LUẬN VĂN:
Thực trạng và giải pháp nhằm nhằm hoàn
thiện công tác thanh toán không dùng tiền mặt
tại Sở giao dịch Ngân hàng Nông nghiệp và
Phát triển Nông thôn Việt Nam
o
và PTNT
Việt Nam.
Chương 3: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác TTKDTM.
nội dung
chương 1: những vấn đề cơ bản về
thanh toán không dùng tiền mặt
1.1 Sự cần thiết khách quan và vai trò của thanh toán không dùng tiền mặt
trong nền kinh tế thị trường
1.1.1 Sự cần thiết khách quan của thanh toán không dùng tiền mặt
Như chúng ta đã biết, sự ra đời và phát triển của lưu thông tiền tệ gắn liền với
quá trình ra đời và phát triển của sản xuất và lưu thông hàng hoá. Sở dĩ như vậy là
do yêu cầu của quá trình trao đổi hàng hoá mà tiền tệ đã ra đời với vai trò làm trung
gian trao đổi các loại hàng hoá được thực hiện dễ dàng, nhanh chóng góp phần thúc
đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá phát triển.
Quá trình tái sản xuất xã hội là một quá trình liên hoàn và không ngừng mở
rộng, trong đó tồn tại các quan hệ trao đổi, mua bán hàng hoá dịch vụ do đó không
thể không có hoạt động thanh toán.
Khi nền sản xuất còn ở trình độ thấp, thanh toán tiền tệ chỉ bó hẹp trong phạm
vi và khối lượng nhỏ, việc thanh toán được thực hiện bằng việc chi trả tiền mặt, sự
vận động của vật tư hàng hoá gắn liền với sự vận động của một khối lượng tiền mặt
nhất định. Thanh toán bằng tiền mặt lúc này tỏ ra là phương thức thanh toán hữu
trường và chính nó đã, đang và sẽ đáp ứng tối đa yêu cầu của nền kinh tế hiện đại.
1.1.2 Vai trò của TTKDTM trong nền kinh tế thị trường
Ngày nay, TTKDTM là một phần không thể tách rời các doanh nghiệp, các cá
nhân và các tổ chức đoàn thể. Trong nền kinh tế thị trường, TTKDTM được thực
hiện trôi trảy sẽ đem lại hiệu quả thiết thực cho tất cả các đối tác tham gia cũng như
cho toàn xã hội.
- TTKDTM góp phần tăng nhanh tốc độ vận động của vật tư, hàng hoá và tiền
vốn, qua đó thúc đẩy quá trình sản xuất và lưu thông hàng hoá. Như chúng ta đã
biết, bất kỳ một chu kỳ sản xuất nào cũng đều bắt đầu và kết thúc bằng khâu thanh
toán- từ việc mua các yếu tố đầu vào đến việc tiêu thụ các yếu tố đầu ra. Việc đẩy
nhanh tốc độ thanh toán qua Ngân hàng giúp khách hàng rút ngắn được thời gian
trong khâu lưu thông do đó rút ngắn thời được thời gian qua một vòng chu chuyển
vốn, tăng nhanh tốc độ của quá trình sản xuất.
- Tăng tỷ trọng TTKDTM sẽ góp phần làm giảm khối lượng tiền mặt trong lưu
thông từ đó tiết kiệm được chi phí của xã hội và của Ngân hàng. Cụ thể đó là những
chi phí trong việc in ấn, vận chuyển, bảo quản, kiểm đếm tiền mặt… Nhờ vậy, có
thể sử dụng các nguồn vốn tiết kiệm được để đầu tư mở rộng sản xuất, xây dựng Cơ
sở hạ tầng nhằm mục tiêu tăng trưởng kinh tế. Ngoài ra, TTKDTM còn góp phần
hạn chế đến mức thấp nhất các tệ nạn xã hội như tham ô, hối lộ, trộm cắp…, ngăn
chặn hoạt động "rửa tiền", làm tiền giả hay đầu cơ, tích trữ…
-TTKDTM tạo điều kiện để Ngân hàng thu hút nguồn vốn nhàn rỗi mở rộng tín
dụng và phát triển dịch vụ Ngân hàng.
