Lời nói đầu
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI nền kinh tế nớc ta đang từng bớc
chuyển sang nền kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc, theo định hớng xã hội
chủ nghĩa. Trong một môi trờng mới, điều kiện cơ chế quản lí thay đổi, khi hiệu quả
sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố sống còn của mổi doanh nghiệp thì các doanh
nghiệp thuộc khu vực kinh tế nhà nớc đã lộ những yếu kém, lâm vào tình trạng sa sút
và khủng hoảng. Các Nghị quyết của Đại hội VI và VII của Đảng đã đề ra một trong
những giải pháp chiến lợc nhằm tháo gỡ và giải quyết những khó khăn đồng thời để
cấu trúc lại khu vực kinh tế nhà nớc đạo đó là tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp
Nhà nớc nhằm đa dạng hoá sở hữu, đa các yếu tố cạnh tranh làm động lực để tăng
hiệu quả kinh doanh và xác lập một mô hình doanh nghiệp hữu hiệu trong nền kinh tế
thị trờng. Đây là giải pháp có tính phổ biến để cải cách khu vực kinh tế Nhà nớc ở
hầu hết các nớc trên thế giới.
Xuất phát từ những mục đích khác nhau hoặc là để khắc phục sự yếu kém của
doanh nghiệp Nhà nớc, hoặc là để giải quyết vấn đề huy động và nâng cao hiệu quả
và sử dụng vốn trong doanh nghiệp, hoặc là để đa dạng hoá sở hữu và xác định ngời
chủ cụ thể của doanh nghiệp nên khi nghiên cứu và giải quyết vấn đề cổ phần hoá
doanh nhiệp Nhà nớc ngời ta có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Từ lĩnh vực nghiên
cứu lý luận cơ bản, thu thập thông tin cùng với sự hớng dẫn, giúp đỡ tận tình của thầy
cô giáo em đã đi đến việc nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc. Đồng thời tổng hợp những
thông tin về định hớng phát triển và những giải pháp-kiến nghị.
Kết cấu bài viết gồm 3 phần
Phần I: Tổng quan về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
Phần II: Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc Việt Nam trong
1
thời gian qua
Phần III: Một số giải pháp nâng cao hiệu quá trình cổ phần hoá doanh
nghiệp Nhà nớc
Do trình độ kiến thức còn hạn chế cho nên bài viết này của em khó tránh
3
của một đơn vị kinh tế Nhà nớc đạt tới hiệu quả kinh tế cao hơn. CPH doanh nghiệp
Nhà nớc hay chuyển DNNN thành công ty cổ phần là một biện pháp chuyển DNNN
từ sở hữu Nhà nớc sang hình thức sở hữu nhiều thành phần, trong đó tồn tại một phần
sở hữu của Nhà nớc. Việc điều hành doanh nghiệp sẽ do các cổ đông tham gia quyết
định tuỳ vào cổ phần đóng góp. CPH là một nội dung của đa dạng hoá sở hữu, xây
dựng nền kinh tế nhiều thành phần, là quá trình chuyển đổi hình thức sở hữu của một
đơn vị kinh tế Nhà nớc nhằm đạt hiệu quả kinh tế cao hơn.
CPH kinh tế Nhà nớc hiện nay đang trở thành bức thiết và Nhà nớc ta coi đó là
một chủ trơng lớn trong chính sách cải cách kinh tế.
1.2.Thực chất cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
Xét về thực chất CPH chính là phơng thức thực hiện xã hội hoá sở hữu, chuyển
hình thái kinh doanh thành công ty cổ phần với nhiều chủ sở hữu để tạo ra một mô
hình doanh nghiệp phù hợp với nền kinh tế thị trờng và đáp ứng đợc yêu cầu của kinh
doanh hiện đại. ở các nớc có nền kinh tế thị trờng, CPH đợc coi là một trong những
giải pháp chủ yếu để t nhân hoá khu vực doanh nghiệp Nhà nớc. Quá trình này đã đợc
một số nớc công nghiệp phát triển áp dụng từ những năm đầu của thập kỉ 60. Cho đến
nay đã có khoảng 80 nớc trên thế giới áp dụng giải pháp CPH và đều đa ra kết luận
cho thấy đây là một giải pháp tốt đa lại kết quả thiết thực, nâng cao hiệu quả lợi
nhuận của doanh nghiệp và lợi ích chung của toàn bộ nền kinh tế quốc dân. Sau khi
xác định trị giá của doanh nghiệp theo giá thị trờng, thì trị giá đó đợc chia đều thành
các phần bằng nhau, gọi là các cổ phần. Tổng số các cổ phần đó đợc đem bán cho
các đối tợng có nhu cầu. Nhà nớc với t cách là ngời bán có thể giữ lại một số cổ phần
trong tổng số cổ phần của doanh nghiệp. Sau khi bán xong, những ngời đã mua cổ
phần đợc gọi là cổ đông- những ngời chủ mới của doanh nghiệp sẽ nhóm họp để
thông qua bản điều lệ, và bầu ra hội đồng quản trị và quyết định chiến lợc và các ph-
ơng án kế hoạch kinh doanh của công ty cổ phần mới.
