LUẬN VĂN:
Qui luật giá trị trong nền kinh tế thị
trường và sự vận dụng quy luật đó
vào điều kiện ở Việt Nam I. Mở đầu
Thế kỷ 21 là thế kỷ của sự vận động và không ngừng phát triển về mọi lĩnh
vực như: Khoa học- kỹ thuật, kinh tế thương mại, sự giao lưu hợp tác giữa các nước
trong khu vực và quốc tế với nhau hay nền kinh tế thị trường
Đối với nền kinh tế thị trường,thì qui lật giá trị là một quy luật rất quan trọng.
hành chúng một cách có hiệu quả nhất.
Và trong các quy luật kinh tế được áp dụng thì quy luật giá trị được coi là một
quy luật rất quan trọng, và có sự ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh
tế.Vậy thì ta hiểu thế nào là quy luật giá trị?
Giá trị, như chúng ta đã biết, đó kà thời gian lao động xã hội cần thiết đã hao
phí vào việc sản xuất ra hàng hoá trên thị trường, và dẫn tới kết quả là: Người ta
trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào giá trị.Trao đổi hàng hoá phải căn cứ vào giá
trị có nghĩa là : Hai hàng hoá trao đổi với nhau phải ngang bằng với nhau về giá
trị, cũng tức là giá cả hàng hoá phải phù hợp với giá trị hàng hoá .
b. Quy luật giá trị là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá.
Trong kinh tế hàng hoá dựa trên chế độ tư hữu, hàng hoá do người sản xuất tư
nhân, riêng lẻ san xuất ra. Những người sản xuất hàng hoá cạnh tranh với nhau.
Mỗi người sản xuất hàng hoá đều nghĩ cách chen lấn người sản xuất hàng hoá
khác, đều muốn giũ vững và mở rộng “trận địa” của mình trên thị trường .Sản
xuất tiến hành không theo một kế hoạch chung nào cả. mỗi người đều sản xuất
vì mình, riêng biệt với người khác, không ai biết :Nhu cầu đối với hàng hoá do
họ sản xuát như thế nào? có bao nhiêu người sản xuất? Điều đó chứng tỏ rằng
hàng hoá càng phát triển thì quyền lực của thị trường đối với người sản xuất
hàng hoá càng mạnh mẽ
Vậy! qui luật giá trị là quy luật kinh tế của sản xuất hàng hoá, ở đâu có sản
xuất hàng hoá ở đó có qui luật giá trị tác động.Quy luậtgiá trị chi phối việc sản
xuất và việc trao đổi trong nền kinh tế hàng háo.
2. Nội dung của quy luật giá trị
Nói rằng hàng hoá trao đổi với nhau phải ngang bằng nhau về giá trị , hoặc giá
cả phải phù hợp vớ giá trị . Điều đó nghe có vẻ như là ăn khớp với thực tế, nhưng
trên thị trường, giá cả của các hàng hoá khi thì cao hơn giá trị của chúng,khi thì lại
thấp hơn so với giá trị của chúng.Khi một loại hàng nào đó sản xuất ra không đáp
bằng hao phí lao động cần thiết để sản xuất hàng hoá thì người đó có lợi. Còn người có hao phí lao động cá biệt nhiều hơn lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị thiệt, vì
không thể thu được toàn bộ lao động đã hao phí.Chính vì vậy, để tồn tại được trong
cạnh tranh thì người lao động phải tìm cách giảm hao phí lao động xã hội cá biệt
xuống mức tối thiểu có thể được bằng cách cải tiến máy móc kỹ thuật một cách
không ngừng để nâng cao năng suất lao động. Do vậy, mới đẩy mạnh được lực
lượng sản xuất phát triển.
c. Thực hiện sự phân hoá những người sản xuất hàng hoá thành kẻ giàu, người
nghèo.
Trong cuộc cạnh tranh chạy đua theo giá trị của những người sản xuất hàng
hoá, thì lao động cá biệt của những người sản xuất có thể không đồng nhấtvới lao
động xã hội cần thiết. Những người làm tốt thì họ sẽ có thời gian hao phí lao động
cá biệt thấp hơn thời gian lao động xã hội cần thiết.Họ sẽ có lãi và có điều kiện mở
rộng quy mô sản xuất và kinh doanh nhiều hơn nữa.Họ sẽ trở nên giàu có , còn
những người làm ăn kém, không may mắn họ sẽ bị lỗ vốn thậm chí còn phá sản.
Do đó qui luật giá trị sẽ kích những yếu tố tích cực phát triển và đào thải các
yếu tố kém. Nó đảm bảo sự bình đẳng của người sản xuất.
III. Vận dụng qui luật giá trị vào điều kiện của việt nam
1. Đặc điểm của nền kinh tế Việt Nam.
a. Thực trạng của nền kinh tế Việt Nam.
Không một nền kinh tế nào có thể coi là hoàn thiện , là phát triển tuyệt đối. Cho
dù đó có là một nền kinh tế của một quốc gia phát triển nhất thế giới đi chăng nữa .
