LUẬN VĂN: Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tồn tại nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên CNXH ở Việt Nam - Pdf 12


LUẬN VĂN: Những luận điểm của Chủ nghĩa Mac-Lênin
và quan điểm của Đảng ta về vấn đề tồn tại
nền kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ
quá độ lên CNXH ở Việt Nam

A_ Đặt vấn đề

từng thành phần kinh tế cụ thể.
Vì các thành phần kinh tế không tồn tại biệt lập với nhau mà có liên hệ
chặt chẽ , tác động lẫn nhau nên cơ cấu kinh tế thống nhất phải bao gồm nhiều
thành kinh tế.
1.1.2.Sự tồn tại khách quan của kinh tế nhiều thành phần trong thời
kỳ quá độ.
Thời kỳ quá độ là một thời kỳ lịch sử đặc biệt , trong đó kết cấu kinh tế
xã hội vừa bao hàm những yếu tố của xã hội cũ đang suy thoái dần , vừa bao
hàm những yếu tố của xã hội mới ra đời , đang lớn lên từng bước nhưng chưa
giành toàn thắng.Điều đó có nghĩa là nó mang tính chất quá độ.V.I.Leenin
viết:”danh từ quá độ có nghĩa là gì?Vận dụng vào kinh tế , có phải nó có nghĩa
là trong chế độ hiện nay có những thành phần , những bộ phận, những mảnh
của chủ nghĩa tư bản và chủ nghĩa xã hội không?Bất cứ ai cũng đều thừa nhận
là có”.
Leenin cũng chỉ ra rằng , ở các nước đi lên chủ nghĩa xã hội phổ biến có
ba thành phần kinh tế cơ bản:kinh tế xã hội chủ nghĩa , kinh tế tư bản chủ nghĩa
và kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ.Song thành phần kinh tế khác phương thức
sản xuất ở chỗ khi nó chưa đóng vai trò thống trị nhưng cũng không ở vào vị trí
chi phối , nó tồn tại như một bộ phận tương đối độc lập , đan xen với các bộ
phận khác của kết cấu kinh tế xã hội.Bởi ý nghĩa này , nền kinh tế nhiều thành
phàn là đặc trưng riêng có của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Sự tồn tại nhiều thành phần kinh tế ở nước ta trong thời kỳ quá độ là tát
yếu khách quan.Tính tất yếu đố được quy định bởi các điểm sau:
Một là do lực lượng sản xuất phát triển không đồng đều giữa các
vùng, các ngành và trong nội bộ từng vùng , dẫn tới trình độ khác nhau của lực
lượng sản xuất , tất yếu phải tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất
và nhiều thành phần kinh tế.

đang ở thời kì phát triển nói riêng . Sở dĩ nó trở thành xu thế khách quan bởi
các lẽ sau đây :
Một là,nền kinh tế thị trường tuy có những mặt tiêu cực và hạn chế
,song xét về ưu thế hiệu quả kinh tế đem lại cho xã hội thì có nhiều ưu điểm
hơn các hình thái kinh tế xã hội đã từng tồn tại trong xã hội loài người từ trườc
tới nay .
Hai là , chủ nghĩa tư bản ngày nay đã bộc lộ rõ tất cả những mặt xấu xa
và lỗi thời của nó, không còn là “hình mẫu” hấp dẫn để các nước lạc hậu noi
theo.
Ba là , bản thân giai cấp công nhân và nhân dân lao động ở các nước tư
bản phát triển hiệnnay cung đều tự thấy rằng chủ nghĩa tư bản đã đến lúc phải bị
xoá bỏ đẻ thay thế bằng một xã hội mới tiến bộ và văn minh hơn ,dảm bảo công
bằng về kinh tế chính trị,văn hoá và xã hội cho tất cả moi ngưòi. Chủ nghĩa
Mac-lênin gọi đó là chủ nghĩa ccộng sản mà giai đoạn thấp của nó là xã hội xã
hội chủ nghĩa.Xã hội này hàm chứa trong dó những nhân tố kinh tế ,chính trị
văn hoá và xã hội gắn với mục tiêu độc lập chủ quyền dân tộc giải phóng giai
cấp và giải phóng con người.
