LUẬN VĂN: Chính sách kinh tế mới của Lênin và sự vận dụng nó vào Việt Nam pot - Pdf 12


z

LUẬN VĂN:

Chính sách kinh tế mới của Lênin
và sự vận dụng nó vào Việt Nam

Chủ nghĩa Mác-Lênin luôn luôn là nền tảng tư tưởng của Đảng ta, chỉ đạo toàn
bộ sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta, trong toàn bộ thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa
xã hội. Đảng ta đã vận dụng nhiều lý luận trong các học thuyết của Mác-Lênin làm
cơ sở để định hướng đường lối và phát triển chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Thời kỳ từ
1986 đến nay, Đảng ta đã thực hiện đổi mới toàn diện mô hình kinh tế thông qua
những nghị quyết của các Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, VII và VII. Ngoài
ra, Đảng ta đã vận dụng một cách có phát triển sách tạo những quan điểm cơ bản
của Lênin về “Chính sách kinh tế mới” vào những điều kiện lịch sử ở nước ta đặt
trong hoàn cảnh đất nước trong thời kỳ đổi mới.
I. Hoàn cảnh ra đời và nội dung của Chính sách kinh tế mới
1.Hoàn cảnh ra đời của NEP
1.1. Tình hình chung của thế giới
“Chính sách kinh tế mới” của Lênin ra đời trong một bối cảnh lịch sử hết sức
phức tạp. Trước hết,về tình hình chung của thế giới, cả chủ nghĩa tư bản và chủ
nghĩa xã hội đều có những bước phát triển, biến đổi đáng kể. Đối với chủ nghĩa tư
bản, vào những năm 90 của thế kỷ XIX, chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh đã
chuyển sang chủ nghĩa tư bản độc quyền cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các tổ
chức độc quyền. Các tổ chức độc quyền còn liên minh xuyên quốc gia với nhau tạo
thành các liên minh độc quyền quốc tế với thế lực chính trị và sức mạnh kinh tế
hùng hậu. Còn đối với chủ nghĩa xã hội, Lênin đã vận dụng và phát triển học thuyết
của C.Mác và Ph.ăngghen để từ đó đi đến những lý luận mới về chủ nghĩa cộng sản
và về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa cộng sản. Đây là một bước ngoặt đánh dấu sự
phát triển về mặt lý luận của chủ nghĩa xã hội. Chính từ đó, Lênin đã lãnh đạo giai
cấp vô sản Nga giành thắng lợi trong cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa năm 1917.
1.2. Tình hình cụ thể của nước Nga
Về tình hình cụ thể của nước Nga, ngay sau Cách mạng tháng Mười năm 1917
đó, nước Nga đã đi vào thực hiện kế hoạch xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đó là tổng

2. Nội dung của NEP
2.1. Thay chính sách trưng thu lương thực thừa bằng chính sách thuế
lương thực
Chính sách kinh tế mới của Lênin bao gồm bốn nội dung chủ yếu. Một là, thay
thế Chính sách trưng thu lương thực thừa bằng Chính sách thuế lương thực. Theo
chính sách này, người nông dân chỉ nộp thuế lương thực với một mức cố định trong
nhiều năm. Thuế lương thực thấp hơn việc trưng thu gần hai lần, chẳng hạn như lúa
mì, người nông dân chỉ phải nộp 240 triệu pút chứ không phải 423 triệu. Mức thuế
căn cứ vào điều kiện tự nhiên của đất canh tác. Số lương thực còn lại sau khi nộp
thuế, người nông dân được tự do trao đổi, mua bán trên thị trường. Để có thể thực
hiện tốt chính sách thuế lương thực này, Ban chấp hành các Xô-viết toàn Nga đã
ban hành một sắc lệnh về vấn đề này. Để thi hành sắc lệnh ấy, Hội đồng bộ trưởng
dân uỷ đã công bố đạo luật về thuế lương thực. Tất cả các cơ quan Xô-viết có nhiệm
vụ phổ biến hết sức rộng rãi cho nông dân biết đạo luật về thuế lương thực và giải
thích ý nghĩa của đạo luật ấy. Đây là một chuyển biến quan trọng với mục tiêu
chính là hướng vào nông dân, một lực lượng đông đảo nắm giữ vai trò quan trọng
trong quá trình xây dựng và phát triển chủ nghĩa xã hội. Người nông dân nào cũng
biết rõ trước số thuế phải nộp. Do đó, sẽ ít có tình trạng lộng quyền khi thu thuế,
nông dân cũng sẽ càng có lợi trong việc tăng diện tích gieo trồng, trong việc cải
thiện kinh doanh của mình, trong việc chăm lo tăng thu hoạch. Thuế lương thực đã
góp phần cải thiện đời sống của nông dân, khôi phục phần nào nền kinh tế, là một
bước quá độ từ chế độ cộng sản thời chiến đến chế độ trao đổi xã hội chủ nghĩa bình
quân.
2.2. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
Hai là, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Đối với nền kinh tế nước Nga
bấy giờ, Lênin rút ra có năm thành phần kinh tế là : thành phần kinh tế nông dân gia
trưởng, thành phần kinh tế sản xuất hàng hoá nhỏ của nông dân, thợ thủ công, cá thể