Như chúng ta đã biết, nghiệp vụ tín dụng và nghiệp vụ thanh toán luôn có mối
quan hệ ràng buộc hữu cơ với nhau, chỉ khi thực hiện tốt mối quan hệ này thì Ngân
hàng mới có điều kiện phát triển được. TTKDTM đòi hỏi các doanh nghiệp phải có
động, sáng tạo và yếu tố hiệu qủa luôn đặt đúng vị trí của nó.
1.2 một số quy định mang tính nguyên tắc trong TTKDTM
Muốn tổ chức và và thực hiện công tác TTKDTM trong nền kinh tế, ngoài tổ
chức Cơ sở vật chất, đội ngũ cán bộ làm công tác thanh toán cần phải nghiên cứu
sâu sắc lý luận xã hội, chế độ thể lệ thanh toán khoa học, thực tiễn đảm bảo công tác
thanh toán được thực hiện thuận tiện, an toàn, chính xác và nhanh chóng. Hiện nay,
TTKDTM được thực hiện trên cơ sở: Nghị định số 30/CP ngày 09.05.1996 của
Chính phủ ban hành về quy chế phát hành và sử dụng séc; Thông tư số 07/TT- NH1
ngày 27.12.1996 của Ngân hàng Nhà nước Việt nam hướng dẫn thực hiện Nghị định
số 30/CP; Quyết định số 371/2002/QĐ- NHNN1 ngày 19.10.2002 của Thống đốc
NHNN Việt nam về việc ban hành, sử dụng và thanh toán thẻ Ngân hàng và Nghị
định số 64/2004/NĐ-CP ngày 20.09.2004 của Chính phủ về hoạt động thanh toán
qua các tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Nội dung của văn bản pháp quy được
tóm tắt thành những quy định có tính nguyên tắc sau:
- Mở và sử dụng tài khoản thanh toán.
- Đảm bảo khả năng thanh toán.
- Thực hiện lệnh thanh toán.
- Phí dịch vụ thanh toán.
- Chứng từ thanh toán.
- Trách nhiệm của ngân hàng.
1.3. Các hình thức thanh toán không dùng tiền mặt
Hiện nay, trên thế giới đã nghiên cứu và áp dụng nhiều hình thức TTKDTM rất
đa dạng và phong phú. Nhưng ở mỗi nước tuỳ theo mô hình kinh tế, trình độ quản
lý, tuỳ theo mức độ hoàn thiện và hiệu năng của hệ thống Ngân hàng người ta lựa
chọn một số hình thức và cụ thể hoá cho phù hợp với điều kiện, đặc thù của mỗi
giám đốc NHNo & PTNT Việt Nam. Đến 13.5.2002, Sở kinh doanh Hối đoái được
đổi tên thành Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam theo quyết định số
232/QĐ/HĐQT-02 của Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo & PTNT Việt nam.
Sở giao dịch là thành viên thực hiện chức năng trực tiếp kinh doanh đa năng và
chức năng Sở đầu mối trong toàn hệ thống NHNo & PTNT Việt nam.
Sở giao dịch thực hiện các nghiệp vụ chủ yêú là: Điều hoà vốn nội, ngoại tệ
trong hệ thống NHNo ; đầu mối thanh toán quốc tế, mua bán ngoại tệ cho các đơn vị
thành viên trong toàn hệ thống NHNo và các doanh nghiệp là khách hàng của Sở
giao dịch; Kinh doanh tiền tệ trên thị trường liên Ngân hàng, thị trường mở, tham
gia thị trường chứng khoán; Nhận tiền gửi bằng đồng Việt nam và ngoại tệ với
nhiều hình thức; Cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn bằng VND và ngoại tệ;
Thực hiện cơ chế ưa đãi lãi suất và dịch vụ Ngân hàng đối với khách hàng.
