LUẬN VĂN:
Bài học thương hiệu PetroVietnam và
biện pháp bảo vệ thương hiệu cho các
doanh nghiệp Việt Nam Lời nói đầu.
Trong giai đoạn hiện nay toàn cầu hoá đang trở thành xu thế tất yếu của thời đại.
Quá trình hội nhập nền kinh tế đang diễn ra hầu hết ở các nước trên thế giới làm cho
các quốc gia trên thế giới ngày càng xích lại gần nhau hơn. Vì thế hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp không chỉ bó hẹp ở phạm vi quốc gia mà còn vươn ra thị
trường thễ giới. Để thâm nhập vào thị trường thế giới thì doanh nghiệp gặp rất nhiều
rào cản, một trong những rào cản đó là pháp luật, điều mà các doanh nghiệp luôn băn
khoăn trăn trở tìm hiểu kỹ lưỡng. Nếu không thì doanh nghiệp sẽ bị thất bại ngay từ
những bước đi đầu tiên trên thị trường đó.
I.Một số quy định pháp lý về thương hiệu và thủ tục đăng ký thương hiệu ở Mỹ.
1.Một số quy định pháp lý về thương hiệu trong hiệp định thương mại Việt-Mỹ.
Khái niệm thương hiệu: Điều 6 chương II của hiệp định thương mại Việt-Mỹ ghy
rõ rằng “nhãn hiệu hàng hoá được cấu thành bởi dấu hiệu bất kỳ hoặc sự kết hợp bất
kỳ của các dấu hiệu có khả năng phân biệt hàng hoá hoặc dịch vụ của một người vơí
hàng hoá hoặc dịch vụ của người khác, bao gồm từ ngữ, tên người, hình, chữ cái, chữ
số, tổ hợp màu sắc, các yếu tố hình hoặc hình dạng của hàng hoá hoặc hình dạng của
bao bì hàng hoá”.
Trong tất cả các chương của hiệp định thương mại Việt-Mỹ, chương II về quyền sở
hữu trí tuệ, tại phần nhẵn hiệu hàng hoá, tinh thần quan trong nhất là đối xử quốc gia,
có nghĩa là công ty Mỹ đăng ký thương hiệu tại Mỹ như thế nào, thì doanh nghiệp
Việt Nam sang bên đó đăng ký cũng chừng ấy thủ tục, không được gây khó dễ. Điều
này bao gồm cả chuyện không đòi hỏi công bố tác phẩm ở kia mới được bảo vệ
quyền tác giả. Riêng phần nhãn hiệu hàng hoá, hiệp định thương mại Việt Mỹ có đề
cập thêm loại nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận. Nhãn hiệu tập thể làloại
nhãn hiệu dùng chung cho các thành viên của tổ chức một nhóm như Coopmart hay
saigon times Group , còn nhãn hiệu chứng nhận do người chủ người chủ sở hữu cho
phép người khác dùng đại loại như biêủ trưng “hàng việt Nam chất lượng cao”.
Điều 6 trong chương II về quyền sở hữu trí tuệ của Hiệp Định Thương Mại Việt-Mỹ
có một nội dung quan trọng nhưng quá ngắn gọn. Nội dung chỉ nói Hiệp Định
Thương Mại Việt-Mỹ “áp dụng điều 6 bis, Công Ước paris, với sửa đổi cần thiết, đối
với dịch vụ” . Điều này có nghĩa là, người nộp hồ sơ đăng ký một nhãn hiệu sẽ bị từ
chỗi hay đã đăng ký rồi sẽ bị thu hồi giấy đăng ký nếu nhãn hiệu giống nhãn hay
+Doanh nghiệp có thể đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ.
Cơ sở nộp đơn đăng ký nhãn hiệu tại Mỹ.
1- Nhãn hiệu đã sử dụng tại Mỹ.
2- Nhãn hiệu đã sử dụng tại Mỹ.
3- Nhãn hiệu đã nộp đơn tại một nước khác( là thành viên của Công ước
paris hoặc của thoả ước về nhãn hiệu hàng hoá mà Mỹ công nhận)
4- Nhãn hiệu đã đăng ký tại một nước khác (là thành viên của Công ước
Paris hoặc của thoả ước về nhãn hiệu hàng hoá mà Mỹ công nhận).
