Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ tại trung tâm năng suất Việt Nam – thực trạng và giải pháp - Pdf 12

Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, nền kinh tế không đơn thuần chỉ có các sản phẩm vật chất cụ
thể mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Khi xã hội ngày càng
phát triển, đời sống của con người ngày càng cao thì nhu cầu của con người
ngày càng phong phú, đa dạng và dần phát triển lên những nấc thang nhu cầu
cao hơn. Và điều đó đã làm cho dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng
hơn trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động dịch vụ không chỉ quan hệ trực
tiếp tới phát triển sản xuất xã hội mà còn tác động và liên quan chặt chẽ tới sự
phát triển hoàn thiện của các nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần và sự phát
triển toàn diện của con người. Sự tiện ích của dịch vụ đã làm cho con người
thỏa mãn nhu cầu bậc cao của cuộc sống, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất
kinh doanh. Chính vì thế đã có không ít những tổ chức kinh tế, các cá nhân đã
đầu tư tiền của, công sức vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm mục
đích thu lợi nhuận lớn.
Trung tâm năng suất Việt Nam là cơ quan nhà nước hoạt động trong
lĩnh vực năng suất chất lượng. Dịch vụ chủ yếu mà trung tâm cung cấp là dịch
vụ đào tạo, tư vấn về năng suất chất lượng cho các doanh nghiệp. Trải qua
hơn 10 năm, hoạt động dịch vụ của trung tâm không những mang lại nguồn
thu lớn cho trung tâm góp phần đảm bảo sự tồn tại phát triển của trung tâm
mà còn góp phần tạo nên những thành tích tăng trưởng, các chỉ tiêu kinh tế xã
hội của đất nước. Mặc dù là đơn vị đi đầu trong lĩnh vực đào tạo tư vấn về
năng suất chất lượng nhưng để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh thì trung
tâm không chỉ đơn thuần là thực hiện các dịch vụ truyền thống mà bản thân
cần phải dần thay đổi và phát triển thêm các dịch vụ mới để phù hợp hơn với
xu thế chung của thời đại. Việc cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao là một
trong những yếu tố để duy trì vị thế và uy tín của trung tâm. Vì vậy, thường
xuyên duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ là mối quan tâm hàng
đầu của Trung tâm. Nắm bắt được sự cần thiết của việc hoàn thiện và phát
1
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B

như thu nhập quốc dân. Thực tế cho thấy, tổng thu nhập của một quốc gia hay
doanh thu của một doanh nghiệp không thể không tính đến sự đóng góp của
lĩnh vực dịch vụ. Như chúng ta đã biết ở những quốc gia phát triển tỷ trọng
dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân thường là rất cao và có xu hướng ngày
càng tăng lên như ở Mỹ chiếm 70%; Anh, Pháp, Đức chiếm 60%; Nhật Bản
chiếm 50% GDP…. Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới chuyển từ cơ chế
kinh tế tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường đã có nhiều thay đổi to lớn, cơ
cấu nền kinh tế có chuyển dịch theo hướng tỷ trọng các ngành dịch vụ chiếm
ngày càng cao và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Sự tiện
ích của dịch vụ đã làm cho con người thõa mãn nhu cầu bậc cao của cuộc
sống, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất kinh doanh. Và trong nền kinh tế có
nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, tùy từng lĩnh vực mà hoạt động dịch vụ có
những nét đặc thù riêng biệt và đòi hỏi chuyên môn phù hợp. Nhưng điều
quan trọng là dù dịch vụ ở lĩnh vực nào đi nữa thì cái chung của dịch vụ là
phục vụ cho sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
Vậy dịch vụ là gì?
Bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Các Mác cho rằng: “ Dịch vụ
là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát
3
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy, thông suốt liên tục để thỏa
mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển”
Với khái niệm đó Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát
triển của dịch vụ.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển dịch vụ càng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế thì dịch vụ trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà
khoa học. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau thì có rất nhiều các
khái niệm khác nhau về dịch vụ.
Có quan điểm cho rằng dịch vụ nằm trong cấu trúc nền sản xuất xã hội
ngoài hai lĩnh vực lĩnh vực sản xuất vật chất và ngành nông nghiệp, các ngành