Sở giao dịch thực hiện các dịch vụ Ngân hàng như: thanh toán quốc tế; Chuyển
tiền nhanh trong nước và nước ngoài qua mạng SWIFT và mạng máy tính trong hệ
thống NHNo; Nhận chuyển tiền kiều hối; Mua bán ngoại tệ tiền mặt, bảo lãnh, uỷ
thác, chiết khấu, tái chiết khấu bộ chứng từ; Máy rút tiền tự động (ATM), thanh toán
thẻ; thực hiện quan hệ đại lý thanh toán và dịch vụ Ngân hàng đối với các Ngân
hàng nước ngoài, đầu tư hùn vốn liên doanh, mua cổ phần và các hình thức đầu tư
khác….
Trụ sở của Sở giao dịch được đặt tại số 2 Láng hạ, Quận Ba Đình, Hà nội.
- Mô hình tổ chức của Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam :
Giám đốc
chính
nhân sựPhòng
giao
dịch
Trong những năm qua, dưới sự chỉ đạo sáng suốt của Ban giám đốc và sự phối
hợp nhịp nhàng, có hiệu quả của các phòng nghiệp vụ, Sở giao dịch đã khẳng định
vị trí, vai trò của mình trong hệ thống. Đứng vững và phát triển trong cơ chế mới,
chủ động mở rộng mạng lưới giao dịch. Đa dạng hoá các mặt hàng kinh doanh, dịch
vụ tiền tệ Ngân hàng, thường xuyên tăng cường vật chất kỹ thuật, từng bước đổi
mới công nghệ, hiện đại hoá Ngân hàng.
2.1.2 Tình hình kinh doanh của Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam
Tiền thân là Sở kinh doanh Hối đoái, Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam ra
đời và đi vào hoạt động từ tháng 5 năm 2002. Chỉ với một khoảng thời gian ngắn
như vậy nhưng Sở giao dịch đã từng bước khẳng định được vị trí của mình trên địa
bàn và ngày càng lớn mạnh cả về quy mô, số lượng và chất lượng các dịch vụ Ngân
hàng, đáp ứng được các yêu cầu ngày càng cao của khách hàng.
Sở giao dịch đã đảm nhận tốt vai trò đầu mối thanh toán quốc tế, đảm bảo
thanh toán an toàn, kịp thời, gây được lòng tin của khách hàng và sự tín nhiệm của
các Ngân hàng nước ngoài. Quản lý các tài khoản về vốn của NHNo & PTNT Việt
nam , đảm bảo khả năng thanh toán của toàn hệ thống. Thực hiện kinh doanh vốn
thông qua thị trường liên Ngân hàng góp phần tăng cường năng lực tài chính, năng
lực cạnh tranh của NHNo & PTNT Việt nam. Năm 2004, Sở giao dịch quản lý 4 tài
khoản VND, 14 tài khoản ngoại tệ trong nước và 31 tài khoản NOSTRO (trong đó Tổng nguồn vốn đến 31/12/2004 đạt 6.380 tỷ đồng, tăng 2.570 tỷ đồng (tăng
67,4%) so với 31/12/2003. Trong đó, nguồn vốn huy động của Sở giao dịch (Không
tính nguồn vốn huy động hộ Trung ương) đạt 6.022 tỷ đồng, bằng 140,5% chỉ tiêu
kế hoạch huy động vốn năm 2004 được giao.
- Về cơ cấu vốn theo thời gian.
+ Nguồn vốn không kỳ hạn đạt 2.231 tỷ đồng, tăng 1.048 tỷ đồng (tăng 88,5%)
so với 31/12/2003; chiếm tỷ trọng 35% tổng nguồn vốn.
+ Nguồn vốn có kỳ hạn đạt 4.149 tỷ đồng, tăng 1.522 tỷ đồng (tăng 58%) so
với 31/12/2003; chiếm tỷ trọng 65% tổng nguồn vốn. Riêng nguồn vốn có kỳ hạn từ
12 tháng trở lên đạt 2.828 tỷ đồng.
- Về cơ cấu theo thành phần kinh tế.
+ Nguồn vốn huy động tiền gửi dân cư đạt 1.573 tỷ đồng, tăng 342 tỷ đồng
(tăng 27,8%) so với 31/12/2003; chiếm 24,6% tổng nguồn vốn.