4
Quá trình CPH nêu trên thực chất là quá trình chuyển đổi một phần hoặc toàn bộ
trị giá của DNNN cho các thành phần kinh tế và cá nhân, hay nói cách khác CPH
hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Giúp Nhà nớc thu hồi đợc một số tài
sản nhờ bán bớt cổ phần cho nhân dân để đầu t vào các ngành trọng điểm khác. Nhờ
cách tổ chức theo hình thức một công ty đối vốn, nó sẽ làm giảm bớt sự can thiệp
không cần thiết của các cơ quan nhà nớc, tạo điều kiện dễ dàng hơn trong việc ra các
quyết định kinh doanh; hơn nữa, do tính chất của công ty cổ phần sẽ tách biệt đợc
phần vốn kinh doanh của Nhà nớc với tài chính quốc gia nói chung, tránh trờng hợp
các rủi ro của kinh doanh trở thành gánh nặng của ngân sách Nhà nớc. Mặt khác,
giúp cho các xí nghiệp quốc doanh đang có triển vọng phát triển, nhng thiếu vốn có
thể tự tạo ra dợc nguồn vốn thông qua việc phát hành cổ phiếu và trái phiếu. Muc
đích của viêc CPH doanh nghiệp nhà nớc là huy động vốn của toàn xã hội, các cá
nhân, các tổ chức kinh tế xã hội trong và ngoài nớc. Nhờ hình thức huy động vốn trực
tiếp, thông qua việc phát hành cổ phiếu, trái phiếu, ngân sách và tổ chức tín dụng bớt
một phần tài trợ để phát triển kinh doanh, để đầu t đổi mới công nghệ, tạo thêm việc
làm cho ngời lao động, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ
cấu DNNN, vì hiện nay nhu cầu vay vốn vợt quá sức cung của các nguồn tài trợ. Đặc
biệt kể từ năm 1992 ngân sách nhà nớc không còn bao cấp nột phần vốn hoạt động
của xí nghiệp Nhà nớc. Việc chuyển các DNNN thành các công ty cổ phần sẽ tạo
điều kiện thiết thực nhất để ngời lao động trong các DNNN có cổ phần, giúp nâng
cao vai trò làm chủ thực sự, thực hiện quyền làm chủ, tạo thêm động lực, thúc đẩy
doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả, tăng tài sản cho Nhà nớc, nó góp phần nâng
cao thu nhập cho ngời lao động, góp phần làm tăng trởng kinh tế đất nớc. Các mục
đích của CPH doanh nghiệp Nhà nớc thực chất là nhằm chuyển hình thái kinh doanh
một chủ với sở hữu nhà nớc toàn phần trong doanh nghiệp thành công ty cổ phần hổn
hợp nhà nớc t nhân hoặc công ty cổ phần t nhân và tạo điều kiện xác lập thị trờng
tài chính, mà cốt lõi là thị trờng chứng khoán để chuyển phơng thức vay mợn từ ngân
6
hàng sang huy động vốn trên thị trờng tài chính. Đó là xu hớng hữu sản hoá công
nhân.