Quy trình xét nghiệm:
- Đơn đăng ký nhãn hiệu hàng hoá sẽ được xét nghiệm trong vòng 6 tháng kể
từ ngày nộp đơn. Nếu không có bất kỳ sửa đổi, bổ sung hay phản đối nào của
xét nghiệm viên đưa ra trong thời hạn xét nghiệm, đơn sẽ được chuyển sang
công bố trên công báo sở hữu công nghiệp để bất kỳ bên thứ ba nào có quyền
và lợi ích liên quan có thể phản đối việc đăng ký nhãn hiệu hàng hoá.
- Nếu không có đơn phản đối, nhãn hiệu nộp đơn trên cơ sở đã sử dụng(1) hoặc
đã đăng ký tại một nước khác (4) sẽ được cấp giấy chứng nhận. Những đơn
nộp trên cơ sở đã nộp tại một nước khác (3) sẽ được cấp văn bằng khi và chỉ
khi đơn đó được cấp chứng nhận tại nước nộp đơn cơ sở. Nếu đơn nộp trên cơ
sở dự định sử dụng tại Mỹ (2), cơ quan đăng ký Mỹ sẽ ra thông báo về việc
chấp nhận đơn. Người nộp đơn theo đó sẽ có thời hạn tối đa là 3 năm để nộp
bằng chứng sử dụng nhãn hiệu được nộp và được cơ quan đăng ký chấp thuận
nộp trong thời hạn nộp đăng ký nhãn hiệu sẽ được cấp bằng.
- Như vậy, thời gian đăng ký nhãn hiệu hàng hoá tại Mỹ kể từ khi nộp đơn đến
khi cấp văn bằng phụ thuộc vào cơ sở nộp đơn và xét nghiệm đơn. Các doanh
nghiệp có thể tìm hiểu thông tin về việc đăng ký này theo địa chỉ:
Tại Hà Nội: Công ty Sở hữu công nghiệp (INVESTIP).
51B Lý Thái Tổ, Hà Nội. ĐT: (04) 88260687.
trong khu vực. Do đó để thâm nhập được vào thị trường của các nước này
dưới thương hiệu PetroVietnam một cách hợp pháp thì PetroVietnam phải bảo
vệ thương hiệu cho sản phẩm này ở thị trường nước ngoài. Vì vậy, các phòng
ban và ban giám đốc của PhetroVietnam đã bàn cách đối phó với vụ việc bị
đánh cắp thương hiệu tại Mỹvà chuẩn bị một chiến lược để bảo vệ thương hiệu
của mình. Hơn các Công ty bị mất cắp thương hiệu khác như Trung Nguyên,
Vinataba… thì PhetroVietnam đã sớm phát hiện ra việc thương hiệu của mình
bị đánh cắp. Mặt khác Công ty NGUYENLAI Corp đã đăng ký nhãn hiệu
giống hệt PetroVietnam cả hình lẫn chữ. Do đó việc đối phó với công ty này
sẽ không khó khăn lắm.
Theo Công ty luật Pham& associates, đơn vị đưa ra tư vấn cho
PhetroVietnam, cho biết có 3 cách để đối phó với việc bị đánh cắp thương
hiệu này.
Cách thứ nhất ít tốn kém nhất nhưng cũng lâu nhất, đó là không hành
động gì, để NGUYENLAI tự động bị huỷ thương hiệu vì công ty đó phải
chứng minh được thương hiệu này được chính họ sử dụng, nếu không đưa
được bằng chứng sử dụng thương hiệu 3 lần (6 tháng 1 lần) thì sẽ bị rút
thương hiệu. Tuy nhiên cách này hơi mạo hiểm bởi NGUYENLAI có thể đưa
ra những bằng chứng không đúng sự thật và thời gian có thể kéo dài đến 3
năm.
Cách thứ hai tranh tụng và thuê luật sư trong nước. Theo luật gia Khánh
Toàn, Giám đốc Công ty luật pham&Associates, luật sư trong nước có đủ khả
năng để thực hiện vụ kiện đòi thương hiệu nhưng một khó khăn là những hoạt
động hành lang (lobby) các doanh nghiệp Việt Nam chưa quen và chưa có
kinh nghiệm tại Mỹ.
