LUẬN VĂN:
Sự đổi mới doanh nghiệp Nhà
nước Việt Nam trong nền kinh tế
Lời mở đầu Cùng với quá trình sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước có tính phổ biến và sự
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, nhiều hình thức sở hữu. Bởi vậy việc sắp xếp
Thực tiễn ở nước ta cũng như ở các nước khác đều chứng tỏ nền kinh tế nhiều
thành phần tồn tại như là một tất yếu khách quan, chủ yếu quyết định bởi các nguyên
nhân sau:
+ Một là: Yêu cầu của quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ
phát triển của lực lượng sản xuất. Đối với nước ta hiện nay, một nước mà nền kinh tế
còn kém phát triển, trang bị kỹ thuật lạc hậu, kết cấu hạ tầng thấp kém cùng với sự
phát triển không đồng đều giữa các ngành. Các vùng thì quá trình vươn tới mục tiêu
trên nhất thiết phải trải qua một thời gian nhất định. Sau 15 năm đổi mới và mở cửa
(1986 - 2000) chính sách kinh tế nhiều thành phần đã được nhân dân ủng hộ rộng rãi
và nhanh chóng đi vào cuộc sống, góp phần phát huy quyền làm chủ của nhân dân về
kinh tế, khơi dậy tiềm năng sức sáng tạo của nhân dân và phát triển sản xuất, dịch vụ,
tạo thêm việc làm cho người lao động và sản phẩm cho xã hội, thúc đẩy hình thành
và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra sự cạnh tranh
sôi động trên thị trường nhằm nâng cao hiệu quả của nền sản xuất xã hội.
Hai là: Yêu cầu của sự hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường, từng bước
hoàn thiện các loại thị trường theo định hướng XHCN. Xây dựn nền kinh tế thị trường
hiện đại đó là mục tiêu mà chúng ta cần phải hướng tới. Quá trình hình thành và mở
rộng đồng bộ các loại thị trường hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, vốn, sức lao động kỹ
thuật là quá trình diễn ra liên tiếp các cuộc cạnh tranh sôi động nhằm mục tiêu lợi
nhuận giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế. Trong quá trình cạnh tranh
để tồn tại và phát triển đó, các thành phần kinh tế vừa phủ định lẫn nhau, vừa là điều
kiện của nhau và hợp tác với nhau. Vì vậy, sự tồn tại của doanh nghiệp là một hiện
tượng tự nhiên tất yếu có tác dụng lành mạnh hoá và nâng cao sức sống của nền kinh
tế quốc dân.
Ba là: Yêu cầu của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại hóa đất nước.
Với mục tiêu "Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển, nâng cao rõ rệt đời sống
vật chất và tinh thần của nhân dân tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản
Các định nghĩa của các nhà kinh tế học đã nêu rõ được vị trí, vai trò của doanh
nghiệp trong nền kinh tế, phản ánh mối quan hệ cung, cầu, quy định về sản lượng của
doanh nghiệp trong khuôn khổ giới hạn về năng lực và mục tiêu lâu dài của nó.
Tóm lại: Có thể xin nêu ra các khía cạnh đặc trưng chủ yếu sau đây của doanh
nghiệp.
* Doanh nghiệp là một tổ chức sống, một chủ thể hoạt động sản xuất kinh
doanh hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu thị trường.
* Doanh nghiệp là một hệ thống mở có quan hệ khăng khít với môi trường sản
xuất kinh doanh.
+ Doanh nghiệp có tư cách pháp nhân.
* Mục đích hoạt động của Doanh nghiệp là tìm kiếm lợi nhuận doanh nghiệp
sản xuất kinh doanh hoặc hoạt động phục vụ cho các nhu cầu xã hội (doanh nghiệp
công ích)
- Chức năng doanh nghiệp:
Trong hai thập kỷ gần đây chuyên ngành khoa học quản lý đã khẳng định một
doanh nghiệp nói chúng bao gồm 5 chức năng chính sau:
+ Chức năng sản xuất
+ Chức năng thương mại.
+ Chức năng cung ứng.
+ Chức năng tài chính.