Các mục tiêu trên có quan hệ mật thiết với nhau trong một thể thống nhất. Khi
đạt đợc mục tiêu chuyển đổi sở hữu thì mục tiêu thu hút vốn, hay thu hồi vốn cho
Chính phủ đã xác định rõ loại doanh nghiệp cha cổ phần hoá gồm: các doanh
nghiệp hoạt động công ích. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm, cung ứng dịch vụ
Nhà nớc độc quyền kinh doanh nh:vật liệu nổ, hoá chất độc, chất phóng xạ, in bạc và
các chứng chỉ có giá, mạng trục thông tin quốc gia và quốc tế. Số doanh nghiệp Nhà
nớc còn lại thuộc diện cổ phần hoá hoặc các hình thức chuyển đổi sở hữu khác. Đây
là định hớng lâu dài để Nhà nớc cơ cấu lại doanh nghiệp Nhà nớc. Tuy nhiên trong
giai đoạn từ năm 1998 đến nay đối với một số doanh nghiệp hoạt động ở một số lĩnh
vực quan trọng nh tạo nguồn thu lớn cho Nhà nớc và nền kinh tế về ngoại tệ,vật t
chiến lợc hoặc hoặc là công cụ giúp cho nhà nớc điều tiết vĩ mô nền kinh tế thì Nhà
nớc vẫn tiếp tục giữ 100% vốn, cha cổ phần hoá. Còn đối với với doanh nghiệp đợc
phép cổ phần hoá mà đóng vai trò nòng cốt dẫn dắt nền kinh tế trong quá trình công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì Nhà nớc phải giữ cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt. Số
doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề thông thờng, ngời dân có điều kiện làm ăn kinh
doanh tốt hơn Nhà nớc thì sẽ đợc cổ phần hoá, trong đó Nhà nớc có thể tham gia hoặc
không nhất thiết tham cổ phần.
1.2.3. Điều kiện để cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
8
Trong điều kiện nớc ta hiện nay những doanh nghiệp có đủ các yếu tố sau đây sẽ
là đối tợng tốt để thực hiện CPH:
Thứ nhất, là các doanh nghiệp có quy mô vừa. Kinh nghiệm các nớc cho thấy
để tiến hành CPH doanh nghiệp cần đảm bảo:
-Vốn cổ phần không dới 500 triệu đồng.
-Số ngời mua cổ phiếu cho phép bán hết cổ phiếu của doanh nghiệp.
Thứ hai, các đơn vị kinh tế quốc doanh không nằm trong danh mục Nhà nớc cần
đầu t 100% vốn.
Thứ ba, những doanh nghiệp làm ăn có lãi thực, hoặc trớc mắt tuy cha có lãi gặp
khó khăn song có thị trờng ổn định và phát triển có hứa hẹn một tơng lai tốt đẹp. Có
mấy lý do để chọn đơn vị làm ăn có lãi và có tơng lai hứa hẹn để CPH:
đội ngũ này thì sẽ không có các công ty cổ phần, sẽ không có ngời mua cổ phiếu và
công việc cổ phần hoá sẽ thất bại.
Khi bắt đầu công cuộc đổi mới, chúng ta đã khẳng định phải tạo sự bình đẳng
giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, đối với
các DNNN vẫn còn có nhiều u đãi nh: đợc cấp vốn, chi phí phải trả thấp, u đãi tín
dụng Doanh nghiệp ít chịu rủi ro, lỗ thì Nhà n ớc chịu, lãi thì đợc hởng phần lớn. Do
đó cán bộ công nhân viên của DNNN còn ngại CPH.
1.3. Các phơng pháp cổ phần hoá
1.3.1. Các phơng pháp cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
10
Bán cổ phần cho công chúng. Đó là việc Nhà nớc bán toàn bộ hay một phần sở
hữu Nhà nớc trong doanh nghiệp cho công chúng. Việc bán này thờng đợc thông qua
sở giao dịch chứng khoán hay một tổ chức tài chính trung gian. Việc bán cổ phần cho
công chúng cho phép các tầng lớp dân c rộng rãi có thể mua đợc cổ phần và phù hợp
với mong muốn của chính phủ khuyến khích mở rộng và đa dạng hoá cơ cấu sở hữu
trong DNNN. Mặt khác, biện pháp này cũng nhằm làm giảm sự tập trung tài sản kinh
tế của các nhóm t nhân, mở rộng quy mô và chiều sâu của thị trờng chứng khoán.
Bán cổ phần cho t nhân là phơng pháp đợc sử dụng rất phổ biến. Nhà nớc bán
một phần hay toàn bộ số cổ phần của doanh nghiệp thuộc sở hữu một phần hay toàn
bộ của Nhà nớc cho một số cá nhân hay một nhóm nhà đầu t t nhân thông qua đấu
thầu có tính cạnh tranh hay những ngòi mua đã đợc xác định trớc. Phơng pháp này đ-
ợc áp dụng rộng rãi do tính linh hoạt của nó trong các điều kiện cụ thể, do tính đơn
giản về các yêu cầu pháp lý do đó tốc độ triển khai thực hiện nó nhanh hơn. Phơng
pháp này đợc u tiên sử dụng với các DNNN đang hoạt động yếu kém, cần những ngời
chủ đủ mạnh và có kinh nghiệm.