mới nhằm khuyến khích các hoạt động trao đổi, buôn bán hàng hoá trở nên tự do,
sôi nổi hơn, đặc biệt là cho phép thương nhân được tự do hoạt động, vì vậy thương
nhân đã có thể dễ dàng hoạt động đáp ứng kịp thời mọi nhu cầu hàng hoá trong xã
hội.
2.4. Sử dụng các hình thức chủ nghĩa tư bản nhà nước
Bốn là, sử dụng các hình thức chủ nghĩa tư bản Nhà nước. Theo Lênin, chủ
nghĩa tư bản Nhà nước là sản phẩm của sự can thiệp của Nhà nước vào các doanh
nghiệp tư bản. Đây là chủ nghĩa tư bản đặc biệt, do Nhà nước vô sản
“sáng tạo ra”, “ đi theo tay lái ” của Nhà nước vô sản, Nhà nước vô sản có thể hạn
chế, có thể quy đinh và giới hạn. Việc sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước là cần
thiết để phát triển lực lượng sản xuất. Sử dụng chủ nghĩa tư bản nhà nước, Nhà
nước vô sản huy động được vốn, vật tư – kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý của các nhà
tư bản, và cuối cùng vẫn thay thế được chủ nghĩa tư bản bằng chủ nghĩa xã hội.
Lênin đã chỉ ra bốn hình thức cơ bản của chủ nghĩa tư bản nhà nước là: tô nhượng,
thuê, giao và hợp tác xã. ở Liên Xô, Lênin đã áp dụng hai hình thức cơ bản là quốc
hữu hoá và xã hội hoá, chuyển các quá trình sản xuất tư nhân thành quá trình sản
xuất xã hội, một mặt quốc hữu hoá các tư liệu sản xuất thuộc về chủ nghĩa tư bản,
một mặt giao những tư liệu sản xuất đó cho các nhà tư bản thuê để kinh doanh. Sử
dụng những hình thức này vừa giúp cho chính quyền Xô Viết khai thác nguồn lực
từ các thành phần tư bản lại vừa kích thích được dân chúng trong nước phát triển
kinh tế.
Kết quả, chỉ sau một thời gian ngắn thực hiện Chính sách kinh tế mới của Lênin,
nước Nga đã khắc phục được nền kinh tế sau chiến tranh, biến “nước Nga đói”
thành một nước có nguồn lương thực dồi dào, khắc phục được khủng hoảng chính
trị, củng cố lòng tin nhân dân. Không chỉ có ý nghĩa với nước Nga, Chính sách kinh
tế mới còn đánh dấu một bước phát triển mới về lý luận kinh tế đối với chủ nghĩa xã
hội, là tấm gương sáng trong việc xây dựng nền kinh tế định hướng xã hội chủ