Sự nghiệp cách mạng của đảng ,nhà nước ta trước đây,hiện nay và mẫi
sau này là nhằm phấn đấu xây dựng một xã hội như thế ở nước ta để nhân dân ta
được đời đời được ấm no hạnh phúc.
Điều đáng lưu ý là xã hội xã hội chủ nghĩa theo Cac- mac thì nó phải ra đời ở
một nước có nền kinh tế phát triển cao khi mà quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa phải
phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất tương ứng.
V.I.Lênin cho rằng theo tiến trình lịch sử tự nhiên của sư phát triển lực luợng sản
xuất thì chủ nghĩa xã hội là “một bước tiến liền ngay sau chế độ độc quyền tư bản
nhà nước “vì “chủ nghiã tư bản độc quyền –nhà nước là sự chuẩn bị vật chất đầy
đủ nhất cho chủ nghĩa xã hội ,là phòng chờ đi vào chủ nghĩa xã hội,là nấc thang lịch

của giai cấp vô sản và nhân dan lao động tự đảm đương nhiệm vụ lịch sử phát
triển sức sản xuất và những quan hệ xã hội tương ứng với những điều kiên vật
chất ấy làm cơ sở hiện thực cho chủ nghĩa xã hội –một nhiệm vụ mà đáng lẽ
giai cấp tư sản phải đảm đưong nếu như đất nước trải qua chế độ tư bản chủ
nghĩa.
1.3.Quan điểm của Đảng ta
Xác định đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một hướng đi đúng đắn
phù hợp với xu thế thời đại và nguyện vong của nhân dân ta. Song đi lên chủ
nghĩa xã hội không qua giai đoạn tư bản chủ nghĩa nên nước ta thiếu cái “cốt
vật chất” của một nền kinh tế phát triển , cơ cấu hạ tầng vật chất thấp, kém khả
năng cạnh tranh ,sản xuất phân tán nhỏ lẻ,phân công lao động chưa sâu
sắc,trình độ lao động không cao, thị trường còn sơ khai. Trước tình hình đó
Đảng ta xác định :để đi tới chủ nghiã xã hội nước ta đương nhiên phải trải qua
những bước quá độ lich sử đặc biệt với mô hình tổ chức quá độ, với các hình
thức kinh tế quá độ ,với các bước đi và khâu trung gian quá độ để có thể rút
ngắn đáng kể thời gian thực hiện các trình tự phát triển tự nhiên và đạt được
những mục tiêu định hướng đã chọn.Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của
đảng Cộng sản Việt Nam vạch ra đường lối đổi mới xuất phát từ tất yếu đó.
Kinh tế nhiều thành phần là thể hiện và đảm bảo sự phù hợp của quan hệ sản
xuất với trình độ thấp và không đều của lực lượng sản xuất , đồng thời khơi
dậy tiềm năng của từng thành phần kinh tế trong nèn kinh tế quốc dân.Ngoài ra
,việc chuyển cơ chế quản lí hành chính ,tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế
quản lí thị trường là đảm bảo sự thích ứng của quan hệ sản xuất với điểm xuất
phát thấp của lực lượng sản xuất ở nước ta. Sự chuyển đổi này đã làm cho cơ
chế quản lí từ bảo thủ ,trì trệ thành sự quản lí năng động và hiệu quả , chuyển
chế độ sở hữu từ một hình thức (quốc doanh và tập thể )sang đa chủ thể sở hữu
về tư liệu sản xuất .Điều này đã khắc phục được sự trì trệ tư duy của “ông chủ

hết tài năng, sức lực để lao động làm giaù cho đất nước và cho bản thân mình.