+ Nguồn vốn của các tổ chức kinh tế đạt 4.316 tỷ đồng, tăng 1.746 tỷ đồng
(tăng 68%) so với 31/12/2003; chiếm 67,6% tổng nguồn vốn.
+ Nguồn vốn của các tổ chức tín dụng 491 tỷ đồng, tăng 481 tỷ đồng so với
31/12/2003; chiếm 7,7% tổng nguồn vốn.
- Về cơ cấu vốn theo đồng tiền huy động.
+ Nguồn vốn nội tệ đạt 5.151 tỷ đồng, tăng 2.337 tỷ đồng (tăng 83%) so với
31/12/2003; chiếm 80,7% tổng nguồn vốn.
+ Nguồn vốn ngoại tệ đạt 74,33 triệu USD và 2,62 triệu URE (tương đương
1.230 tỷ VNĐ) tăng 13,1 triệu USD và 1,25 URE và 1,25 triệu URE (tăng 23,4%)
so với 31/12/2003; chiếm 19,3% tổng nguồn vốn.
2.1.2.4 Kết quả kinh doanh, tài chính
- Tổng thu 946 A: 380 tỷ đồng
- Tổng chi 946A: 275 tỷ đồng
- Chênh lệch thu chi: 105 tỷ đồng
- Quỹ tiền lương xác lập: 7,78 tỷ đồng
- Hệ số tiền lương làm ra 4,8 lần
- Chênh lệch lãi suất đạt 0,324% /tháng
2.1.2.5. Công tác kế toán, thanh toán và ngân quỹ
- Năm 2004, thực hiện "Văn minh giao dịch" Sở giao dịch triển khai hệ thống
xếp hàng tự động và thực hiện giao dịch một cửa, nâng hạn mức giao dịch cho thanh
toán viên phù hợp với trình độ, mức độ thành thạo công việc, thúc đẩy tăng năng
suất lao động, rút ngắn thời gian xử lý nghiệp vụ, nâng cao chất lượng phục vụ
khách hàng. Khối lượng thanh toán, số lượng bút toán giao dịch tăng nhanh, vẫn
thực hiện hạch toán kịp thời, chính xác các nghiệp vụ phát sinh, đảm bảo an toàn tài
sản.
- Thực hiện mở 2.231 tài khoản mới, trong đó có 2.049 tài khoản cá nhân và
182 tài khoản của các tổ chức, doanh nghiệp; nâng tổng số lên 4.957 tài khoản VNĐ
và 617 tài khoản USD hoạt động tại Sở giao dịch. Phát hành 1.834 thẻ ATM, nâng
tổng số thẻ ATM đang hoạt động lên 2.823 thẻ, số dư nguồn vốn bình quân đạt 14 tỷ
VNĐ. Doanh số chuyển tiền đi: 22.464 tỷ đồng/21.748 món; chuyển tiền đến 24.624
tỷ đồng/53.281 món.
- Thực hiện chức năng đầu mối ngoại tệ mặt, hoạt động thu chi tiền mặt đa
dạng về loại tiền, bao gồm các đồng ngoại tệ mạnh và Séc du lịch; doanh số thu chi
tiền mặt qua quỹ lớn (4.047 tỷ VNĐ và 487 triệu USD), đảm bảo an toàn tài sản,
không để mất mát trong thu chi tiền mặt và kho quỹ, phát hiện tiền giả kịp thời.
2.1.2.6. Công tác kiểm tra kiểm toán nội bộ
động Ngân hàng. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của nền kinh tế, của
ngành Ngân hàng, Sở giao dịch NHNo & PTNT Việt nam ngay từ khi mới đi vào
hoạt động đã rất quan tâm hoàn thiện, cải tiến công tác trên các mặt nội dung, hình
thức cũng như công tác phục vụ và đã thu được những kết quả khả quan, cụ thể: Các
nguồn chu chuyển tiền tệ ngày càng được tập trung qua Ngân hàng nhiều hơn, thể
hiện ở doanh số thanh toán qua Ngân hàng ngày càng tăng trong đó doanh số
TTKDTM không ngừng được nâng lên, góp phần xoá đi tình trạng khan hiếm tiền
mặt do tâm lý thích dùng tiền mặt của khách hàng, từ đó tiết kiệm chi phí cho việc
in ấn, vận chuyển, bảo quản tiền mặt.