người nhằm tạo ra những sản phẩm dịch vụ, không tồn tại dưới dạng vật
phẩm, không dẫn đến việc chuyển quyền sở hữu nhămg thỏa mãn đầy đủ, kịp
thời, thuận tiện, văn minh các nhu cầu sản xuất và đời sống xã hội.
Theo cách định nghĩa của Philip kotler thì dịch vụ là mọi hành động và
kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và
không dẫn đến chuyển quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể
có hay không gắn với sản phẩm vật chất cụ thể.
Các định nghĩa trên đều đúng tuy nhiên theo cách chung nhất chúng có
hai cách hiểu sau:
Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền
kinh tế quốc dân ngoài hai ngành kinh tế là ngành công nghiệp và ngành nông
nghiệp
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động nhằm hỗ trợ cho quá trình
kinh doanh, bao gồm các hỗ trợ trước, trong và sau khi bán , là phần mềm của
sản phẩm được cung ứng cho khách hàng.
Ngoài ra khi tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ chúng ta cần quan
tâm tới cách tiếp cận về khái niệm dịch vụ theo luật Thương mại.
Theo cách tiếp cận của luật thương mại thì cung ứng dịch vụ là hoạt
động thương mại, theo đó một bên (còn gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa
vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch
5
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
vụ (còn gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ
và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Từ đó ta có thể hiểu hoạt động cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo là hoạt
động theo đó bên cung ứng dịch vụ (doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ) là các
chuyên gia tư vấn có nghĩa vụ cung cấp các kiến thức liên quan đến nội dung
mà khách hàng cần tư vấn và nhận thanh toán còn bên sử dụng dịch vụ (khách
hàng) thì tiếp nhận các kiến thức đó và thanh toán theo thỏa thuận.
1.2. Phân loại dịch vụ

lại, có loại dịch vụ liên hệ với khách hàng thấp dịch vụ được thực hiện không
có thông tin phản hồi. Sau đây ta tham khảo theo trình tự các loại dịch vụ từ
mức liên lạc cao tới mức liên lạc thấp
Mức liên lạc cao
a) Dịch vụ thuần túy:
• Chăm sóc sức khỏe
• Dịch vụ khách sạn
• Giao thông công cộng
• Đào tạo
• Nhà hàng
b) Dịch vụ pha trộn
• Ngân hàng
• Dịch vụ về bất động sản
• Dịch vụ máy tính – bưu điện
• Dịch vụ tang lễ
• Du lịch
c) Dịch vụ bao hàm sản xuất
• Hàng không
• Dịch vụ khối công quyền
• Dịch vụ sửa chữa
7
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
• Dịch vụ thương nghiệp
Mức liên lạc thấp
1.2.3. Phân loại theo các mảng dịch vụ
Dựa vào những đặc tính riêng biệt của các loại dịch vụ mà chúng ta có
thể phân loại dịch vụ theo các mảng khác nhau.
1.2.4. Phân loại theo WTO
Theo cách phân loại của WTO thì dịch vụ được chia làm mười hai
ngành dịch vụ chính sau:

Thứ nhất, Sản phẩm dịch vụ là các sản phẩm vô hình chúng ta không
thể đánh giá chất lượng dịch vụ thông qua các thông số kỷ thuật hay các tiêu
chuẩn đánh giá chất lượng nhất định như các sản phẩm vật chất. Nếu sản
phẩm vật chất chúng ta có thể sờ mó, nhìn thấy, xác định các định các tiêu
chuẩn kỷ thuật. Một trong những bước đầu tiên phải làm để đảm bảo sản xuất
bất cứ sản phẩm nào là viết ra quy cách của sản phẩm với đầy đủ các kích
thước và thuộc tính, một vài mô tả mơ hồ không đủ để người khác tái tác ra
sản phẩm đó. Khách hàng khi đánh giá một sản phẩm vật chất sẽ dựa vào các
chỉ tiêu kỷ thuật hoặc các chỉ tiêu chất lượng một các rõ ràng như khi khách
hàng mua một chiếc xe hơi sẽ nghiên cứu những quy cách của xe bao gồm
hình thức như chiều dài, chiều rộng, màu sắc kích thước của xe và các thuộc
tính của xe như tốc độ, độ tiêu thụ xăng của xe, một số thông số kỷ thuật
khác. Nhưng đối với sản phẩm dịch vụ chúng ta không thể sờ mó hay nhìn
thấy thì việc đánh giá, đo lường hay xác định sản phẩm ấy chủ yếu dựa vào
cảm giác, kinh nghiệm. Khi mua sản phẩm dịch vụ dựa vào kinh nghiệm thì
dù loại hình dịch vụ đó liên quan đến loại hình dịch vụ nào, dù hào hứngm
thư giãn, thơ mộng hay vui nhộn thì việc xác định dịch vụ đó vẫn rất khó
khăn. Ngay cả nếu có những số đo lường khác nhau thì những số đo đó vẫn có
khuynh hướng mô tả các bối cảnh hay điều kiện cung cấp dịch vụ chứ không
phải là xác định thực tế của một dịch vụ. Theo cách mà khách hàng nhận thức
dịch vụ đó như thế nào thì dịch vụ đó cũng được sản xuất theo cùng một cách
9
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
trong hai tình huống khác nhau vẫn có những điểm khác biệt, tùy theo tâm
trạng của khách hàng. Một người khách hàng hưng phấn sẽ có khuynh hướng
nhận xét sự kiện nào đó theo cái nhìn thuận lợi hơn là một khách hàng đang
cáu kỉnh. Như vậy vì dịch vụ là sản phẩm vô hình nên chúng ta không thể
kiểm tra chất lượng dịch vụ theo cách phân tích kỷ thuật hay theo tiêu chuẩn
chất lượng nhất định như các sản phẩm hàng hóa vật chất mà việc đánh giá
chất lượng dịch vụ thông qua cảm quan của người nhận dịch vụ.