đó, kinh tế miền Bắc ít bị xáo trộn, sản xuất vẫn có nhiều tiến bộ, là hậu phương
vững chắc cho cả nước, là động lực không thể thiếu để đi đến thắng lợi ở miền
Nam.
Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất và giành được độc lập. Vì vậy,
cả nước cùng bước vào một thời kỳ mới, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong
giai đoạn này ( 1975-1986), lẽ ra kinh tế nước ta phải phát triển nhanh chóng do đã
thoát khỏi chiến tranh, tuy nhiên, đây lại là giai đoạn nền kinh tế nước ta bị khủng
hoảng trầm trọng: kết quả thực hiện kế hoạch kinh tế 5 năm (1976-1980) chưa thu
hẹp được những mặt mất cân đối nghiêm trọng của nền kinh tế quốc dân, sản xuất
phát triển chậm trong khi dân số tăng nhanh, thu nhập quốc dân chưa bảo đảm đựoc
tiêu dùng xã hội, một phần tiêu dùng xã hội phải dựa vào vay và viện trợ, nền kinh
tế chưa tạo được tích luỹ, lương thực, vải mặc và các hàng tiêu dùng thiết yếu đều
thiếu, tình hình cung ứng vật tư, tình hình giao thông vận tải rất căng thẳng, nhiều xí
nghiệp sử dụng công suất ở mức thấp, chênh lệch lớn giữa thu và chi tài chính, giữa
hàng và tiền, giữa xuất khẩu và nhập khẩu, thị trường vật giá không ổn định, số
người lao động chưa được sử dụng còn đông, đời sống nhân dân lao động gặp nhiều
khó khăn. Có lẽ đó là do nước ta phải chịu đựng những đảo lộn kinh tế và xã hội với
quy mô lớn sau cuộc chiến tranh ác liệt lâu dài với những tác động không thuận lợi
của tình hình thế giới. Nhưng xét về phía chủ quan, đây là thời kỳ mô hình kinh tế
tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ một cách toàn diện mặt tiêu cực của nó, nhất là
khi mô hình kinh tế đó đã phát triển ở mức cao và được áp dụng trong phạm vi cả
nước nên hậu quả càng nặng nề trên quy mô lớn. Tuy nhiên, cũng trong thời kỳ này,
tư duy mới từng bước hình thành, các quan niệm cốt lõi của mô hình kinh tế mới về
cơ bản đã hình thành. Sự phát triển tiệm tiến này đã dẫn đến bước nhảy vọt trong
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI (tháng 12/1986) về mô hình kinh tế mới.
2. Quá trình vận dụng NEP vào Việt Nam
2.1. Phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần


Chính sách này sẽ góp phần kích thích mọi thành phần kinh tế tồn tại ở nước ta bấy
giờ phát triển, cùng vực dậy nền kinh tế vừa trải qua khủng hoảng của Việt Nam.
2.2. Chính sách thuế nông nghiệp
Chính sách thứ hai được Đảng ta đưa ra trong công cuộc đổi mới là chính
sách thuế nông nghiệp. Mặc dù hoàn cảnh bây giờ của chúng ta không phải khó
khăn, đói kém như những năm 1945, nhưng đời sống nhân dân vẫn còn nhiều khổ
cực, nhiều nơi vẫn tồn tại nạn đói. Chính vì vậy, cần phải có những biện pháp để
tăng sản lượng lương thực, thực phẩm, giải quyết nạn đói cho người dân. Chính
sách thuế trong nông nghiệp ở nước ta chủ yếu là chính sách thuế đối với ruộng đất
chứ không phải là thuế lương thực như ở Liên Xô. Có sự khác nhau như vậy là do ở
nước ta, về nguyên tắc, người lao động là chủ của đất đai vì đất đai thuộc sở hữu
toàn dân. Nhưng trong các hợp tác xã kiểu cũ, người lao động chỉ là người chủ trên
danh nghĩa, còn thực tế, người lao động thờ ơ, xa lạ với đất đai. Từ khi có “khoán
hộ”, người nông dân được giao đất, giao ruộng, vì thế họ gắn bó với đất đai. Điều
đó chứng tỏ chính sách thuế nông nghiệp mà cụ thể là chính sách thuế ruộng đất đã
đáp ứng được lợi ích của người nông dân, tạo điều kiện cho sản xuất nông nghiệp
phát triển và đạt được những thành tựu to lớn trong những năm qua.
2.3. Sử dụng các hình thức tư bản nhà nước
Chính sách thứ ba liên quan đến việc sử dụng các hình thức tư bản Nhà nước.
Khác với Liên Xô trước đây, ở Việt Nam lại chú trọng đến việc phát triển nền kinh
tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với sự điều tiết và quản lý của Nhà nước.
Điều này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong thời kì lịch sử mới hiện nay của nước
ta. Nền kinh tế nước ta khi bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội còn mang
nặng tính tự túc tự cấp, vì vậy, sản xuất hàng hoá phát triển sẽ phá vỡ dần kinh tế tự
nhiên và chuyển thành nền kinh tế hàng hoá, thúc đẩy sự xã hội hoá sản. Nhờ đó,
chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước và thu hút được vốn, kỹ
thuật, công nghệ của nước ngoài, giải phóng được năng lực sản xuất, góp phần
quyết định vào việc bảo đảm tăng trưởng kinh tế với nhịp độ tương đối cao trong
thời gian qua. Hiện nay, chúng ta đã cơ bản xoá bỏ được chế độ tập trung quan liêu,