+ Chức năng quản lý doanh nghiệp.
a. Chức năng sản xuất :
Sản xuất và việc sử dụng những nguồn lực để đổi những nguồn vật chất và tài
chính thành của cải và dịch vụ đồng thời những sản phẩm này phải đòi hỏi phù hợp
với nhu cầu xã hội. Chức năng sản xuất bao gồm: Quản lý sản xuất chính, phụ trợ và
quá trình phục vụ có tính chất sản xuất. Sản xuất phải đáp ứng nhu cầu của xã hội và
người tiêu dùng. Nếu nhu cầu thay đổi đòi hỏi sản xuất phải thay đổi theo.
dụng vốn.
+ Phương diện tài trợ: bảo đảm cấp vốn cho các hoạt động của doanh nghiệp
bao gồm các vấn đề tài trợ cho đầu tư và tài trợ khai thác.
e. Chức năng quản lý doanh nghiệp :
Chức năng quản lý doanh nghiệp và một loại hoạt động rất yếu khách quan
và có tính độc lập tương đối, nảy sinh do kết quả của quá trình phân công lao động
và chuyên môn hoá. Quản lý là một khoa học, là kết quả của hoạt động nhận thức có
đối tượng nghiên cứu. Đó là các mối quan hệ quản lý thông qua các quy luật. Đồng
thời quản lý là một nghệ thuật nó gắn bó chặt chẽ với chủ thể quản lý là mỗi tình
huống yêu cầu một cách quản lý khách nhau. Các nhiệm vụ cơ bản của chức năng
quản lý.
- Dự toán: Dự toán tương lai của hiện tượng và các vấn đề kinh tế trên cơ sở
khoa học. Dự toán có tính hướng dẫn.
- Kế hoạch hoá: Xây dựng phương án về mục tiêu và các bước đi cụ thể, đây
là một nhiệm vụ trung tâm.
- Tổ chức: là việc kết hợp liên kết các bộ phận riêng thành hệ thống trong
doanh nghiệp, là cơ sở cho việc vận hành một cơ chế theo các chức năng đã định.
- Kiểm tra: dựa trên kế hoạch và mục tiêu để xem xét đánh giá toàn bộ quá
trình sản xuất, kinh doanh một cách toàn diện thường xuyên.
- Hạch toán: đảm bảo cung cấp thông tin chính xác, cần thiết và kịp thời cho
chủ thể quản lý và ra quyết định cũng như đánh giá đúng tình hình của đối tượng quản
lý.
- Điện hoá: tạo nên sự ăn khớp, nhịp nhàng của quá trình sản xuất, kinh doanh.
- Động viên: Phát huy khả năng vô tận của đối tượng quản lý vào quá trình sản
xuất, kinh doanh.
1.1.3. Thực trạng của doanh nghiệp Nhà nước hiện nay ở Việt Nam.
Với việc nghiên cứu vận dụng bài học kinh nghiệm của các nước trên thế giới
gắn bó với những khó khăn cho phép của doanh nghiệp như vốn, lao động công nghệ.
Từ những kế hoạch đó sẽ tạo cho doanh nghiệp một cơ cấu tổ chức hợp lý. Xác định
cụ thể nhiệm vụ cho từng biên chế. Có như vậy mới có thể là cơ sở đảm bảo cho việc
đạt được những mục đích của doanh nghiệp.
Mục đích của doanh nghiệp:
Rõ ràng mục đích của doanh nghiệp bao giờ cũng thê hiện khuynh hướng tồn
tại, phát triển và đa dạng hoá. Thực hiện mục đích to lớn này là bảo đảm cho doanh
nghiệp ít nhất thoả mãn các đòi hỏi trên, trang trải vốn, lao động, bảo toàn tính độc
lập, cho phép thoả mãn những yêu cầu xã hội của mọi thành viên trong doanh nghiệp
và cấp thiết hơn đó là sự tồn tại trong cơ chế cạnh tranh của thị trường. Doanh nghiệp
có 3 mục đích cơ bản:
- Mục đích xã hội : Cung cấp hàng hoá và dịch vụ đáp ứng nhu cầu của xã hội.
Đây là mục đích quan trọng trong hàng đầu của các doanh nghiệp hoạt động công ích.
- Mục đích kinh tế: Thu lợi nhuận. Đây là mục đích quan trọng hàng đầu của
các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Mục đích thoả mãn các nhu cầu cụ thể và đa dạng của mọi người tham gia
hoạt động trong doanh nghiệp.
Trong thực tiễn mục đích của doanh nghiệp được thể hiện thông qua mong
muốn của các nhà lãnh đạo. Các mục đích này trứơc hết là ý nguyện của các nhà lãnh
đạo nhưng cũng bị chi phối bởi nguyên vọng của người lao động, văn hoá, lịch sử và
truyền thống của doanh nghiệp cũng như các điều kiện môi trường.