Bốn là ,nó cho phép có điều kiện thuận lợi để khai thác có hiệu quả nhất
các tiềm năng hiện có và đang còn tiềm ẩn trong nước , có thể tranh thủ tốt
nhất sự giúp đỡ,hợp tác từ bên ngoài nhằm phát triển nền kinh tế nuớc ta
hướng vào mục tiêu tăng trưởng nhanh và hiện đại hoá . Chỉ có nhiều thành
phần kinh tế , chúng ta mới có khả năng huy động mọi tiềm năng về vốn ,kỹ
thuật, mới phát huy được mọi tiềm năng của con người Việt Nam ,mới áp dụng
nhanh nhạy các thành tựu khoa học và công nghệ, mới vận dụng sáng tạo có
hiệu quả các thành phần kinh tế “các mắt xích trung gian ,các nấc thang hợp lí ,
các nhịp cầu thích hợp” vào trong quá trình quản lý và phát triển kinh tế – xã
hội .
Rõ ràng chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần mà đại hội
VI của Đảng đề ra phù hợp với kinh tế xã hội của đất nước và đặc điểm thời đại
.Chủ trương đó khẳng định sự tồn tai khách quan của nền kinh tế hàng hoá
nhiều thành phần ở Việt Nam hiên nay.
2. Cơ cấu kinh tế nhiều thành phần trong thời kỳ quá độ lên Chủ
Nghĩa Xã Hội.
Căn cứ vào nguyên lí chung và điều kiện cụ thể của Việt Nam ,Đảng
cộng sản Việt Nam xác định : nền kinh tế trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội Việt Nam có 6 thành phần.Đó là :
-Kinh tế nhà nước .
-Kinh tế tập thể.
-Kinh tế cá thể tiểu chủ.
-Kinh tế tư bản tư nhân.
-Kinh tế tư bản nhà nước .
-Kinh tế có vốn đầu tư của nước ngoài


đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp nhà nước đầu tư 100% vốn hoặc có cổ
phần chi phối ở một ngành, lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng.
Việc sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước được thực hiện theo những
hướng sau:
- Xây dựng một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tông công ty
nhà nước, có sự tham gia của các thành phần kinh tế. Khẩn trương cải thiện
tình hình tài chính và lao động của các doanh nghiệp nhà nước, củng cố và hiện
đại hoá một bước các tổng công ty nhà nước.
- Thục hiên tôt chủ trương cổ phần hoá và đa dạng hóa sở hữu đối với
những doanh nghiệp mà nhà nước không cần nắm giữ 100%.
- Giao bán, khoán, cho thuê… các doanh nghiệp loại nhỏ mà nhà nước
không cần nắm giữ.
- Sáp nhập, giải thể, cho phá sản những doanh nghiệp hoạt động không
co hiệu quả và không thực hiện được các biên pháp trên.
Về mặt quản lí kinh tế, nhà nước phải phân biệt quyền của chủ sở hữu
và quyền kinh doanh của doanh nghiệp. Thực hiện chế độ quản lí công ty đối
với các doanh nghiệp kinh doanh dưới dạng công ty trách nhiệm hữu hạn một
chủ sở hữu là nhà nước và công ty cổ phần có vốn nhà nước, giao cho hội đồng
quản trị doanh nghiệp quyền đại diện trực tiếp chủ sở hữu gắn với quyền tự chủ
trong kinh doanh. Tiếp tục đỏi mới cơ chế, chính sách đới với doanh nghiệp
nhà nước để tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả theo hướng xoá bỏ
triệt tiêu để bao cấp,doanh nghiệp cạnh tranh bình đẳng trên tthị trường;tự chịu
trách nhiệm sản xuất kinh doanh. Quy định rõ quyền hạn và trách nhiệm của
các cơ quan quản lí nhà nước đối với các doanh nghiệp .