sẽ có những dịch vụ như gội đầu chăm sóc tóc khác nhau. Mức độ hài lòng
của khách vào cùng dịch vụ của cùng một người cung ứng cũng khác nhau.
Vì chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng tiếp xúc của người
cung ứng và khách hàng sử dụng dịch vụ nên tâm trạng đóng vai trò hết sức
quan trọng cho sự chuyển giao một sản phẩm dịch vụ nào đó. Khi ai đó đang
bận rộn và cảm giác không khỏe thì việc giao dịch đó có thể bị ảnh hưởng.
Ngay cả trong cùng một ngày, như người tiếp tân buổi sáng còn vui vẻ và sẵn
sàng giúp đỡ thì chiều tối đã quá mệt mỏi, bực dọc và chẳng muốn tác động gì
để giúp đỡ ai nữa. Ở đây không ngoại trừ các phương tiện của hoạt động dịch
vụ, những điều kiện và sản phẩm kèm theo, cũng như các dịch vụ bổ sung
khác, nhưng cái đọng lại cho người được dịch vụ vẫn là quan hệ giao tiếp, sự
đáp ứng đầy đủ , kịp thời, thuận tiện và văn minh những nhu cậu, yêu cầu và
lòng mong muốn của khách hàng đối với những dịch vụ và người làm dịch vụ
trực tiếp phục vụ khách hàng.
Thứ tư, trong hoạt động sản xuất vật chất vì nơi sản xuất và nơi tiêu
dùng là khác nhau nên sản phẩm vật chất có thể tạo ra ở nơi này và mang đến
mọi nơi có nhu cầu. Còn dịch vụ thì sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời
và cùng một địa điểm nên hoạt động dịch vụ đòi hỏi phải được đáp ứng đúng
địa điểm cần thiết. Ở những thời điểm, cụ thể khi hoạt động dịch vụ tăng lên
nhanh chóng, cần phải tổ chức hoạt động dịch vụ sao cho đáp ứng đầy đủ, kịp
thời, thuận tiện và văn minh cho khách hàng.
11
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
Những đặc điểm được nêu ra ở trên là những điểm khác biệt giữa sản
phẩm vật chất với sản phẩm dịch vụ mà các nhà kinh doanh khi tiến hành hoạt
động kinh doanh dịch vụ cần chú ý để kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tư vấn, đào tạo thì
cần chú ý đến những đặc điểm sau của dịch vụ tư vấn, đào tạo. Như các dịch
vụ khác dịch vụ tư vấn cũng mang tính vô hình nhưng điểm khác biệt của
dịch vụ tư vấn với các dịch vụ khác. Đầu tiên, chất lượng của dịch vụ tư vấn