Biểu hiện sinh động nhất và là chỉ trên tổng hợp về mục đích kinh tế là doanh
nghiệp hướng tới tìm kiếm lợi nhuận. Tuy nhiên, việc tìm kiếm lợi nhuận phải được
hiểu đó không chỉ là phương tiện mà còn là kết quả hoạt động. Thậy vậy, để đạt lợi
nhuận trong tương lai, doanh nghiệp không phải chỉ theo đuổi một mục đích duy nhất
mà hầu như có nhiều mục đích, giữa chúng hình thành một thứ bậc. Điều này còn
được nhấn mạnh ở chỗ mục đích tìm kiếm lợi nhuận tối đa nhiều khi không cho phép
doanh nghiệp đặt ra một chương trình hành động và mục đích cần có những kế hoạch
các mục tiêu chung như giảm chi phí, tăng vòng quay vốn, hiệu suất sử dụng vốn.
- Mục tiêu tối đa hoá giá trị xí nghiệp: thường đối với các doanh nghiệp có cổ
phần, mục tiêu này có liên quan đến các chức năng tài chính và sẽ tác dụng tốt đến các
quyết định về tài chính của doanh nghiệp.
- Mục tiêu về tỷ suất lợi nhuận để cho phép các nhà lãnh đạo duy trì các hoạt
động tài chính.
-Mục tiêu tối đa doanh thu trong này buộc lợi nhuận.
- Tối đa hoá các hoạt động của các nhà lãnh đạo, cái mà phu thuộc nhiều vào
các phương sai như tiền lương, năng lực đầu tư lãnh đạo.
Về mặt xã hội, doanh nghiệp có thể có những mục tiêu nhu cung ứng thoả mãn
tối đa nhu cầu về phục vụ, bảo vệ bạn hàng. Đây cũng là những mục tiêu có tính cạnh
tranh phục vụ lâu dài cho doanh nghiệp. Tuy nhiên vấn đề đặt ra trước mắt là bổ sung
thêm vốn tích bao nhiêu lợi nhuận để đầu tư thêm các mục tiêu về nhu cầu của người
lao động, văn hoá, giáo dục, môi trường sinh thái…. Đặc biệt để củng cố sự phát triển
doanh nghiệp phải luôn luôn coi trọng đầu tư đổi mới công nghệ, kỹ thuật khai thác
triệt để khả năng về lao động và nguồn vốn của mình, coi đây là cơ sở quan trọng cho
mọi mục tiêu khác.
1.2.2. Sự cần thiết đổi mới doanh nghiệp nhà nước Việt Nam.
Trước đây, nước ta cũng như các nước xã hội chủ nghĩa thực hiện mô hình kế
hoạch hoá tập trung lấy mở rộng và phát triển khu vực kinh tế nhà nước bao gồm toàn
bộ nền kinh tế quốc dân làm mục tiêu cho công cuộc cải tạo và xây dựng chủ nghĩa
xã hội.
Vì vậy các doanh nghiệp Nhà nước đã được phát triển một cách rộng khắp
trong tất cả các lĩnh vực cơ bản với tỷ trọng tuyệt đối trong nền kinh tế quốc dân, bất
chấp hiệu quả đích thực mà chúng mang lại.
Sở hữu Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước và chủ nghĩa xã hội được đồng nhất
với nhau. Nhiều dự án, kế hoạch và một số lượng rất lớn vốn đầu tư của nhà nước
Số doanh nghiệp Nhà nước kinh doanh có hiệu quả ngày càng tăng và đang
đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần. Trong các năm
1987 - 1997 tốc độ tăng trưởng bình quân hàng năm của khu vực kinh tế Nhà nước đạt
8,6% bằng 1,3 lần tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân và bằng 1,5 lần tốc độ
tăng trưởng của khu vực phi nhà nước.
Đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực kết cấu hạ
tầng kỹ thuật năng lượng, dầu khí , giao thông, bưu chính viễn thông… đã tạo điều
kiện cho doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác phát triển, đồng thời thúc
đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Chương II:
Thực trạng đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước Việt nam
I. Các hình thức đổi mới Doanh nghiệp Nhà nước
2.2.1. Tổ chức lại các doanh nghiệp Nhà nước
a. Xác định lại mức độ quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan đại diện quyền sơ
hữu của Nhà nước, cơ quan quản lý cấp trên thực tế của doanh nghiệp.
b/ Xác định lại quyền hạn của Đại hội công nhân viên chức để đảm bảo quyền
sở hữu của Nhà nước.
c/ Thành lập hội đồng quản trị, quy định cơ cấu Hội đồng quản trị cùng nhiệm
vụ , quyền hạn của hội đồng quản trị.
d/ Quy định cách thức bổ nhiệm giám đốc doanh nghiệp nhà nước cùng nhiệm
vụ quyền hạn và trách nhiệm của giám đốc trong việc điều hành hoạt động của doanh
nghiệp nhà nước
2) Tổ chức xí nghiệp quốc doanh thành Công ty cổ phần trong đó tỷ lệ cổ phần
của Nhà nước trong công ty phụ thuộc vào vị trí của doanh nghiệp nhà nước trong nền
kinh tế, trong ngành kinh tế kỹ thuật và trong đó ưu tiên bán cổ phần cho cán bộ công
nhana viên chức trong doanh nghiệp nhà nước.
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của các nước đang phát triển Châu á
không phải do các khoản nợ nước ngoài của chính phủ quá lớn. Hơn mức nền kinh tế
các nước này đã được phát triển ổn định với tốc độ nhanh trong nhiều năm qua. Phần
lớn doanh nghiệp nhà nước của Nic và các nước ASEAN đều hoạt động theo cơ chế
thị trường nhằm mục tiêu lợi nhuận nếu kinh doanh không có hiệu quả thì sẽ bị phá
sản. Như vậy cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước của các nước đang phát triển ở khu
vực Châu á nhằm 2 mục tiêu chủ yếu.
+ Điều chỉnh quan hệ sở hữu trong nền kinh tế bằng cách Nhà nước rút khỏi
những ngành, những lĩnh vực xét thấy không cần thiết phải nắm giữ và duy trì độc
quyền của mình mà chuyển giao cho khu vực kinh tế tư vấn kinh doanh triển khai cạnh
tranh để nâng cao hiệu quả hoạt động.
+ Phát triển thị trường vốn trong nước. Điều này cho phép, đồng thời với bán cổ
phiếu của Nhà nước cho tư nhân, mở rộng thị trường vốn, huy động vốn qua đăng ký
và phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán cũng trở nên phổ biến làm cho số
lượng Công ty cổ phần tăng lên nhanh chóng ở các nước và vùng lãnh thổ như: Đài
Loan, Xingapo, Malaxia… Hàn Quốc….
- Riêng đối với thành phố Hà Nội là một trong số các địa phương có nhiều
doanh nghiệp Nhà nước được cổ phần hoá.
Trong số 880 doanh nghiệp Nhà nước trên địa bàn Hà Nội có 320 doanh
nghiệp do địa phương quản lý với khoảng 75-240 lao động trong 14 ngành kinh tế - kỹ
thuật. Để cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nước đạt được hiệu quả mong muốn, Hà Nội
thường nhấn mạnh bước đi cần thận trọng và vững chắc, vừa làm vừa rút kinh
nghiệm, chú ý giải quyết tốt vấn đề lao động và đảm bảo vai trò chủ đạo của kinh tế
nhà nước, thu hút đông đảo cán bộ cán cốt đặc biệt coi trọng công tác giáo dục, tuyên
truyền. Nhờ công tác tư tưởng và tổ chức được chuẩn bị chu đáo mà các bước tiếp theo
như xác định giá trị doanh nghiệp, giải quyết lao động dôi dư, lập các phương án sản
xuất kinh doanh nên các doanh nghiệp đã diễn ra suôn sẻ. Năm 1998 Hà Nội hoàn
kinh tế xã hội chủ nghiã là chế độ sở hữu nhà nước về tư liệu sản xuất do đó không thể
coi nhẹ và càng không thể loại bỏ doanh nghiệp nhà nước .
b) Bảo đảm cho từng loại doanh nghiệp nhà nước hoàn thành tốt nhiệm vụ được
giao và nâng cao hiệu quả hoạt động.