2.1.3.Thực trạng phát triển
2.1.3.1.Thành tựu.
Khu vực kinh tế nhà nước chiém giữ phần lớn các nguồn lực tài sản, đất

Thứ nhất ,năng lực cạnh tranh của khu vực doanh nghiệp nhà nước thấp
kém ,nhiều doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả. Nợ của khu vực doanh
nghiệp nhà nước quá lớn ,nợ quá hạn ,nợ khó đòi chưa có dấu hiệu thuyên giảm
(chiếm tới 74,8% trong số nợ quá hạn của ngân hàng thương mại quốc
doanh).so với các doanh nghiệp trên thế giới ,doanh nghiệp nhà nước Việt Nam
có qui mô nhỏ bé ,công nghệ lạc hậu ,tạo gía tri gia tăng thấp ,sản xuất ra
những hàng hoá và dịch vụ ít có khả năg canh tranh trên thi trường thế giới .
Thứ hai , so với các thành phần kinh tế khác ,doanh nghiệp nhà nước
được nhận nhiều sự hỗ trợ và hưởng những đặc quyền mà các doanh nghiệp
khác không thể có được. Doanh nghiệp nhà nước được vay vốn không cần thế
chấp ;đựoc giao đất mà không phải thuế đất ,được giao thực hiện các dự án lớn
của nhà nước mà nắm chác sẽ thu lãi lớn …tong 4 năm 97-00, ngân sách nhà
nước đã đầu tư gần8200 tỷ đồng cho doanhnghiệp nhà nước, miễn giảm thuế
1351 tỷ đồng , xoá nợ 1086 tỷ đồng,giãn nợ 540 tỷ đồng ,giảm trích khấu hao
200 tỷ đồng. Hiện nay , nhà nước vẫn đang tiép tục cấp thêm bổ sung vốn cho
các doanh nghiệp nhà nước ,để trong 5 năm 2001-2005,cơ bản tạo đủ vốn cho
doanh nghiệp.
Thứ ba, bên cạnh sự yếu kém của doanh nghiệp nhà nước,hiệu quả hoạt
động của hệ thống ngân hàng nhà nước và các dịch vụ khác, kể cả dịch vụ công
ích ,vẫn còn thấp. Hệ thống ngân hàng chưa đảm bảo cung cấp nguồn vốn đầy
đủ và thuận lợi cho doanh nghiệp thuộc mọi thành phần. Các dịch vụ công,nhất
là những dịch vụ phục vụ khu vực doanh nghiệp còn yếu kém ,chi phí cao chất
lượng thấp .
. 2.2.Kinh tế tập thể.
2.2.1.Quan niệm về kinh tế tập thể.
Kinh tế tập thể là thành phần kinh tế bao gồm những cơ sở kinh tế do
ngưòi lao động tự nguyện góp vố ,cùng kinh doanh ,tự quản lí theo nguyên tắc
Về mô hình hoạt động, sau nhiều nỗ lực cải cách của nhà nước ,so với
trước đây khu vực kinh tế tập thể đã xuất hiện nhiều mô hình hợp tác xã kiểu
mới có cơ chế hoạt đông và quản lí năng đông hơn, loại hình đa dạng hơn (kể
cả hình thức và lĩnh vực hoạt đông ).Các hình thức liên doanh giữa hợp tác với
doanh nghiệp nhà nước và các thành phần kinh tế khác cũng có xu hướng phát
triển.
Các hợp tác xã kiểu mới có hiệu quả làm ăn tăng lên đáng kể , đã đưa
đất nước từ chỗ sản xuất lương thực không đủ cung cấp nhu cầu vươn lên trở
thành quốc gia xuất khẩu gạo và một số hàng nông sản khác hàng đầu thế
giới,chất lượng nông sản cũng tăng lên,nhiều loại đã đáp ứng được tiêu chuẩn
của khu vực và thế giới.