là nền kinh tế nhiều thành phần với định hướng xã hội chủ nghĩa, nếu để tự phát nền
kinh tế nhiều thành phần sẽ đi lên chủ nghĩa tư bản. Chính vì vậy, cần phải củng cố
hai công cụ quan trọng là kinh tế nhà nước với vai trò chủ đạo của nó trong nền
kinh tế và chức năng điều tiết kinh tế vĩ mô của nhà nước.
3.2. Chính sách phát triển kinh tế nông nghiệp nông thôn
Thứ hai, về chính sách thuế nông nghiệp, cần phải chú ý đến những vấn đề
sau: trình độ phát triển của nông nghiệp kém hơn so với các ngành kinh tế khác, vì
thế nên mức thuế suất, các sắc thuế áp dụng cho nông nghiệp phải khác với các
ngành, các lĩnh vực khác, kinh tế nông nghiệp phụ thuộc nhièu vào điều kiện tự
nhiên, do vậy, khi thời tiết không thuận lợi hoặc thiên tai, cần có sự điều chỉnh
chính sách thuế cho phù hợp, ở nước ta, nông nghiệp vẫn chiếm một tỉ trọng rất lớn
nên các chính sách thuế phải đặt trong mối quan hệ phù hợp với các chính sách xã
hội.
3.3. Chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài
Thứ ba, đối với chính sách thu hút vốn đầu tư nước ngoài, để thực hiện ngày
càng có hiệu quả cả về số lượng lẫn chất lượng nhằm phục vụ đắc lực cho sự nghiệp
phát triển nền kinh tế, đặc biệt là phát triển sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
đất nước, chúng ta cần phải : hoàn thiện chính sách, luật pháp , cải cách hành chính
để huy động nhiều hơn nữa vốn đầu tư nước ngoài và sử dụng có hiệu quả kinh tế –
xã hội nhiều hơn các nguồn vốn ấy, có chiến lược quan hệ kinh tế đối ngoại cùng
với quy hoạch và thực hiện nghiêm ngặt quy hoạch gọi vốn đầu tư nước ngoài, xác
định đúng đắn đối tác, khắc phục tình trạng đầu tư tràn lan, kiểm soát vốn đầu tư
bên ngoài, ngăn chặn sự đối lập giữa đầu tư nước ngoài với lợi ích quốc phòng an
ninh, với việc gìn giữ nền văn hoá dân tộc, ngăn ngừa ý đồ chiếm lĩnh thị trường nội
địa của tư bản nước ngoài, xác định tốc độ tăng trưởng kinh tế hợp lý, vừa bảo đảm
tốc độ phát triển kinh tế tối ưu, vừa bảo đảm thực hiện công bằng xã hội, có chính
sách huy động nhiều tiềm lực trong nước để thực hiện chủ trương chiến lược lấy

kinh tế nước ta nhiều thời cơ và mang cả những thách thức, cả thuận lợi và khó
khăn. Việt Nam phải kiên trì giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa, chú trọng xây
dựng Nhà nước vững mạnh, hiện đại và là Nhà nước “của dân, do dân và vì dân”
như lời Chủ tich Hồ Chí Minh đã căn dặn.
Danh mục tài liệu tham khảo
1. Bàn về thuế lương thực ( V.I. Lênin toàn tập – tập 43 )
2. Giáo trình Kinh tế chính trị ( NXB Chính trị quốc gia )
3. Kinh tế và chính trị trong thời đại chuyên chính vô sản ( NXB Sự thật 1976 )
4. Những hạn chế của Liên Xô 1927 ( Tổng bí thư ĐCS Nga Stalin )


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status