Mang lại lợi ích cho xã hội, đó là lý do tồn tại của bất kỳ một tổ chức kinh tế
nào. Doanh nghiệp nhà nước cũng vậy trong quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước
phải hết sức coi trọng vấn đề hiệu quả. Doanh nghiệp kinh doanh lấy lãi xuất sinh lời
trên vốn làm một trong những tiêu chí để đánh giá hiệu quả hoạt động của các doanh
nghiệp. Nhà nước cần mở rộng quyền hạn và khả năng tự chủ của các doanh nghiệp
nhà nước. Nhất là tự chủ về tài chính, bản thân doanh nghiệp nhà nước cần hết sức coi
trọng đổi mới thiết bị, công nghệ, quản lý…
c) Lựa chọn chính xác phạm vi hoạt động, tập trung nguồn lực để phát triển
kinh tế nhà nước trong những ngành, những lĩnh vực then chốt.
Đổi mới doanh nghiệp nhà nước để nâng cao hiệu quả và vai trò chủ đạo của
chúng trong nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần theo định hướng XHCN. Nhà nước
tập trung nguồn lực để phát triển kinh tế Nhà nước trong những ngành, lĩnh vực then
chốt như kết cấu hạ tầng kinh tế, kỹ thuật, xã hội, hệ thống tài chính, ngân hàng bảo
hiểm, những cơ sở sản xuất và thương nghiệp, dịch vụ quan trọng.
e) Chuẩn bị những điều kiện cần thiết để các doanh nghiệp nhà nước từng bước
chủ động hội nhập kinh tế khu vực và thế giới.
Sự phát triển và phân công lao động giữa các quốc gia làm cho khu vực hoá,
toàn cầu hoá nền kinh tế trở thành một xu hướng tất yếu, không thể đảo ngược để cho
các doanh nghiệp nhà nước dần dần hội nhập vào thị trường khu vực và thế giới. Nhà
nước cần có cơ chế chính sách đứng vững trên thương trường quốc tế, đuổi kịp trình
độ khoa học, công nghệ của các nước trong khu vực và trên thế giới.
*Giải pháp để cải cách doanh nghiệp nhà nước:
Đảng và Nhà nước ta đã đề ra chủ trương về cải cách doanh nghiệp nhà nước.
nước. Công cuộc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa luôn
luôn nhằm khai thác và phát huy tiềm năng các mặt của toàn xã hội. Cần đặc biệt coi
trọng quan hệ giữa doanh nghiệp nhà nước với các thành phần kinh tế khác. Chú trọng
phát triển các thành phần kinh tế khắc phục tình trạng ngăn cách và phân biệt đối xử
trong hoạt động kinh doanh làm triệt tiêu lẫn nhau hạn chế phát huy sức mạnh tổng
hợp của toàn bộ nền kinh tế xã hội.
c) Tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng trong sản xuất kinh doanh giữa các
thành phần kinh tế. Muốn vậy, các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, kể cả
Doanh nghiệp nhà nước phải chuyển sang hoạt động theo luật Doanh nghiệp nhà nước
thống nhất.Trên cơ sở đó, Nhà nước phải thực hiện một chính sách bảo hộ, khuyến
khích hạn chế tuỳ theo từng ngành, từng lĩnh vực hoạt động, không phân biệt doanh
nghiệp thuộc thành phần kinh tế nào.
d) Xác định đại diện chủ sở hữu tài sản của Nhà nước tại doanh nghiệp nhà
nước trên cơ sở phân biệt quyền sở hữu và quyền sử dụng quyền sở hữu gắn liền với
trách nhiệm trong đầu tư vốn ban đầu; trong quyền lựa chọn những chức danh cán bộ
quan trọng quyền thành lập, tổ chức lại doanh nghiệp nhà nước. Quyền sử dụng vốn là
quyền tự chủ tổ chức sản xuất - kinh doanh. Quyền ký kết các hợp đồng kinh tế phù
hợp với yêu cầu thị trường.
Đối với doanh nghiệp nhà nước quy mô lớn. Nhà nước giao quyền sử dụng vốn
cho tập thể cán bộ có năng lực và có tinh thần trách nhiệm được Nhà nước lựa chọn và
hoạt động theo hình thức Hội đồng quản trị.