Chúng ta đã thành lập được khá nhiều quỹ tín dụng để hỗ trợ cho các
HTX nói chung và hộ gia đình nông dân nói riêng làm ăn ngày càng hiệu quả
hơn,nâng cao thu nhập và mức sống.
Kinh tế tập thể trong các ngành khác như công nghiệp , thương nghiệp,
giao thông vận tải cũng đã có những thành tựu nhất định , thu hút được ngày
càng nhiều lao động,đóng góp vào tổng giá trị sản phẩm của mỗi ngành và của
đất nước với tỷ trọng ngày một lớn.
2.2.3.2.Hạn chế.
Mặc dù chuyển sang mô hình HTX kiểu mới nhưng quy mô , cơ sở vật
chất vẫn chưa hài hoà và vẫn chưa xứng với tiềm năng .Công cụ lao động chủ
yếu vẫn còn thủ công ,máy móc và trang thiết bị chưa nhiều,do đó chưa đáp
ứng được nhu cầu và mong muốn,năng suất lao động vẫn còn rất hạn chế.
Vốn của HTX trong kinh tế tập thể chưa lớn ,trình độ tổ chức sản xuất
kinh doanh còn yếu kém , nhiều sản phẩm làm ra chất lượng chưa cao,dịch vụ
đơn giản và chất lượng phục vụ còn thấp nên chưa đủ khả năng cạnh
tranh.Nhiều HTX chìm sâu trong thua lỗ.có tới 52%HTX mua bán thu không
đủ chi.

thể loại bỏ những hạn chế vốn có như :tính tự phát, manh mún, hạn chế về kĩ
thuật.Do đó, Đảng ta chỉ rõ:cần giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ, giải quyết các
khó khăn về vốn, về khoa học và công nghệ,về thị trường tiêu thụ sản
phẩm.”Nhà nước tạo điều kiện, giúp đỡ để phát triển,khuyến khích các hình
thức tổ chức hợp tác tự nguyện,làm vệ tinh cho các doanh nghiệp hoặc phát
triển lớn hơn”.Phát triển các loại hình thông tin với quy mô phù hợp trên từng
địa bàn.
2.3.3.Thực trạng phát triển.
2.3.3.1.Thành tựu.
Khu vực kinh tế cá thể có quy mô lớn và đóng vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế.Hàng năm,khu vực kinh tế này đã tạo ra khoảng 31%
GDP,không kém phần đóng góp so với khu vực kinh tế nhà nước.Thành phần
kinh tế này có mặt ở mọi địa bàn,cả nông thôn và thành thị.ở khu vực nông
thôn,kinh tế hộ phát triển rộng khắp,phát triển mạnh từ chủ trương xoá bỏ mô
hình hợp tác xã gượng ép của cơ chế cũ.Năm 2000,cả nước có khoảng 10 triệu
hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo
nghị định 66.Số lượng các trang trại đanh có xu hướng ngày càng gia
tăng.Trong các thành phố lớn,kinh tế cá thể vẫn chiếm một vị trí nhất
định,khoảng 23,9% GDP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.Trong những
năm gần đây,với chính sách khuyến khích sản xuất,kinh doanh của nhà
nước,nhiều cá nhân đã năng động tự đầu tư kinh doanh với quy mô nhỏ,tự tạo
việc làm cho mình và tạo thu nhập.Khu vực kinh tế cá thể có vai trò quan trọng
trong tạoviệc làm cho người lao động với lượng vốn ít,huy động được trong
nhân dân.Nừu như doanh nghiệp nhà nước chiếm phần lớn các nguồn lực trong
xã hội nhưng chỉ thu hút được 4,8%lực lượng lao động trong cả nước,thì khu
vực kinh tế cá thể với nguồn lực ít nhưng lại tạo ra việc làm cho hơn 50% số
lao động hiện có.

Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay,thành
phầnkinh tế này còn đóng vai trò đáng kể xét về phương diện phát triển lực
lượng sản xuất,xã hội hoá sản xuất cũng như về phương diện giải quyết các vấn
đề xã hội.Đây cũng là thành phần kinh tế rất năng động,nhạy bén với kinh tế thị
trường,do đó sẽ có những đóng góp không nhỏ vào quá trình tăng trưởng kinh
tế của đất nước.Hiện nay,kinh tế tư bản tư nhân bước đầu có sự phát
triển,nhưng phần lớn tập trung vào lĩnh vực thương mại,dịch vụ và kinh doanh
bất động sản,đầu tư vào sản xuất còn ít và chủ yếu quy mô vừa,nhỏ.
Khu vực kinh tế tư bản tư nhân còn góp phần giảI quyết công ăn việc
làm cho người lao động tạo thu nhập và do đó cảI thiện đời sống nhân dân.
NgoàI ra kinh tế tư bản tư nhân dã và đang đóng góp một phần vào tổng
sản phẩm quốc dân ,thúc đẩy cạnh tranh và làm tăng kim ngạch xuất khẩu ở
nước ta .
2.4.3.Thực trạng phát triển.
2.4.3.1 Thành tựu
Khu vực kinh tế cá thể có quy mô lớn và đóng vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế.Hàng năm,khu vực kinh tế này đã tạo ra khoảng 31%
GDP,không kém phần đóng góp so với khu vực kinh tế nhà nước.Thành phần
kinh tế này có mặt ở mọi địa bàn,cả nông thôn và thành thị.ở khu vực nông
thôn,kinh tế hộ phát triển rộng khắp,phát triển mạnh từ chủ trương xoá bỏ mô
hình hợp tác xã gượng ép của cơ chế cũ.Năm 2000,cả nước có khoảng 10 triệu
hộ kinh doanh cá thể đăng kí theo
nghị định 66.Số lượng các trang trại đanh có xu hướng ngày càng gia
tăng.Trong các thành phố lớn,kinh tế cá thể vẫn chiếm một vị trí nhất
định,khoảng 23,9% GDP trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.Trong những
năm gần đây,với chính sách khuyến khích sản xuất,kinh doanh của nhà
nước,nhiều cá nhân đã năng động tự đầu tư kinh doanh với quy mô nhỏ,tự tạo

thành phần kinh tế, đồng thời là một hình thức kinh tế trung gian quá độ kết
hợp chặt chẽ lợi ích của hai giai cấp đối lập: lợi ích trực tiếp của nhà t bản và
lợi ích, mục tiêu XHCN của giai cấp công nhân. Bởi vậy, với cơ cấu kinh tế
nhiều thành phần của thời kì quá độ, kinh tế tư bản nhà nước được coi là hình
thức kinh tế hội tụ đầy đủ, đồng thời cả hai mục tiêu kinh tế-xã hội giữa tư bản
tư nhân và nhà nước vô sản. Kinh tế tư bản nhà nước hội tụ được nhiều xu thế,
nó kết hợp tối sức sức mạnh của nhà tư bản với vai trò, sức mạnh của nhà nước
trong khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực phát triển để giành lợi thế
cạnh tranh trên thơng trờng. Nó không chỉ là chiếc cầu nối giữa nhà nước với t-
ư bản tư nhân trong nớc mà còn mở rộng bàn tay nhà nước với tư bản nước
ngoài, hớng chúng vào thực hiện mục tiêu xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật của
CNXH và chuyển dần nền sản xuất tiểu nông lên sản xuất lớn.
ở nớc ta, thông qua phát triển kinh tế t bản nhà nớc còn tạo điều kiện cải
tạo t sản dân tộc,củng cố địa vị thống trị của giai cấp công nhân.
Sự tồn tại, vận động, phát triển kinh tế tư bản nhà nớc ở nớc ta là nhu
cầu tất yếu để xây dựng kinh tế thị trờng. Với cơ sở vật chất hiện đại hơn, sản
phẩm làm ra chất lợng hơn nên tạo ra một lợi thế cạnh tranh trên thị trờng lớn.