phát triển của sản xuất kinh doanh.
Như chúng ta đã biết, mỗi con người không phải khi sinh ra đã hiểu
biết mà cần phải được đào tạo thì họ mới có những am hiểu nhất định và mỗi
người chỉ am hiểu về một hoặc một số lĩnh vực, họ không thể hiểu hết được
tất cả các lĩnh vực trong xã hội chính vì vậy mà trong một số lĩnh vực muốn
làm tốt họ cần phải tham khảo ý kiến của những chuyên gia về lĩnh vực đó.
Có những ý kiến tư vấn từ các chuyên gia họ có thể xử lý công việc tốt hơn
hay có những ứng xử khôn khéo hơn tạo điều kiện để cho họ hoàn thành công
việc với hiệu quả cao hơn và có cuộc sống tốt hơn. Như vậy dịch vụ tư vấn
đào tạo góp phần giúp cho xã hội phát triển một cách toàn diện và bền vững.
Tóm lại, Dịch vụ nói chung và dịch vụ tư vấn, đào tạo nói riêng có vai
trò hết sức quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó góp phần nâng cao đời
sống xã hội, góp phần giúp cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.
2. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ TRONG
CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
Kinh doanh là việc thực thiện một số hoặc toàn bộ các công đoạn của
quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khi tiến hành bất cứ hoạt động kinh
doanh nào cũng đòi hỏi phải có các nguồn lực như con người, vốn, công nghệ
và các tài nguyên.
Mục tiêu chính của kinh doanh là thu lợi nhuận. Tuy nhiên để thu được
lợi nhuận lớn thì doanh nghiệp phải thõa mãn tốt nhu cầu của con người. Nhu
cầu của con người là vô cùng phong phú và đa dạng mà nguồn lực của doanh
13
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
nghiệp lại có hạn cho nên khi tiến hành hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần
phải xem xét nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và nghiên cứu mục tiêu mà
doanh nghiệp cần đạt tới và từ đó quyết định sẽ tiến hành kinh doanh như thế
nào? Để trả lời cho câu hỏi đó doanh nghiệp cần phải trả lời ba câu hỏi sau: Sản
xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất những mặt hàng đó cho ai?

tiến hành kinh doanh theo chiến lược. Chiến lược kinh doanh có vai trò hết
sức quan trọng đối với sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp, nó giúp cho
doanh nghiệp thấy rõ mục đích doanh nghiệp muốn đạt tới cũng như các
bước đi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đồng thời nó giúp cho
doanh nghiệp chủ động chuẩn bị tốt hơn các nguồn lực để có thể nắm bắt tốt
hơn các cơ hội xuất hiện trên thị trường và đối phó tốt hơn với những thay đổi
bất lợi của môi trường từ đó doanh nghiệp có thể gặt hái được nhiều thành
công hơn. Muốn xây dựng được chiến lược kinh doanh khả thi doanh nghiệp
cần phải tiến hành nghiên cứu môi trường kinh doanh của doanh nghiệp từ đó
rút ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của doanh nghiệp sau đó lựa
chọn chiến lược phù hợp với doanh nghiệp và tổ chức thực hiện và đánh giá ,
điều chỉnh chiến lược kinh doanh trong suốt quá trình kinh doanh.
2.3. Huy động và sử dụng hợp lý các nguồn lực đưa vào kinh
doanh
Để tiến hành hoạt động kinh doanh thì doanh nghiệp đòi hỏi phải có
các nguồn lực như con người, vốn, tài sản và công nghệ để tổ chức các hoạt
động sản xuất hàng hóa hay cung ứng các dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách
hàng và thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong kinh doanh dịch vụ cũng vậy
doanh nghiệp cần phải có tài sản, vốn, công nghệ và con người với trí tuệ, tài
năng, học vấn và những kinh nghiệm nghề nghiệp… được đưa vào để tiến
hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên nguồn lực của doanh nghiệp là có hạn
vì vậy để kinh doanh đạt được hiệu quả cao thì người quản lý của doanh
nghiệp phải có khả năng huy động các nguồn lực mặt khác phải kết hợp sử
dụng các nguồn lực một các hiệu quả nhất để giảm chi phí và tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
15
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
2.4. Tổ chức các hoạt động cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương
mại
Hoạt động cung ứng dịch vụ đòi hòi doanh nghiệp phải đáp ứng một