Lúc nào chứa những mặt trái ,việc áp dụng quy luật kinh tế vào việc vận hành và
quản lý nền kinh tế của một quốc gia luôn luôn ẩn chứa những nguy cơ đổ vỡ .Bởi
do vận dụng không đúng cách, không đúng với yêu cầu của thực tế.Đó vẫn là một
trong những vấn đề rất nan giải. Và trong đó có đất nước Việt Nam của chúng ta.
Như ta đã biết, nước ta là một trong những nước kém phát triển , và đang
nước ta ngày một sa sút nghiêm trọng. Chính sách đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
chưa được quan tâm đúng mức. các nguồn tài nguyên thiên nhiên bị lãng phí hoặc
bị bỏ quên. Những điều đó cũng gây ảnh hưởng không nhỏ tới nền kinh tế quốc dân
của nước ta.
Thứ ba là : Người dân Việt Nam với trình độ văn hoá thấp kém , khả năng ứng
dụng may móc trang thiết bị hiện đại trong sản xuất không đạt yêu cầu tình hình thực tế. Những người có tay nghề kỹ thuật cao lại chỉ chiếm số lượng ít. Thái độ lao
động của nhiều người còn chưa nghiêm túc. những người có trình đọ lại có tính tư
lợi cho bản thân, tham ô tài sản của Nhà Nước.
Tất cả những yếu tố trên đã góp phần không nhỏ vào việc kim hãm sự phát triển
kinh tế của đất nước ta.
Thứ tư là: Trình độ kỹ thuật và công nghệ còn quá lạc hậu. Không có nhiều thành
tựu đáng kể trong nghiên cứu khoa học,mà chúng ta chỉ thừa hưởng những công
nghệ đã lạc hậu ở các nước phát triển chuyển giao lại.Điều đáng buồn thay là ngay
cả việc giám định công ngệ chuyển giao cũng không có gây lãng phí ngân sách cho
Nhà nước.
Kết quả là chúng ta phải nhận những máy móc đã quá cũ mà giá cả cũng không rẻ
hơn so với máy móc công nghệ mới .
Thứ năm là : Nền kinh tế nước ta đang vận hành theo cơ chế thị trường . Song cơ
cấu kinh tế vẫn chưa chặt chẽ và hợp lý, vẫn còn những kẽ hở. cơ cấu nghành nghề
còn nhiều bất cập , cac vùng kinh tế chưa được chú trọng phát triển. Đay cũng là
một trong những hạn chế của nền kinh tế nước ta .
Thứ sáu là: Mức độ tăng dân số quá nhanh. Những năm gần đay có xu hướng
giảm song vãn còn tăng nhiều so với thế giới. Tăng dân số đồng nghĩa với việc có
nhiều lao đọng không có việc làm. Nạn thất nghiệp đã dẫn tới sự gia tăng của các tệ
nạn xã hội.
Thứ bảy là thể chế chính trị và quản lý Nhà nước cũng là nhân tố quan trọng có
vai trò quyết định trong sự phát triển kinh tế của đất nước. Tuy nước ta có một thể
lam gì?.
Em xin đưa ra một ví dụ sau: Hàng Trung Quốc đưa vào Việt Nam với những
mẫu mã đẹp , giá lại rẻ Hơn lúc nào hết nước ta cần phải đổi mới, nó đồng nghĩa
với việc nước ta cần phải nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm.
d. Mọi nền kinh tế của bất kỳ một quốc gia nào cũng cần có sự quản lý của Nhà
Nước, nếu không nền kinh tế đó sẽ bị khủng hoảng và gây lên sự hỗn độn không rõ
ràng trong nền kinh tế quốc dân. Nhà Nước phải chuyển từ quản lý theo chính sách
kế hoạch hoá tập trung sang các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô để quản lý nền
kinh tế . Chỉ có như vậy mới thúc đẩy được sự phát triển của các thành phần kinh tế
tăng thêm nguồn thu cho ngân sách của Nhà Nước.
iv. kết luận. Với những vấn đề trên ta đã hiểu rõ hơn phần nào về tầm quan trọng và các tác
dụng của quy luật giá trị trong nền kinh tế thị trường hiện nay. Nó không chỉ làm
cho nền sản xuất có được những tỷ lệ cần thiết, mà nó còn là một lực lượng giúp
cho mỗi người sản xuất hàng hoá đó là: Thúc đẩy họ cải tiến đi kỹ thuật lạc hậu,
và thay thế bằng một trình độ kỹ thuật tiên tiến hơn. hay nói một cách xa rộng
hơn thì lượng sản xuất của xã hội nhờ đó mà đợưc phát triển lên.
Đó là một vấn đề vô cùng cần thiết của rất nhiều các quốc gia trên thế giới. Và
nước Việt Nam ta cũng không phải là một trường hợp ngoại lệ. Việc áp dụng
quy lật giá trị đã góp phần không nhỏ vào việc thúc đẩy nền sản xuất hàng hoá
của nước ta, mà nó còn giúp cho xã hội của nước ta ngày một phát triển đi lên để
sánh vai cùng các nước trong khu vực và quốc tế .