LUẬN VĂN: Quy luật giá trị và vai trò của nó trong phát triển kinh tế thị trường ở việt nam doc - Pdf 12

LUẬN VĂN:

Quy luật giá trị và vai trò của nó
trong phát triển kinh tế thị
trường ở việt nam Phần mở đầu

Nền kinh tế thế giới đang trên đà phát triển mạnh mẽmà biểu hiện rõ nhất là quá
trình toàn cầu hoá , hội nhập kinh tế quốc tế. Tuy nhiên, tiến trình đó có không ít
những vấn đề như khủng hoảng kinh tế chu kỳ , suy thoái đạo đức, phân hoá giàu
nghèo…mà nguyên nhân chính, sâu xa nhât của nó bắt nguồn từ quy luật giá trị. Vậy
quy luật giá trị là gì, nó có vai trò ra sao , tác động của nó như thế nào là vấn đề
chúng ta cần làm rõ, nhất là trong quá trình phát triển kinh tế thị trường, định hướng
xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày nay.

sở lao động xã hội cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra hàng hoá đó .
- Yêu cầu của quy luật này:sản xuất ,trao đổi hàng hoá phải được tiến hành theo
nguyên tắc ngang giá.
Những người sản xuất và trao đổi hàng hoá tuân theo mệnh lệnh của giá cả thị
trường. Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động của
quy luật giá trị .Gía cả thị trường lên xuống xoay quanh giá trị hàng hoá và trở thành
cơ chế tác động của quy luật giá trị . Cơ chế này phát sinh tác dụng trên thị trường
thông qua cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền.Điều này cắt nghĩa vì sao khi
trình bày quy luật giá trị , một quy luật bao quát cả bản chất và các nhân tố cấu thành
cơ chế tác động của nó.
- Do tầm quan trọng của cơ chế tác động và để tăng ý nghĩa thực tiễn của quy luật giá
trị, những năm gần đây, các nhà khoa học thấy cần phải nhấn mạnh các nhân tố cạnh
tranh , lượng tiền cần thiết cho lưư thông và cung cầu đối với sự biến đoọng của giá
cả thị trường và trinhf bày chúng thành các quy luật kinh tế riêng, song về nhận thức
lý luận , chúng ta cũng chỉ nên coi chúng là những quy luật phát sinh từ quy nluật giá
trị, hiểu thao nghĩa đầy đủ của quy luật này.
1.1.3 Mối quan hệ giũa giá cả , giá cả thị trường, giá cả độc quyền và giá trị hàng
hoá.
Quy luật giá trị biểu hiện qua các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bảnthành
quy luật giá cả sản xuất( giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh) và thành quy
luật giá cả độc quyền ( giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền). Nó tiếp tục tồn tại và
hoạt động trong thời kỳ quá độ lên chủ nghjĩa xã hộỉ các nước xã hội chủ nghĩa ở các
nước và ở nước ta.
Ta xét mối quan hệ giũa giá cả , giá cả thị trường , giá cả độc quyền với giá trị
hàng hoá :
- Gía cả : là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá . Gía trị là cơ sở của giá cả .Khi
quan hệ cung cầucân bằng,giá cả hàng hoá cao hay thấp là ở giá trị của hàng hoá
quyết định
Trong diều kiện sản xuất hàng hoá, giá cả hàng hoá tự phát lên xuỗngoay quanh
giá trị tuỳ theo quan hệ cung cầu, canhj tranh và sức mua của đồng tiền.Sự hoạt động