Theo những số liệu thu thập được tại Sở giao dịch NHNN &PTNT Việt Nam,
ta thấy doanh số thanh toán qua Ngân hàng của Sở giao dịch tăng từ 194.533.302
triệu năm 2002 lên 373.782.012 triệu năm 2003 với mức tăng là 179.248.710 triệu
tương đương 92,14%. Đến cuối năm 2004, tổng thanh toán đạt 489.098.994 triệu
đồng, tăng 115.316.982 triệu so với năm 2003, tương đương với tỷ lệ tăng 30, 85%.
Trong đó, ta thấy năm 2002 TTKDTM đạt doanh số 194.502.770 triệu, chiếm
99,73% tổng thanh toán. Đến cuối năm 2003, con số này là 372.904.689 triệu,
chiếm 99,77% trong tổng thanh toán, tăng so với năm 2002 là 178.901.919 triệu ,
tương đương với tỷ lệ tăng 92,21%. Tính đến 31.12.2004, doanh số TTKDTM là
448.216.132 triệu, chiếm 99,8% tổng thanh toán, tăng 115.221.443 triệu so với năm
2002, tương đương với tỷ lệ tăng 30,9%. Điều này có nghĩa là thanh toán bằng tiền
mặt đã giảm xuống cả về doanh số lẫn tỷ trọng trong tổng thanh toán.
Như vậy, qua số liệu mô tả ở trên thì TTKDTM luôn chiếm một tỷ trọng rất
cao trong tổng thanh toán của Sở giao dịch, điều đó chứng tỏ hình thức TTKDTM
đang ngày càng được sử dụng một cách phổ biến và dần khẳng định được chỗ đứng
trong nền kinh tế. Đó cũng là kết quả tất yếu của việc đổi mới chính sách, chế độ
của hệ thống Ngân hàng , kết hợp với đội ngũ cán bộ trẻ hoá, có năng lực, trình độ,
trong việc tổ chức thực hiện nghiệp vụ đem lại kết quả khả quan. Công tác
TTKDTM được áp dụng rộng rãi, chiếm ưu thế trong thanh toán, phù hợp với điều
kiện mới của nền kinh tế.
2.2.2 Tình hình vận dụng các hình thức thanh toán
Qua khảo sát thực tế tại Sở giao dịch cho thấy khách hàng rất ưa sử dụng
hình thức thanh toán này. Ngược lại, ta lại thấy thể thức thanh toán bằng UNT đạt
doanh số thấp nhất so với tổng TTKDTM . Về tình hình thanh toán Séc, tuy chiếm
tỷ trọng không cao so với các thể thức TTKDTM khác nhưng nó tương đối ổn định
qua các năm, điều đó chứng tỏ thanh toán bằng Séc luôn được khách hàng ưa
chuộng và sử dụng một cách thường xuyên. NPTT cũng chiếm tỷ trọng khá lớn
trong tổng giá trị TTKDTM. Trong khi đó, hai hình thức TTD và thẻ thanh toán lại
hoàn toàn chưa được sử dụng nhưng nhìn chung về doanh số, TTKDTM luôn có
chiều hướng tăng.
2.2.2.1. Tình hình sử dụng Séc
Hiện nay, tại Sở giao dịch sử dụng hai loại séc đó là séc chuyển khoản và séc
bảo chi. Như ta đã biết, Séc là một trong những phương tiện TTKDTM rất hữu ích,
nó được xem là một công cụ thanh toán tiến bộ nhất trong các hình thức thanh toán
truyền thống của Ngân hàng vì thủ tục có phần đơn giản, thời gian nhanh, kịp thời,
dễ sử dụng.