Cách thứ ba là tranh tụng và thuê luật sư tại Mỹ. Các luật sư sẽ giúp
PetroVietnam bác bỏ thương hiệu do NGUYENLAI đăng ký, sau đó đăng ký
3 năm thì sao liệu sau 3 năm Tổng công ty có lấy lại thương hiệu của mình
không. Trong khi Tổng công ty đang có chiến lược khuếch trương đưa sản
phẩm sang thị trường Mỹ và Hiệp Định Thương Mại Việt- Mỹ vừa có hiệu lực
đây là cơ hội lớn để Tổng công ty đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm của mình
sang Mỹ. Nếu như đổi tên lấy một thương hiệu khác đễ có thể xuất khẩu sản
phẩm một cách hợp pháp thì bao nhiêu công sức trước đây để tạo uy tín cho
thương hiệu PetroVietnam thì nay chỉ còn là con số không và chắc chắn sẽ gây
bất lợi rất nhiều trong các cuộc đàm phán của Tổng công ty với đối tác nước
ngoài và nguy cơ mất thương hiệu PetroVietnam của mình mãi mãi.
Nhưng nếu lao vào con đường kiện tụng thì sẽ mất thời gian và tốn kém vì
vậy Tổng công ty cần tỉnh táo để đối phó.
Như đã nói ở trên Tồng công ty đã có đầy đủ cơ sở pháp lý cho mình, đó chính
là một điều kiện thuận lợi cho PetroVietnam, nhưng PetroVietnam cũng cần
cũng cố vững chắc hơn cơ sở pháp lý đó cho mình và phương án tranh tụng,
thuê luật sư tại Mỹ là khả thi hơn cả và sẽ không tốn kém lắm vì một khi có đủ
các căn cứ pháp lý hợp pháp về thương hiệu của mình. Do đó PetroVietnam
cần phải làm theo pháp luật, để từng bước tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho
mình
Theo Luật gia Nguyễn Ngọc Bích, việc đăng ký thương hiệu tại văn phòng
sáng chế và Thương hiệu Mỹ (USPTO) có hai giai đoạn; giai đoạn 1 là loan
báo tên, địa chỉ công ty, lĩnh vực hoạt động, thương hiệu hàng hoá…và giai
đoạn 2 là công bố nhãn hiệu đã được đăng ký. Nhãn hiệu PetroVietnam hiện
mới đang bị đăng ký ở giai đoạn 1. Do đó có thể sử lý bằng cách thuê luật sư
Mỹ, thì PetroVietnam cũng phải làm theo hai bước; bước thứ nhất bác bỏ
thương hiệu PetroVietnam của doanh nghiệp NGUYENLAI và bước thứ hai
đăng ký thương hiệu PetroVietnam của Tổng công ty dầu khí Việt Nam ( qua
mạng là hiệu quả nhất).
ký bảo hộ cho thương hiệu của mình.
Nếu ngay khi có chiến lược khuyếch trương đưa sản phẩm của mình sang Mỹ
thì Tổng công ty đăng ký sớm thương hiệu của mình ở Mỹ thì bây giờ đã
không lao vào vòng kiện tụng này, mà không biết chi phí, thời gian sẽ là bao
nhiêu và liệu có lấy lại thương hiệu của mình trong vụ kiện tụng này hay
không. Mặt khác, chiến lược khuyếch trương sản phẩm của mình sang Mỹ với
thương hiệu PetroVietnam có thể thay đổi vì nếu lấy tên sản phẩm với thương
hiệu PetroVietnam xuất khẩu sang Mỹ thì Tổng công ty đã vi phạm quyền
thương hiệu và sẽ không được xuất khẩu hoặc xuất khẩu sang sẽ bị giữ lại và
bị kiện sẽ làm mất cơ hội kinh doanh của Tổng công ty.
Từ bài học thương hiệu PetroVietnam. Một khi thương hiệu bị chiếm đoạt
thì sẽ keó theo nhiều bất lợi cho doanh nghiệp. Do đó doanh nghiệp sản xuất,
kinh doanh trong nước phải sớm đăng ký thương hiệu của mình tại những
nước mà doanh nghiệp cho là thị trường mục tiêu.
Khi bị một doanh nghiệp khác nộp đơn đăng ký thương hiệu của mình thì
đừng ngay lập tức lao vào vòng tranh đấu mà mắc vào bẫy kiện tụng. Mà phải
xác định xem liệu mình có làm ăn gì ở thị trường này với cái tên đó không,
nếu cái tên đó được bảo hộ ở thị trường này thì mình sẽ được những cái lợi gì?