quyền không thể tăng thêm hoặc giảm bớt giá trị và tổng giá trị thặng dưdo xã hội sản
xuất ra; phần giá cả độc quyền vượt quá giá trị chính là phần giá trị mà những người
bán ( công nhân, người sản xuất nhỏ , tư bản vừa và nhỏ…) mất đi.Nhìn vào phạm vi
toàn xã hội , toàn bộ giá cả độc quyền cộng với giá cả không độc quyền về đại thể
bằng toàn bộ giá trị .
1.1.4 Các quy luật có liên quan và mối quan hệ của chúng với quy luật giá trị .
a/ Quy luật lưu thông tiền tệ.
- Còn sản xuất hàng hoá thì còn lưu thông hàng hoá và lưu thông tiền tệ. Quy luật lưu
thông tiền tệ xuất hiện và tồn tại là một tất yếu khách quan.
- Nội dung của quy luật này thể hiện ở mối quan hệ giữa lượng tiền tệ phát hành với
các nhân tố có liên quan . Các Mác trình bày nội dung của quy luật này qua côngh
thức khái quát và công thức ở dạng cụ thể của nó :
+ ở dạng khái quát, nội dung của quy luật này là:

Trong đó :
M là lượng tiền phát hành cần thiết cho lưu thông
P là mức giá cả hàng hoá, dịch vụ
Q là khối lượng hàng hoá, dịch vụ đem ra lưu thông
V là vòng quay trung bình của đồng tiền cùng loại
V
QP
M
.

+ ở dạng cụ thể, khi Các Mác xem xét công thức khái quát gắn với các chức năng
thanh toán, gắn với tín dụng, công thức biểu diễn nội dung quy luật này là: Trong đó:
(1) là tổng giá cả hàng hoá, dịch vụ đem bán

- Sự hoạt độngk của quy luật này thể hiện ở cơ chế vận động giữa giá cả thị trường và
giá trị hàng hoá thông qua các trường hợp : cung bằng cầu , cung lớn hơn cầu và
cung nhỏ hơn cầu:
+ Khi cung bằng cầu thì giá cả bằng giá trị hàng hoá trong sản xuất
+ Khi cung lớn hơn cầu thì giá cả thấp hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất
+ Khi cung nhỏ hơn cầu thì giá cả cao hơn giá trị hàng hoá trong sản xuất
- Vai trò của quy luật cung cầu:
Quy luật cung cầu giải thích rõ nhất, chính xác nhất vì sao giữa giá trị và giá cả thị
trường lại không ăn khớp với nhau, tạo điều kiện cho quy luật giá trị có cơ chế hoạt
động. Tuy cung cầu không trực tiếp quyết định sự hình thành giá trị hàng hoá, nhưng
nó cũng ảnh hưởng gián tiếp đến chu kỳ sản xuất sau đối với việc hình thành giá trị
hàng hóa, thông qua tác động của thị trường làm thay đổi điều kiện sản xuất và thay
đổi năng suất lao động, giúp các giám đốc có những quyết định năng động, linh hoạt
trong sản xuất, kinh doanh và trong ký kết các hợp đồng kinh tế
c/ Quy luật cạnh tranh
- Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh về kinh tế giữa những người sản xuất với
nhau, giữa người sản xuất với người tiêu dùng hàng hoá và dịch vụ, nhằm giành được
những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng để thu được nhiều lợi ích nhất
cho mình.
Những người sản xuất, tiêu thụ có điều kiện khác nhau về trình độ trang bị kỹ
thuật, chuyên môn, không gian, môi trường sản xuất, điều kiện nguyên vật liệu v.v.
nên chi phí lao động cá biệt khác nhau. Kết quả có người lãi nhiều, người lãi ít, người
phá sản. Để giành lấy các điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
buộc họ phải cạnh tranh. Cạnh tranh có hai loại: Cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh
không lành mạnh. Cạnh tranh lành mạnh là dùng tài năng của mình về kinh tế và
quản lý để tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, vừa có lợi cho nhà kinh doanh,
vừa có lợi cho xã hội. Cạnh tranh không lành mạnh là dùng những thủ đoạn phi đạo
đức, vi phạm pháp luật (trốn thuế, nâng giá…) có hại cho xã hội và người tiêu dùng.
- Quy luật cạnh tranh có tác dụng đào thải cái lạc hậu, bình tuyển cái tiến bộ để thúc
đẩy xã hội phát triển.