Bán cho những ngời quản lý và lao động mua doanh nghiệp. Phơng pháp này th-
ờng đựoc áp dụng đối với các doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ. Nó tạo ra sự
khuyến khích lớn đối vối việc tăng năng suất, đồng thời, cũng là cách giải quyết vấn
đề lao động trong trờng hợp doanh nghiệp sắp bị giải thể. Phơng pháp bán cổ phần
12
Lựa chọn DNNN để cổ phần hoá. Việc lựa chọn phải căn cứ vào đối tợng đợc
thực hiện CPH, khả năng và tình hình tài chính của mổi doanh nghiệp, và vào yêu cầu
của từng doanh nghiệp. Việc lựa chọn và quyết định doanh nghiệp CPH do bộ trởng
các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc chính phủ, chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
tỉnh lựa chọn và quyết định.
Thực hiện việc phê duyệt phơng án CPH và quyết định chuyển DNNN thành
công ty cổ phần.
Tiến hành định giá doanh nghiệp. Giá trị thực tế của doanh nghiệp là toàn bộ
tài sản hiện có của doanh nghiệp tại thời điểm CPH mà ngời mua, ngời bán cổ phiếu
đều chấp nhận đợc, trị giá của doanh nghiệp là giá cả của doanh nghiệp khi bán cho
chủ sở hữu khác vì vậy nó cũng chịu sự chi phối của thị trờng, quan hệ cung cầu tại
thời điểm CPH. Việc xác định trị giá doanh nghiệp đợc tiến hành theo trình tự sau:
-Xác định trị giá vốn của doanh nghiệp theo số liệu kiểm kê thời điểm 1-1-1992
và điều chỉnh theo hệ số tại thời điểm 1-1-1993.
-Đánh giá lại trị giá tài sản và vốn trong diện CPH.
-Phân tích phơng án kinh doanh và lợi nhuận trong 5 năm tới.
-Xác định sơ bộ trị giá doanh nghiệp theo phơng án lợi nhuận trên.
-Dự kiến trị giá doanh nghiệp và báo cáo lên hội đồng thẩm định xem xét trớc khi
trình lên cấp có thẩm quyền quyết định.
-Xác định tổng số cổ phần và mệnh giá cổ phiếu.
Giá trị thực tế đợc xác định trên cơ sở về hiện trạng phẩm chất, tính năng kĩ
thuật, nhu cầu sử dụng của ngời mua tài sản và giá thị trờng tại thời điểm CPH sau đó
trừ đi các khoản nợ phải trả và do Bộ trởng Bộ Tài chính hớng dẫn. Bộ trởng Bộ Tài
chính quyết định giá doanh nghiệp có mức vốn Nhà nớc ghi trên sổ sách kế toán tại
thời điểm cổ phần hoá trên 10 tỷ đồng. Căn cứ vào hớng dẫn của Bộ trởng Bộ Tài
chính, bộ trởng các bộ liên quan, chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc
Trung Ương, hội đồng quản trị của Tổng công ty 91 quyết định giá trị của doanh
13
nghiệp có mức vốn Nhà nớc ghi trên sổ kế toán đến thời điểm CPH từ 10 tỷ trở
ngày càng d thừa, biên chế ngày càng phình to, hoạt động ngày càng kém hiệu quả.
Có sự thay đổi quan điểm về vai trò điều tiết của Nhà nớc trong nền kinh tế thị
trờng. Vấn đề đa dạng hoá hoá sở hữu đợc đặt ra và thực hiện do sự thay đổi của
nhận thức từ chổ nhấn mạnh vai trò khu vực kinh tế Nhà nớc đến chổ tôn trọng nhiều
hơn vào khu vực kinh tế t nhân và vai trò điều tiết của cơ chế thị trờng. Nhà nớc can
thiệp và điều tiết ở mức độ hợp lý dựa trên sự tôn trọng các quy luật của kinh tế thị tr-
òng. Chính sách phát triển kinh tế là dựa vào thị trờng và coi cạnh tranh là động lực
phát triển đang ngày càng chiếm u thế.
Cuối những năm 1970 và đầu thập kỉ 80, xu hớng phổ biến ở hầu hết các nớc là
đánh giá lại vai trò và hiệu quả kinh tế xã hội của khu vực kinh tế Nhà nớc. Các n-
ớc đã xem xét hoặc triển khai một cách tích cực việc xem xét hay loại bỏ sở hữu Nhà
nớc trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực của nền kinh tế.
Chính do những yếu trên mà xu hớng CPH doanh nghiệp Nhà nớc là một tất yếu
ở các nớc, đặc biệt là các nớc đang phát triển.