2.5.3.Thực trạng phát triển.
2.5.3.1. Thành tựu
Khu vực kinh tế tư bản nhà nớc đóng góp khoảng 4% cho GDP hàng
năm. Đây cha phải là con số lớn so với sự đóng góp của các thành phần kinh tế
khác nhng sự ra đời của khu vực kinh tế này có nhiều ý nghĩa gián tiếp, thúc
đẩy quá trình cải cách kinh tế ở Việt Nam. Trong thời kì đầu thu hút đầu t nớc
ngoài, khu vực này
là đường dẫn cho đầu tư nước ngoài vào Việt Nam và đồng thời là kênh truyền
dẫn những kiến thức quản lý và công nghệ, tác động tích cực đến doanh nghiệp
nhà nớc, đối tác trong liên doanh.

nước ngoài phát triển khá nhanh. Giá trị sản xuất tăng bình quân 22% một năm.
Trong 5 năm (1996-2000) , vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được thực hiện
khoảng 10 tỷ USD, chiếm 23% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, các doanh nghiệp
có vốn đầu tư của nước ngoài tạo ra 34% giá trị sản xuất toàn ngành công
nghiệp, trên 22% kinh ngạch xuất khẩu và đóng góp trên 10% GDP chung của
cả nước
Đảng và nhà nước ta đã khẳng định: “Tạo điều kiện để kinh tế có vốn
đầu tư của nước ngoài phát triển thuận lợi, hướng vào xuất khẩu, xây dựng kết
cấu hạ tầng kinh tế xã hội gắn với thu hút công nghệ hiện đại, tạo thêm nhiều
việc làm. Cải thiện môi trường kinh tế và pháp lý để thu hút mạnh vốn đầu tư
nước ngoài”.
2.6.3.Thực trạng phát triển.
2.6.3.1. Thành tựu
Từ năm 1987 đến nay, vị trí của khu vực này trong nền kinh tế ngày
càng được cải thiện và đóng vai trò quan trọng. Năm 2002, mức đóng góp của
kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là 14% GDP. Đến năm 2003, cả nước có trên
4500 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài được cấp giấy phép với tổng số vốn
đăng kí là 42 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện 25 tỷ USD, chiếm khoảng 18%
trong tổng vốn đầu tư phát triển của nền kinh tế. Khu vực kinh tế này thường
đầu tư vào các ngành kinh tế có công nghệ cao, hiện đại, theo định hướng xuất
khẩu. Năm 2003, nếu tính cả dầu thô, xuất khẩu của khu vực kinh tế có vốn
đầu tư của nước ngoài đạt khoảng 7,5 tỷ USD,chiếm trên 50% tổng kinh ngạch
xuất khẩu của cả nước.Đầu tư nước ngoài hiện thu hút trên 45 vạn lao động
làm việc trực tiếp trong các doanh nghiệp và hàng chục vạn lao động làm việc
trong các khu xây dựng,cung ứng dịch vụ với gần 10000 cán bộ quản lý và 5
vạn cán bộ kĩ thuật.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong phát triển kinh tế Việt Nam.

thể chế ở Việt Nam hiện chưa thật rõ ràng,minh bạch,khó có thể dự đoán được
do hay thay đổi.Chính vì vậy đã gây cho nhà đầu tư nước ngoài tâm lý lo ngại
vì môi trường đầu tư không ổn định,còn nhiều rủi ro.Nhiều lĩnh vực còn hạn
chế sự tham gia của đầu tư nước ngoài như dịch vụ vận tải nội địa,tài chính-
ngân hàng,bảo hiểm,viễn thông,quảng cáo.
Thành phần kinh tế nay vẫn chưa đồng nhất với các thành phần trong
nước cả về mục tiêu và cơ chế vận hành nhiều lúc còn vi phạm lợi ích của các
thành phần kinh tế khác .