giá tr


Quy luật
lưu thông
Quy luật cạnh
tranh

Quy luật
cung c
ầu

lại giữa các ngành. Hiện tượng này được gọi là sự điều tiết sản xuất. Sự điều tiết này
được hình thành một cách tự phát, thông qua sự biến động của giá cả trên thị trường.
Có thể hiểu vai trò điều tiết này thông qua những trường hợp biến động quan hệ cung
cầu xảy ra trên thị trường:
- Khi cung nhỏ hơn cầu, sản phẩm không đủ để thoả mãn nhu cầu xã hội, giá cả cao
hơn giá trị, hàng hoá bán chạy với lãi cao, người sản xuất mở rộng quy mô sản xuất,
những người trước đây sản xuất hàng hoá khác, nay chuyển sang sản xuất hàng hoá
này. Như vậy, tư liệu sản xuất và sức lao động được chuyển và ngành này nhiều hơn
vào các ngành khác.
- Khi cung lớn hơn cầu, sản phẩm làm ra quá nhiều so với nhu cầu xã hội, giá cả thấp
hơn giá trị, hàng hoá bán không chạy, có thể lỗ vốn, tình hình đó buộc người sản xuất
ở ngành này thu hẹp quy mô sản xuất hay chuyển sang ngành khác, làm cho tư liệu
sản xuất và sức lao động giảm đi ở ngành này mà tăng ở ngành khác mà họ thấy có
lợi hơn.
Như vậy là theo “mệnh lệnh” của giá cả thị trường lúc lên, lúc xuống xoay quanh
giá trị, khiến cho ngành sản xuất khác có lợi hơn ngành sản xuất này, mà có sự di
chuyển tư liệu sản xuất và sức lao động từ ngành này sang ngành khác, quy mô sản
xuất của ngành khác được mở rộng nhanh hơn ngành này. Điều đó làm cho tư liệu

mỗi khâu sản xuất chỉ thực hiện thực hiện một phần của quá trình sản xuất . Kết
quả tạo ra ở mỗi khâu chưa phải là thành phẩm và cần phải được gia công tiếp ở khâu
liền kề. Muốn vậy, chúng phải được chuyển dịch .
b/ Sự luân chuyển vật chất trong quá trình sản xuất có thể được thực hiện đượcbằng
nhiều cách ;
- Chu chuyển nội bộ : chu chuyển trong doanh nghiệp , như sợi được chuyển từ phân
xưởng sợi qua phân xuởng dệt , vải được chuỷen từ phân xưởng dệt sang phân xưởng
nhuộm , in hoa…
- Chu chuyển qua mua bán , khi đó,các phân xưởng nói trên trở thành các doanh
nghiệp độc lập , thuộc các chủ riêng rẽ.
Theo lý thuyết trên , chỉ có sự luân chuyển theo phương thức mua bán mới được
gọi là kinh tế thị trường , trong đó mua bán là sự trao đổi ngang giá trị . Sự trao đổi là
kết quả tất yếu của phân công lao đọng xã hội. Nhưng trao đổi theo cách nào lại tuỳ
thuộc vào chế độ xã hội . Trao đổi ngang giá trị hoặc sự mua bán chỉ xảy ra khi xuất
hiện tư hữu. Khi chưa xuất hiện tư hữu về tư liệu sản xuất , việc trao đổi ít xảy ra ,
nhưng nếu có , cũng chỉ là sự san xẻ, nhường nhịn , đắp đổi cho nhau giữa các thành
viên của những cộng đồng nguyên thuỷ. Do đó, một trong những dấu hiệu của nền
kinh tế thị trường là sự trao đổi ngang giá .
c/ Sự trao đổi chủ yếu bằng phương thức mua bán có nghĩa là:
- Qúa nửa số chủng loại sản phẩm được trao đổi bằng phương thức mua bán .
- Với mỗi chủng loại sản phẩ, tỷ lệ lưu thông bằng phương thức mua bán chiếm quá
nửa tổng số sản phẩm đó trong luân chuyển .
- Phạm vi lưu thông rộng lớn , không bó hẹp trong cộng đồng làng xã , mà mở rộng
ra cả nước và xuyên quốc gia và hội nhập quốc tế .
2.1.2 Người trao đổi hàng hoá phải có quyền tự do nhất định khi tham gia trao đổi
trên thương trường.
a/ Quyền tự do phải được thực hiện trên ba mặt sau đây:
+ Tự do lựa chọn nội dung trao đổi.Có nghĩa là, nền kinh tế được gọi là nền kinh
tế thị trườngchỉ khi nào trong nền kinh tế đó , người tham gia trao đổi có quyền chọn
cái mà mình cần bán hay cần mu. Bởi vì, nếu không như thế, hành vi mua bán sẽ