Ngay cả nếu mình đưa sản phẩm sang thị trường đó thì liệu cái tên đó thích
hợp nhất chưa? Có mấy người ở thị trường đó đã biết đến và ưa thích cái tên
đó? Rồi hãy lựa chọn phương án đối phó tốt nhất cho mình.
Còn nếu đối phó bằng con đường tranh tụng thì phải tuân theo luật và phải
xây dựng đầy đủ cơ sở pháp lý vững chắc cho mình để khi tranh tụng dành
phần thắng về mình một cách nhanh nhất và chi phí thấp nhất.
1.Biện pháp bảo vệ thương hiệu cho các doanh nghiệp Việt Nam.
Thương hiệu là tài sản vô hình nhưng có giá trị rất lớn đối với doanh
nghiệp, là tài sản quyết định của doanh nghiệp, là cam kết của khách hàng, là
hiệu và nên cố gắng giữ những gì thuộc về bản chất và truyền thống của thương
hiệu.
Ngoài việc củng cố bản sắc thương hiệu các doanh nghiệp Việt Nam
bảo vệ thương hiệu của mình bằng các biện pháp sau:
Việc cà phê Trung Nguyên, thuốc lá Vinataba, PetroVietnam bị đăng ký thương hiệu
ở nước ngoài cảnh báo rằng, thương hiệu của các doanh nghiệp Việt Nam không chỉ
bị đánh cắp trong nước. Vậy nên, doanh nghiệp cần đăng ký độc quyền các thành tố
này càng sớm càng tốt. Luật về sở hữu công nghiệp của Việt Nam theo nguyên tắc
dành ưu tiên cho người đăng ký trước chứ không phải ưu tiên cho người sử dụng
trước như ở Mỹ. Do đó, đợi đến lúc bị người đăng ký trước thì ta sẽ mất thương hiệu,
tốn kém, tốn thời gian, đòi lại quyền lợi của mình, mất cơ hội kinh doanh. Doanh
nghiệp cũng cần quan tâm đăng ký bảo hộ sớm thương hiệu của họ tại những thị
trường nước ngoài mà doanh nghiệp dự kiến thâm nhập. Khi gặp tình trạng thương
hiệu bị làm giả, làm nhái, bên cạnh các hành động pháp lý, doanh nghiệp cần thực
hiện các biện pháp củng cố bản sắc thương hiệu và tạo ra điểm khác biệt.
Doanh nghiệp cũng cần lưu trữ đầy đủ các bằng chứng sử dụng thương hiệu
trong hoạt động thương mại. Khi gặp tình trạng tranh chấp thương hiệu, doanh
nghiệp có thể sử dụng và thừa nhận rộng rãi từ trước để giành quyền về mình. Các
bằng chứng sử dụng rộng rãi có thể được Cục Sở hữu công nghiệp chấp nhận là bằng
chứng sử dụng liên tục từ trước, ví như mẫu bao bì có ghi ngày sản xuất từ trước,
giấy chứng nhận đăng ký chất lượng vệ sinh và an toàn thực phẩm. Có thể dùng kết
quả doanh số, mang lưới đại lý, số lần và chi phí với mẫu quảng cáo trên các phương
tiện đại chúng.
Việt Nam đã bắt đầu có quy định về công nhận về nhãn hiệu nỗi tiễng là nhãn
hiệu được sử dụng liên tục cho sản phẩm, dịch vụ có uy tín khiến cho nhãn hiệu đó
được biến đến một cách rộng rãi. Khi nhãn hiệu của doanh nghiệp được công nhận
nổi tiếng thì sẽ tạo nhiều thuận lợi cho việc bảo hộ và việc xét cấp bằng bảo hộ cho
Bên cạnh các cố gắng và nổ lực bản thân của các doanh nghiệp để bảo vệ thương
hiệu của mình, thì cần có sự quan tâm và giúp đỡ của các cơ quan nhà nước. Cần có
sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp trong việc
tuyên truyền và đăng ký thương hiệu tại các thị trường xác định là mục tiêu lâu dài và
trọng điểm. Và phải tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đăng ký thương hiệu trong
nước được nhanh chóng, cũng như phải đảm bảo quyền lợi chính đáng của doanh
nghiệp sau khi được cấp giấy chứng nhận, làm cho việc bảo hộ nhãn hiệu hàng hoá
thực sự có tác dụng đối với doanh nghiệp. Chính điều này cũng góp phần quan trọng
tạo ra ý thức bảo vệ thương hiệu.