Đối với doanh nghiệp nhà nước vừa và nhỏ, Nhà nước giao quyền sử dụng vốn
cho giám đốc gần với quy chế dân chủ trong doanh nghiệp nhà nước.
e) Hoàn thiện các chức năng quản lý của Nhà nước về kinh tế trên cơ sở tách
quyền chủ sở hữu Nhà nước của các cơ quan Nhà nước với quyền sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp nhà nước xoá bỏ chế độ cơ quan cấp hành chính chủ quản với doanh
nghiệp nhà nước là chủ thể sản xuất vốn.
f) Thiết lập một cơ quan độc lập để thực hiện chương trình cải cách doanh
nghiệp nhà nước trong một số năm. Như đã biết, cải cách doanh nghiệp nhà nước là
này góp phần khắc phục tư tưởng công chức tác phong hành chính, bị động, sợ sệt
trong sản xuất kinh doanh. Nếu họ từ vị trí công chức nhà nước thành nhà kinh doanh
thực sự, sống chế vì tồn tại và phát triển của Công ty, xí nghiệp đồng thời đây còn là
điều kiện thuận lợi để xây dựng giai cấp công nhân vững mạnh trong tình hình mới.
Thứ ba: Xóa bỏ được chế độ bao cấp ngân sách của Nhà nước, gạt bỏ được chỉ
đạo nhiều khi phi kinh tế của các cơ quan chủ quản bên trên. Đồng thời làm cho doanh
nghiệp nhà nước thực sự trở thành chủ thể kinh doanh, chỉ hoạt động vì mục tiêu trên
cuả doanh nghiệp mà tập thể cổ đông giao phó và hoạt động bình đẳng theo pháp luật,
luật Công ty, không bị chi phối ràng buộc kinh tế. Từ đó thực hiện được quyền làm
chủ và chủ động thực sự khắc phục nhược điểm làm chủ trừu tượng chung chung trong
các doanh nghiệp nhà nước, thực hiện thống nhất hài hoà về lợi ích giữa Nhà nước,
doanh nghiệp nhà nước và người lao động.
Thứ tư: Tạo điều kiện cải tiến đổi mới công tác lãnh đạo, quản lý doanh nghiệp
nhà nước tập trung vào đồng bộ thống nhất thực sự vì lợi ích chung và lợi ích riêng
trong doanh nghiệp nhà nước. Thông qua bộ máy điều hành, kết hợp phân phối theo
lao động và phân phối lợi nhuận ròng theo cổ phần, giải quyết thoả đáng quyền lợi của
người cổ đông có vốn với người lao động tham gia sản xuất kinh doanh.
Thứ năm: Tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhà nước được quyền tự chủ, chủ
động trong quan hệ tự nguyện liên doanh, liên kết kinh tế với các tổ chức và cá nhân
trong và ngoài nước, mở ra khả năng tự nguyện hợp tác kinh doanh.
Vậy sự đổi mới doanh nghiệp nhà nước cùng với chuyển đổi cơ chế chúng ta
bắt đầu nhận ra và mạnh dạn trong thay đổi chính sách đầu tư. Các chính sách tín
dụng, tình trạng kéo dài nhiều năm như hạn mức, thời gian, tỷ giá, lãi suất cho vay do
Nhà nước quyết định nay đã bắt đầu vận dụng theo tín hiệu thị trường. Còn đối với bản
thân doanh nghiệp nhà nước đã từng mở rộng cơ chế tự chủ và tự chịu trách nhiệm về
tài chính, vốn và tài sản Nhà nước đang được kiểm kê đánh giá lại, được giao vụ thể cá
nghĩa vụ bảo đảm và phát triển vốn cho người chủ đích thực doanh nghiệp nhà nước
phục một cách triệt để doanh nghiệp nhà nước không thể diễn ra một cách "thuận
buồm xuôi gió". Trái lại, đòi hỏi, phải quyết tâm cao và cố gắng hơn, tìm ra cách làm
phù hợp để hoàn thiện doanh nghiệp nhà nước, góp phần xây dựng nền kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
kết luận
Doanh nghiệp là những đơn vị kinh tế cơ sở tế bào của nền kinh tế quốc dân,
nơi trực tiếp tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh để sản xuất sản phẩm thực
hiện cung cấp các loại lao vụ, dịch vụ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội.
Để quản lý một cách có hiệu quả và tốt nhất đối với các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp nhà nước không phân biệt doanh nghiệp thuộc thành phần
loại hình kinh tế, lĩnh vực hoạt động hay hình thức sở hữu nào đều phải sử dụng đồng
thời hàng loạt các công cụ quanr lý khác nhau với mỗi doanh nghiệp nhà nước là
không thể thiếu trong quá trình cạnh tranh