ở nớc ta, kinh tế thị trờng có sự điều tiết của Nhà nớc đã từng bớc thay thế nền
kinh tế tập trung bao cấp. Đặc trng của nền kinh tế Việt Nam khi chuyển sang nền
kinh tế thị trờng là khu vực kinh tế quốc doanh chiếm tỷ trọng lớn nhng việc chuyển
đổi lại rất chậm. Thời gian qua ngân sách nhà nớc đã phải đầu t một tỷ trọng vốn lớn
cho các DNNN nhng hiệu quả thu đợc rất thấp trong khi ngân sách Nhà nớc lại có
hạn và phải dàn trải cho các khoản chi tiêu khác. Qua số liệu điều tra của Tổng cục
Thống kê năm 1993 cho thấy : trong 6544 DNNN ( trong tổng số 7060 doanh nghiệp
) đang hoạt động có 3268 doanh nghiệp thuộc diện đề nghị phải giải thể hoặc chuyển
đôỉ hình thức sở hữu chiếm 49,95% số doanh nghiệp đợc Nhà nớc đầu t.
15
Để xử lý tình trạng thiếu vốn và tạo cơ chế quản lý tài chính có hiệu lực, thực sự
ràng buộc trách nhiệm trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các DNNN thì giải
pháp cần làm là thực hiện CPH một số doanh nghiệp Nhà nớc.
3. Kinh nghiệm CPH doanh nghiệp Nhà nớc ở một số nớc
3.1. Cổ phần hoá ở nhóm các nớc t bản phát triển
cải cách khu vực DNNN Trung Quốc gặp nhiều khó khăn (về kinh nghiệm, về thực
lực vốn và con ngời, về mô hình và biện pháp cải cách ).
Trung Quốc nhận thấy vai trò của công ty cổ phần trong nền kinh tế thị trờng
XHCN ở khía cạnh xã hội hoá đầu t thông qua việc huy động vốn cổ đông trong và
ngoài nớc và xây dựng cơ chế quản lý doanh nghiệp dân chủ hơn. Doanh nghiệp thực
sự trở thành pháp nhân chủ thể kinh doanh tự chịu trách nhiệm về lổ lãi, chịu trách
nhiệm trớc cổ đông và luật pháp. Mục tiêu CPH là tách quyền sở hữu vốn tập trung
của Nhà nớc ở doanh thành quyền sở hữu cổ đông và phân định quyền sở hữu vốn của
các cổ đông và quyền quản trị sản xuất kinh doanh để tạo môi trờng xã hội hoá và
dân chủ hoá trong sản xuất kinh doanh.
Về phơng thức CPH, bán một số cổ phần của doanh nghiệp cho các cổ đông
trong và ngoài doanh nghiệp, cả ở nớc ngoài để hình thành tổ hợp cổ đông đa sở hữu
và thành lập công ty cổ phần chấm dứt pháp nhân cũ là DNNN.
Về kết quả CPH, về cơ bản các DNNN đã đợc CPH đang đi vào làm ăn có hiệu
quả hơn.
17
Bên cạnh những gì mà Trung Quốc đã đạt đợc trong quá trình cổ phần hoá
DNNN thì Trung Quốc còn có một số hạn chế: Phần lớn những ngời lãnh đạo doanh
nghiêp CPH là những ngời ở DNNN trớc đây, có thể do yêu cầu của cổ đông trong
thời kì chuyển đổi có thể do thiếu chỉ đạo áp dụng cơ chế tuyển chọn, thuê mợn. Việc
đánh giá tài sản Nhà nớc để CPH còn nhiều vớng mắc, tài sản thờng bị đánh giá thấp
nh là biện pháp bán cổ phần, hậu quả là làm tổn hại đến lợi ích kinh tế Nhà nớc, cũng
có khi chúng lại bị định giá cao. Cơ chế kiểm tra giám sát hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp và trách nhiệm của ngời lãnh đạo cha đáp ứng đợc yêu cầu của chế độ
công ty cổ phần. Các nội dung CPH của Trung Quốc ở trên đều rất giống ở Việt
Nam.
Quan niệm CPH ở Trung Quốc là cải tạo DNNN thành công ty cổ phần. Do đó,
CPH đợc coi là phơng pháp để thực hiện công ty hoá. Công ty hoá là kết quả của cổ
phần hoá DNNN, chuyển chúng sang hoạt động theo các nguyên tắc kinh tế thị trờng
và của kiểu tổ chức công ty hiện đại theo mô hình các nớc phát ttiển. Còn ở Viêt Nam