*. Séc chuyển khoản
Đây là hình thức thanh toán đơn giản, thuận tiện và nhanh chóng; tuy nhiên,
nó lại ít được sử dụng tại Sở giao dịch. Điều này được thể hiện rõ qua các số liệu
sau:
Trong năm 2004, Sở giao dịch đã thực hiện được 980 món với tổng số tiền là Trong các công cụ thanh toán séc thì séc bảo chi có ưu thế và an toàn hơn tất
cả các loại séc khác. Điều này được thể hiện rõ nét tại sở giao dịch NHNo & PTNT
Việt Nam.
Năm 2002, doanh số séc bảo chi đạt 13.394 triệu đồng, chiếm 19,14% trong
thanh toán séc và 0,007% trong tổng doanh số TTKDTM. Sang năm 2003, séc bảo
chi tăng 447 món, tương đương 16.126 triệu so với năm 2002 Năm 2004, séc bảo
chi tăng cả về số món và doanh số nhưng tỷ trọng so với doanh số séc lại giảm
xuống còn 67,2% chiếm 0,014% trong tổng TTKDTM. Như ta đã biết, trong điều
kiện nền kinh tế thị trường thì mức độ tin cậy giữa các đối tác khách hàng là chưa
cao, hơn nữa, nhu cầu về vốn của các tổ chức hiện nay rất căng thẳng đòi hỏi đảm
bảo khả năng thanh toán nhanh và chắc chắn. Đây là lý do giải thích vì sao séc bảo
chi được sử dụng nhiều hơn séc chuyển khoản tại sở giao dịch.
- Đứng trên góc độ là người thụ hưởng thì séc bảo chi có nhiều ưu điểm : có
tính chắc chắn vì khi thực hiện thanh toán cho khách hàng có tài khoản tại 2 ngân
hàng trong cùng hệ thống thì kế toán hạch toán ghi Có trước vào tài khoản người thụ
hưởng và ghi Nợ sau vào tài khoản người trả tiền. Mặt khác, phạm vi thanh toán của
séc bảo chi rộng hơn séc chuyển khoản.
- Tuy nhiên, đứng trên góc độ người trả tiền thì sử dụng séc bảo chi lại có
nhược điểm : Do phải mở một tài khoản để lưu ký tiền nên ít nhiều đối với đơn vị
phát hành séc cũng bị chi phí đọng vốn trong một thời gian nhất định. Ngoài ra, để
được bảo chi, khách hàng phải làm thủ tục bảo chi nên cũng có những phiền hà đối
với họ.
UNC ngày càng cao.
- Hơn nữa, với chức năng thanh toán của sở đầu mối sở giao dịch có quan hệ
thanh toán với nhiều khách hàng lớn như KBNN, các Ngân hàng nước ngoài
(CITYBANK, ABN, AMRO ), nhận điều hoà vốn nội, ngoại tệ cho các chi nhánh
trong toàn hệ thống NHNo & PTNT Việt Nam, có nhiều đơn vị lớn như sứ quán
Mỹ, tổ chức CARE, công ty máy tính FUJSU, công ty chuyển phát nhanh BNT trả
lương cho cán bộ công nhân viên thông qua tài khoản tiền gửi tại sở giao dịch bằng
UNC. Chính những hoạt động này đã nâng doanh số thanh toán bằng UNC của sở
giao dịch lên mức cao nhất.
Tuy vậy, thể thức thanh toán này chỉ được áp dụng trong trường hợp khách
hàng có tín nhiệm lẫn nhau vì độ rủi ro vẫn là lớn cho cả 2 bên tuỳ thuộc vào thời
gian giao hàng trước hoặc sau khi lập UNC. Trường hợp giao hàng sau khi lập UNC
trả tiền, nếu bên bán không đủ hàng hoặc chần chừ không chịu giao hàng thì thiệt
hại thuộc về bên mua. Ngược lại, nếu bên bán giao hàng trước khi bên mua UNC trả
tiền mà khi bên mua hàng không đủ hoặc không có tiền để thanh toán sẽ bị ngân
hàng từ chối thanh toán UNC đó. Như vậy, người bán không thu được tiền và cũng
không đòi được hàng. Trong trường hợp khách hàng không tin tưởng nhau thì họ
thường sử dụng thể thức thanh toán có độ an toàn cao hơn như : séc bảo chi, NPTT
đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến thanh toán bằng UNC của các cá