2.1.5 Có sự quản lý của nhà nước
Đặc trưng này mới hình thành ở các nền kinh tế thị trường trong vài thập kỷ gần
đây, do nhu cầu không chỉ của nhà nước, xuất phát từ lợi ích của giai cấp cầm quyền
mà còn do nhu cầu của chính mọi thành viên tham gia kinh tế thị trường. Nhà nước
được coi như là nhân tố bảo đảm cho nền kinh tế thị trường có được các đặc trưng
nêu ở trên. Nói cách khác là, ngày nay không có nền kinh tế nào được gọi là kinh tế
thị trường mà không có sự quản lý của nhà nước.
2.2 Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa về bản chất và cấu trúc
của nó.
Từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ sáu đến nay, Đảng ta đã chủ trương xây dựng
mô hình “kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước, phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Về bản chất, khái niệm kinh tế hàng hoá và kinh tế thị trường không đối lập với
nhau, trái lại giống nhau về thực chất
* Không thể xác định được mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
về cấu trúc và phát triển nếu không làm rõ bản chất và những nguyên tắc cơ bản của
nó:
- Về bản chất: Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức nền kinh tế vừa dựa trên những
nguyên tắc và quy luật của kinh tế thị trường, vừa dựa trên nguyên tắc và mục tiêu
của xã hội chủ nghĩa, gồm hai nhóm nhân tố cơ bản được kết hợp với nhau, tồn tại
trong nhau, xâm nhập và bổ sung cho nhau, đó là các nhân tố cơ bản của kinh tế thị
trường và nhóm các nhân tố của xã hội đang định hướng xã hội chủ nghĩa. Nói cách
khác, nó là một kiểu tổ chức kinh tế được kết hợp giữa cái chung (kinh tế thị trường)
và cái đặc thù là xã hội chủ nghĩa, trong đó cái đặc thù quy định tính chất của tổ chức
kinh tế đó.
b/ Bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã quy định việc tổ chứa
nền kinh tế theo bốn nguyên tắc cơ bản sau:
- Nguyên tắc về sở hữu: Với tính đa dạng về hình thức, trong đó sở hữu nhà nước giữ
vai trò chủ đạo.
- Nguyên tắc về cơ chế vận hành: Cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước bằng