Cần phảI có chính sách thu hút mạnh hơn , bên cạnh đó phảI quan tâm,
theo dõi , phân thích đIũu chỉnh để đảm bảo mối tương quan hợp lí với các
thành phần kinh tế trong nước và lợi ích đất nước.
3.Xu hướng vận động của các thành phần kinh tế trong quá trình đi
lên CNXH.
3.1.Thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của KTNN để khẳng định vai
trò chủ đạo.
Nguồn lực kinh tế của đất nước là do nhà làm chủ sở hữu hay kinh tế
nhà nước bao gồm ngân sách nhà nước , dự trữ quốc gia và phần sở hữu của
nhà nước ở các doanh nghiệp nhà nước .Để điều chỉnh các quan hệ kinh tế xã
hội theo đường lối , chính sách của Đảng và nhà nước trong từng thời kì nhà
nước cần sử dụng tổng thể các nguộn lực thuộc kinh tế nhà nước chứ không
phải chỉ dựa vào hệ thống doanh nghiệp nhà nước . Từ góc độ này nhận thấy
vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nhà nước tỏng xây dựng quan hệ sãn
xuất theo đinh hướng Xã Hội Chủ Nghĩa .
Để nâng cao vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế nàh nước, chúng ta
cần phải thực hiện túc Nghị quyết Trung ương lần thứ ba, khóa IX về đổi mới,
sắp xếp và nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
nàh nước. Cụ thể, cần tập trung giải quyết tốt một số việc sau đây:

luỹ về cơ sở vật chất kĩ thuật để tăng cường sức mạnh kinh tế .
-Trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp ban quản lí HTX cần phối hợp với
chính quyền thực hiện các chính sách kinh tế xã hội, xây dựng nông thôn mới .
-Nha nước cần có chính sách ưu đãi khuyến khích giúp đỡ kinh tế hợp
tác phát triển có hiệu quả .
3.3.Phát triển đa dạng các hình thức kinh tế Tư bản Nhà nước.
áp dụng các phương thức góp vốn liên doanh giữa nhà nước với các nhà
kinh doanh tư nhân trong và ngoài nước coi trọng llieen doanh với tư bản tư
nhân trong nước nhằm tạo thế, tạo lực cho các doanh nghiệp Việt Nam phát
triển tăng sức cạnh tranh với bên ngoài .
Cải thiện môi trường đầu tư và nâng cao năng lực quản lí để thu hút có
hiệu quả vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp
pháp của người lao động trong các xí nghiệp hợp tác kinh doanh.
3.4.Hỗ trợ tạo điều kiện kinh tế cá thể ,tiểu thủ phát triển.
Kinh tế cá thể tiểu thủ có vị trí uan trọng lâu dài . Nhà nước cần giúp đỡ
kinh tế cá thê tiểu thủ giải quyết khó khắn về vốn, khoa học và công nghẹ, về
thị trường tiêu thụ sản phẩm .
Trong một số nghành nghề, kinh tế cá thể tiểu thủ tỏ ra ưu thế hơn các
thành phần kinh tế khác. Nhin chung đến một giới hạn nhất định , kinh tể cá thể
tiểu thủ sẽ phát huy heets tiềm năng của mình. Vì thế cần hướng dẫn nó vi lợi
ích thiết thân và nhu cầu phát triển sản xuất, từng bước đi vào hợp tác với
những hình thức và qui mô thích hợp.
3.5.Kinh tế tư bản tư nhân được khuyến khích phát triển trong các
ngành nghề , lĩnh vực mà pháp luật không cấm.
Kinh tế tư bản tư nhân mới được khôi phục và phát triển trong thời gian
gần đây song sự đóng góp của nó đối với nền kinh tế là không nhỏ .Do đó cần
khuyến khích, tạo điều kiện và hướng dẫn nó phát triển nhằm : huy động vốn,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status