 đã đạt 27% GDP. Từ tình trạng hàng hóa khan hiếm nghiêm trọng, nay
sản xuất đã đáp ứng được các nhu cầu thiết yếu của nhân dân và nền kinh tế,
tăng xuất khẩu và có dự trữ. Cơ cấu kinh tế có bước chuyển dịch tích cực.
Trong GDP, tỷ trọng nông nghiệp từ 38,7% giảm xuống 24,3% công nghiệp
và xây dựng từ 22,7% tăng lên 36,6%, dịch vụ từ 38,6% tăng lên 39,1%.
- Nền kinh tế bắt đầu có tích lũy. Đầu tư cơ bản trong 5 năm là 18 tỷ
USD, trong đó phần đầu tư của Nhà nước là 43%, đầu tư trực tiếp của
nước ngoàI chiếm 27%.
- Lạm phát được kiềm chế (tuy có những yếu tố chua vững chắc) năm
1990 là 107,5%; năm 1991 xuống 67,5%; năm 1992: 17,7%; năm 1993:
5,2%; năm 1994: 14,4%; năm 1995 là 12,7%
2. Quan hệ sản xuất đã có bước đổi mới phù hợp với trình độ phát triển của lực
lượng sản xuất và thúc đẩy sự hình thành nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, doanh nghiệp nhà
nước được sắp xếp lại một bước, thích nghi dần với cơ chế, hình thành những Tổng


nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đứng

trước những khó khăn, thách thức, những biến động phức tạp của tình hình thế giới
và khu vực, Đảng ta luôn kiên định xây dựng và thực hiện các chủ trươg, chính sách
đổi mới đúng đắn, phát huy những truyền thống quý báu của dân tộc và những
thành tựu cách mạng đã đạt được, giữ vững độc lập dân tộc, vững bước đi lên chủ
nghĩa xã hội.
Hai là: Đổi mới phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với
thực tiễn, luôn luôn sáng tạo. Tiến hành đổi mới xuất phát từ thực tiễn và cuộc sống
của xã hội Việt Nam, tham khảo kinh nghiệm tốt của thế giới, không sao chép bất
cứ một mô hình có sẵn nào, đổi mới toàn diện, đồng bộ và triệt để với những bước
đi, hình thức và cách làm phù hợp. Có những điều chỉnh, bổ sung và phát triển cần
thiết về chủ trương, phương pháp, biện pháp, tìm và lựa chọn những giải pháp mới,
linh hoạt, sáng tạo, nhạy bén nắm bắt cái mới, tận dụng thời cơ, khắc phục sự trì trệ,
làm chuyển biến tình hình.
Nhân dân tích cực thực hiện đổi mới trên mọi lĩnh vực, tạo ra nhiều điển hình tiên
tiến, kinh nghiệm hay và nhân tố mới, từ đó Đảng có cơ sở để tổng kết thực tiễn và phát
triển lý luận, đẩy mạnh công cuộc đổi mới. Đổi mới là sự nghiệp của nhân dân, do nhân
dân và vì nhân dân. Để công cuộc đổi mới thành công phải vận động được mọi tầng lớp
nhân dân và các thành phần kinh tế tham gia.
Ba là: Đổi mới phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại. Công
cuộc đổi mới diễn ra vào lúc cách mạng khoa học - công nghệ trên thế giới phát
triển như vũ bão, toàn cầu hóa kinh tế ảnh hưởng đến cuộc sống của các dân tộc,
cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến
bộ xã hội diễn ra sôi nổi. Tiến hành đổi mới, nhân dân ta ra sức tranh thủ tối đa cơ
hội tốt do những xu thế nói trên tạo ra.
Bốn là: Đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự
nghiệp đổi mới. Đảng khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới, tổng kết thực tiễn
và nghiên cứu lý luận, hoàn thiện đường lối đổi mới, thường xuyên xây dựng, chỉnh
đốn Đảng, tạo ra sự thống nhất về quan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng,

vậy. Ta hãy xét đến nguyên nhân dẫn tới sự yếu kém ấy.
* Nguyên nhân dẫn đến những yếu kém của nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa.
Những mặt yếu kém, bất cập nói trên có phần do điều kiện khách quan, nhưng
chủ yếu là do những khuyết điểm trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, nổi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status