Như ta đã biết hầu hết các nước đi theo kinh tế thị trường hiện đại đều có sở hữu
nhà nước và do đó có khu vực kinh tế nhà nước. Song một vấn đề có ý nghĩa về
nguyên tắc là cần phân biệt sự khác nhau về bản chất giữa kinh tế thị trường ở nước
ta và kinh tế nhà nước ở các nước khác về định hướng phát triển kinh tế thị trường
Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của kinh tế thị trường, ngoài vai trò chủ đạo của
kinh tế nhà nước đảm bảo, còn một yếu tố không kém phần quan trọng,nếu không
muốn nói là quyết định, đó là sự tác động của nhà nước thông qua vai trò quản lý vĩ
mô đối với nền kinh tế thị trường. Với tư cách là cái chung của kinh tế thị trường
hiện đại, vai trò nói trên của nhà nước thì các nước đều có , nhưng ở nước ta, vai trò
đó có sự khác biệt. Có lẽ ngoài sự khác nhau về trình độ phát triển của kinh tế thị
trường, về kinh nghiệm và trình độ quản lý vĩ mô của nhà nước , phải kể đến sự khác
nhau cơ bản là ở tính chất của nhà nước pháp quyền. Một bên là nhà nước xã hội chủ
nghĩa mà tính chất của nó là của dân, do dân và vì dânvà quyền lực của nó thẻ hiện ở
hệ thống luật pháp dựa trên sự thống nhất có phân công giữa ba quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp và tư pháp, từng bước được hiện thực hoá. Còn nhà nước trong nền
kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, mặc dù vẫn tồn tại hai tính chất : tính giai cấp và
tính nhân dân , nhưng tính trội thuộc về giai cấp tư sản, mà nhà nước là công cụ phục
vụ lợi ích của giai cấp cầm quyền.Chính sự khác nhau này là các đảm bảo để khu vực
kinh tế nhà nước giữ được vai trò chủ đạo ; là các đảm bảp cho bản sắc dân tộc được
giữ gìn và phát huy đúng hướn; là các đảm bảo cho phép phát huy được ưu thế tích
cực và khắc phục những mặt tiêu cực của kinh tée thụ trường, nhất là về mặt xã hội,
môi sinh, thong qua cá chính sách thuế , chính sách xã hội của nhà nước xã hội chủ
nghĩa. Phấn đấu cho đặc trưng này trở thành hiện thực, đủ sức vạch hành lang, tạo
môi trường kinh tế, chính trị, xã hội thuận lợi cho các chủ thể thuộc các thành phần
kinh t, đưa nền kinh tế thị trường phát triển theo đúng định hướng xã hội chủ nghĩa
đã chọn là ván đề rất bưc xúc và không dễ dàng.
Bốn nhược điểm nói trên có quan hệ biện chứng với nhau, mỗi đặc diểm có vị trí
tưong đối nhất định của nó, song đặc điểm thứ nhất và đặc điểm thứ tư có ý nghĩa
đặcbiệt quan trộng, nếu không muốn nói là có ý nghĩa quyết định đối với sự tồn tại và
phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta qua các vai trò sau:
1/ Thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển .
Một nguyên tắc căn bản của kinh tế thị trường là trao đổi ngang giá tức là thực
hiện sự trao đổi hàng hoá thông qua thị trường, sản phẩm phải trở thành hàng
hoá.Nguyên tắc này đòi hỏi tuân thủ quy luật giá trị _ sản xuất và trao đỏi hàng hoá
phải dựa trên cơ sở thời gian lao động xã hội cần thiết. Cụ thể:
Xét ở tầm vi mô: Mỗi cá nhân khi sản xuát các sản phẩm đều cố gắng làm cho thời
gian lao động cá biệt nhỏ hơn thời gian lao động xã hội .
Xét ở tầm vĩ mô:Mỗi doanh nghiệp đều cố gắng nâng cao năng suất lao động , chất
lượng sản phẩm, giảm thời gian lao động xã hội cần thiết.
Do vậy, mỗi người phải luôn tự hoàn thiện mình, nâng cao trình độ chuyên môn
của mình.Mỗi doanh nghiệp phải cố gắng cải tiến may móc, mẫu mã, nâng cao tay
nghề lao động. Nếu không, quy luật giá trị ở đây sẽ thực hiện vai trò đào thảicủa nó:
loại bỏ những cái kém hiệu quả , kích thích các cá nhân\, nghành, doanh nghiệp phát
huy tính hiệu quả . Tất yếu điều đó dẫn tới sự phát triển của lực lượng sản xuất mà
trong dó đội ngũ lao động có tay nghề chuyên môn ngày càng cao, coong cụ lao
đoọng luôn luôn được cải tiến. Và cùng với nó, sự xã hội hoá, chuyên môn hoá lực
lượng sản xuất cũng được phát triển.
2/ Nâng cao tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Việc chuyển từ chế độ tầp trung quan liêu bao cấp sang nền kinh tế thị trường thì
cùng với nó là việc loại bỏ cơ chế xin cho, cấp phát , bảo hoọ trong hoạt động sản
xuất kinh doanh. Mỗi doanh nghiệp phải tự hạch toán, không bị ràng buộc quá
đángbởi các chỉ tiêu ssản xuất mà nhà nước đưa ra và phải tự nghiên cứu để tìm ra
thị trường phù hợp với các sản phẩm của mình; thực hiện sự phân đoạn thị trường để
xác định tấn công vào đâu, bằng những sản phẩm gì.
Mặt khác, cùng với xu hướng công khai tài chính doanh nghiệp để giao dịch trên
sàn giao dịch chứng khoán, thúc đẩy tiến trình gia nhập AFTA , WTO; mỗi cá nhân ,
mỗi doanh nghiệp đều phải nâng cao sức cạnh tranh của mình để có thể đứng vững
khi bão táp của qúa trình hội nhập quốc tế ập đến. Sức cạnh tranh được nâng cao ở
đây là nói đến sức cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp

Xã hội hoá kinh tế và hội nhập kinh tế đã hình thành một cơ cấu kinh tế hợp lý về
nghành cũng như trên địa bàn lãnh thổ, giải quyết mối quan hệ về lơi ích phát triển
giữa toàn cục với bộ phận , đầu tư có trọng điểm ở từng thời kỳ và gắn với thị trường
thế giới.
Các thành phần kinh tế được động viên tham gia kinh tế đối ngoại theo sự quy
định và phân công hợp lý , lấy sản xuất làm khâu trọng tâm .
Tất cả các tác động tích cực trên được thể hiện rất rõ trong thực tế:
Một là:thể hiện ở sự gia tăng đội ngũ giáo sư, tiến sĩ, đội ngũ kỹ sư, công nhân lao
động lành nghề. Số lao động có trình độ đại học, cao đẳng ngày càng gia tăng. Việc
các nghiên cứu sinh Việt Nam đoạt các giải cao ở nước ngoài và các cuộc thi quốc tế
ngày càng nhiều.Maý móc trang thiết bị cũng ngày càng được nâng cao về chất
lượng. Chủ trương đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong sinh viên đã đạt được những
kết quả đáng khích lệ .Hệ quả tất yếu của sự phát triển lực lượng ssản xuât đã dẫn tới
sự trao đổi quốc tế về lao động .Thực tế nước ta:
+ Những năm 80trở về trước, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu lao đoọng lành nghề
sang Liên Xô cũ và Đông Âu, đến nay vẫn còn khoảng 300ngàn lao dfdộng ở lại.
+ Hiện nay, thị trường xuất khẩu lao động đã mở rộng sang các nước khác : Hàn
Quốc và một số nươc châu á. Trong những năm đầu thế kỷ XXI, Việt Nam vẫn sẽ là
nước thừa lao động nên sẽ là một thị trường xuất khaaur sức lao động trong khu vực.
+ Thị trương nhập khẩu lao động Việt Nam ở Lào, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan
Li Bi, trong đó thị trường Đài Loan vẫn đang cần khá nhiều lao động nữ cho các
công việc nội trợ gia đình, chăm sóc người già và trẻ em. Nghành lao động đang tập
trung nghiên cứu phát triển thị trường Nga và các nước Đông Âu, khu vực Đông
Nam á, Thái Bình Dương, Trung Đông và châu Phi, từng bước tiếp cận thị trường
Mỹ và Bắc Mỹ .
+ Chính phủ đang rất coi trọng việc duy trì và đẩy mạnh công tãc xuất khẩu sức
lao động. Quản lý việc xuất khẩu sức lao động được giao cho cục quản lý lao động
với nước ngoài thuộc Bộ lao động thương binh-xã hội .Năm 2000, cả nước có 159
doanh nghiệp được cấp pơhép tuyển lao động xuất khẩu , trong đó có 81 doanh
nghiệp trung ương, 62 doanh nghiệp địa phương, 13 doang nghiệp đoàn thể và 3

trình dài đã tăng lên đáng kể .Ta đã nhận viện trợ từ ngân hàng thế giới, chương trình
hỗ trợ phát triển của liên hợp quốc …
Theo bản tin về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức , các chương trình tài trợ trung
hạn cho Việt Nam như sau:
+ Ban giám đốc ngân hàng thế giới đã thông qua” chiến lựoc hỗ trợ quốc gia
Việt Nam giai đoạn 2003-2006” với mức vay trung bình 500-800triệu USD/ năm
+Sau một quá trình thảo luận với các cơ quan hữu quan của Việt Nam, ngân hàng
phát triển châu á (ADB) đã hàon thành việc xây dựng dự thảo “chương trình tài trợ
của ADB thời kỳ 2003_2005” ADB dự kiến sẽ cho Việt Nam vay từ quỹ phát triển
châu á ADFbình quân mỗi năm là 240 triệu USD để thực hiện 13 dự án trong các lĩnh
vực giao thông, nông nghiệp, điện, tài chính, giáo dục và y tế.

Tất cả các tác động tích cực trên thúc đẩy quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá ,
xây dựng cơ sở vật chất cho chủ nghĩa xã hội.
Tuy nhiên, cần tính đến tác động tiêu cực của quy luật giá trị:
Đó là, tính phức tạp của việc chuyển đổi thước đo giá trị trong cơ chế thi trường .
Kinh tế thi trường tuân thủ nguyên tắc trao đổi ngang giá hàng hoá , theo đuổi hiệu
quả phân phối tối ưu của các nguồn.Thứơc đo giá trị chú trọng hiệu quả kinh tế hình
thành trong điều kiện kinh tế thị trường ; một khi được mở rộng, vận dụng vào lĩnh
vực đời sống xã hội và quan hệ con người , không tránh khỏi sản sinh những quan
khác nhau gắn bó với đạo đức con người đó là chuẩn mực giá trị” coi trọng tình
nghĩa, xem thường lợi ích” hay “coi trọng lợi ích, xem thường tình nghĩa “.Do vậy , ở
nước ta, phát triển kinh tế nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải chú ý sự chuyển đổi
quan niệm giá trị xa hội sao cho phù hợp với đạo đức dân tộc truyền thôngs và hiện
đại .Thể hiện rõ nhất ở nước ta hiện nay là nạn hàng giả, trốn thuế, buôn lậu…
Để phát huy các tác đọng tích cực, đẩy lùi các tác động tiêu cực của kinh tế thi
trường cần nâng cao vai trò quản lý của nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch ,
công cụ tài chính,; qua các phương thức kích thích , giáo dục, thuyêt phục và cả
cưỡng chế nữa. Chủ trương của Đảng ta trong thời gian tới là :

của mỗi công dân.

Mục lục.
STT Nội dung Trang
Phần mở đầu 1
Chương1: Quy luật giá trị và các vấn đề có liên quan. 2
1.1. Quy luật giá trị 2
1.1.1. Khái niệm giá trị hàng hoá 2
1.1.2. Quy luật giá trị- Quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và

Phan Thanh Phố.
2.Bản tin về nguồn hỗ trợ phát triển chính thức .
Số 11, ra ngày 30/9/2002
3.Giáo trình kinh tế chính trị.
Học viện chính trị quốc gia .
4. Giáo trình kinh tế chính trị ( Chương trình cao cấp).
Tập một: Chủ nghĩa tư bản .
Học viện chính trị quốc gia .
5. Giáo trình kinh tế quốc tế.
Học viện tài chính Hà Nội.
6. Giáo trình quản lý nhà nước về kinh tế.
Học viện hành chính quốc gia Hà Nội .
7. Báo” phát triển kinh tế”
8. Văn kiện Đại hội Đảng IX
9. Giáo trình kinh tế chính trị.
Đại học kinh tế quốc dân .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status