người, đòi hỏi cả một nghệ thuật vì con người có tâm tư, tình cảm và cách suy
nghĩ khác nhau. Thành công của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào con người,
dù doanh nghiệp có nguồn vốn và tài chính dồi dào và phong phú đến đâu đi
chăng nữa nhưng không có những người có đủ năng lực nghiệp, kỷ năng chuyên
nghiệp, kinh nghiệm, và sự sáng tạo cũng như sự trung thành và lòng nhiệt tình thì
doanh nghiệp không thể đạt hiệu quả cao trong kinh doanh. Vì vậy doanh nghiệp
cần phải có chiến lược sử dụng nhân lực hợp lý và đúng đắn.
3. NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH
VỤ TRONG CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
Hoạt động kinh doanh nói chung và kinh doanh dịch vụ nói riêng của
doanh nghiệp chịu sự tác động của rất nhiều yếu tố khách nhau. Để ra được
chiến lược kinh doanh đúng đắn thì doanh nghiệp cần phải xem xét và nghiên
cứu các yếu tố tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
3.1. Các yếu tố thuộc môi trường vĩ mô
Môi trường kinh tế, công nghệ
Như chúng ta đã biết, chỉ khi nền kinh tế phát triển đến một mức độ
nhất định thì hoạt động kinh doanh dịch vụ mới ra đời nhằm thỏa mãn ngày
càng tốt hơn các nhu cầu xã hội. Nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ đóng
vai trò ngày càng quan trọng. Chính vì vậy sự phát triển của nền kinh tế ảnh
hưởng rất lớn tới họat động kinh doanh dịch vụ.
Trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng tốt, nhu cầu về hàng hóa dịch
vụ doanh dịch vụ của doanh nghiệp. Ngược lại, nền kinh tế suy thoái, lạm
phát, tỷ lệ thất nghiệp cao thì nhu cầu về dịch vụ của con người giảm sút gây
khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh.
Công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh
dịch vụ. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ đã dẫn đến sự ra đời và đổi
mới của hàng loạt các dịch vụ. Chính vì vậy khi tiến hành hoạt động kinh
17
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
doanh dịch vụ doanh nghiệp cần phải thường xuyên đổi mới công nghệ để tạo

cạnh tranh hiện hữu cũng có thể là đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, tiềm năng hay
những đối thủ cạnh tranh thông qua mặt hàng thay thế. Tất cả những đối thủ
cạnh tranh đó đều có thể gây ảnh hưởng đến thị phần, doanh thu, lợi nhuận và
uy tín của doanh nghiệp. Chính vì vậy kinh doanh dịch vụ doanh nghiệp cần
phải nghiên cứu điểm mạnh, điểm yếu của đối thủ cạnh tranh để có quyết định
chiến lược kinh doanh đúng đắn, đảm bảo cho doanh nghiệp thắng lợi trong
cạnh tranh trên thị trường.
Khách hàng
Khách hàng là người trả lương cho doanh nghiệp, trước khi làm lợi cho
mình doanh nghiệp cần phải làm lợi cho khách hàng thông qua việc thỏa mãn
tốt nhu cầu của họ. Đặc biệt dịch vụ là sản phẩm vô hình người hưởng dịch vụ
thông thường sẽ không biết được chất lượng dịch vụ họ sẽ nhận được trước
khi dịch vụ đó được thực hiện, chất lượng dịch vụ được đánh giá bằng cảm
quan vì vậy người kinh doanh dịch vụ cần phải tạo niềm tin cho khách hàng
về sản phẩm mà mình cung cấp thông qua việc xây dựng hình ảnh tốt đẹp về
doanh nghiệp từ đội ngũ nhân viên phục vụ tới khung cảnh thực hiện dịch vụ
để tạo niềm tin và uy tín đối với khách hàng. Còn đối với doanh nghiệp cung
ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo, chất lượng dịch vụ phụ thuộc rất lớn vào nhận
thức của khách hàng, cách thức tiếp nhận và vận dụng những kiến thức được
các chuyên gia cung ứng của khách hàng. Như vậy, khách hàng có tác động
rất lớn tới các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
3.3. Môi trường nội bộ
Nguồn nhân lực
Trong bất kỳ hoạt động xã hội nào con người đều đóng vai trò hết sức
quan trọng, trong kinh doanh con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm
bảo thành công, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều do con người thực hiện
từ việc cung cấp các số liệu về thị trường, các yếu tố về môi trường tới việc
lên kế hoạch kinh doanh, thực hiện kế hoạch kinh doanh, đánh giá hiệu quả
kinh doanh đều do con người thực hiện. Cho dù các chiến lược, các kế hoạch
19

Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
hàng năm, do đó vấn đề tài chính của các cơ quan này chịu ảnh hưởng lớn vào
sự điều tiết của nhà nước.
21
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ
Ở TRUNG TÂM NĂNG SUẤT VIỆT NAM
1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TRUNG TÂM NĂNG SUẤT VIỆT NAM
1.1. Sự hình thành và phát triển
Phong trào năng suất của các nước tập trung vào việc tăng hiệu quả và
năng suất cho các doanh nghiệp, các tổ chức sản xuất trong các lĩnh vực công
nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ thông qua cách tiếp cận toàn diện, kết hợp giữa
con người, thiết bị và hệ thống quản lý. Năng suất là một tư duy luôn mong
muốn và cố gắng cải tiến và là một chuỗi các hoạt động để biến tư duy đó
thành các hành động cụ thể bằng việc: các cá nhân và tổ chức không ngừng
nâng cao hiểu biết, kinh nghiệm, kỹ năng; luôn nỗ lực tìm kiếm các phương
pháp quản lý tốt hơn, làm việc hiệu quả hơn, giảm thiểu những lãng phí và
thời gian bằng một hệ thống tốt hơn và công nghệ tiên tiến hơn; nâng cao chất
lượng sản phẩm và dịch vụ, mở rộng thị trường và nâng cao tiêu chuẩn sống.
Trong nhiều năm, khái niệm năng suất ở Việt nam vẫn được hiểu là
năng suất lao động và mọi nỗ lực cải tiến năng suất chỉ tập trung vào tăng
năng suất lao động, tức là tăng khả năng sản xuất của phân xưởng. Với quan
điểm như vậy, nếu theo đuổi mục tiêu năng suất tức là tìm mọi cách thức tăng
sản lượng sản phẩm trong khi cố gắng giảm chi phí. Nhưng cách nhìn nhận
năng suất như vậy chỉ phản ánh được khía cạnh hiệu quả sử dụng nguồn lực
nhưng chưa tính đến hiệu lực của đầu ra. Theo đuổi mục tiêu cải tiến năng
suất, đôi khi sử dụng các phương pháp cắt giảm chi phí như tăng cường độ lao
động, giảm số lượng lao động và chạy theo sản lượng mà hy sinh yếu tố chất
lượng. Ý nghĩa thực sự của năng suất đã không được hiểu một cách đầy
đủ.Vai trò và tầm quan trọng của năng suất và cải tiến năng suất đã được nhìn

lao động quốc tế (ILO), Hiệp hội Châu Á về bảo vệ môi trường… VPC đặc
biệt có ưu thế trong việc trao đổi, cập nhật những kiến thức và công nghệ mới
nhất và chuyển giao thành dịch vụ hỗ trợ Doanh nghiệp phát triển năng lực
quản lý và nâng cao hiệu quả hoạt động.
23
Chuyên đề tốt nghiệp Võ Thị Ngọc Bích - TM46B
Trải qua 10 năm hoạt động kể từ năm 1997 tới nay, Trung tâm năng
suất Việt Nam đã tạo dựng được tên tuổi và uy tín đối với các tổ chức, doanh
nghiệp, các cơ quan hành chính nhà nước trong cả nước thông qua các hoạt
động tư vấn, đào tạo, tuyên truyền quảng bá, thực hiện dự án… VPC đã thực
sự trở thành người bạn đồng hành cùng các doanh nghiệp không ngừng nâng
cao năng lực cạnh tranh và thực hiện xuất sắc vai trò đầu mối của một tổ chức
Năng suất, góp phần tạo nên những thành tích tăng trưởng các chỉ tiêu kinh tế
xã hội của đất nước. Trong chặng đường phát triển đó, trung tâm năng suất đã
đạt được nhiều thành tích như: được cấp chứng chỉ ISO 9001 : 2000 cho toàn
bộ hoạt động của trung tâm; tổ chức hơn 500 khóa đào tạo, 80 hội nghị hội
thảo về năng suất chất lượng với gần 30000 người tham dự đến từ các tổ
chức, doanh nghiệp trong cả nước; tổ chức 10 diễn đàn năng suất chất lượng;
gần 1000 tổ chức, doanh nghiệp đã và đang được trung tâm tư vấn hướng dẫn
triển khai áp dụng hệ thống quản lý theo tiêu chuẩn quốc... Cùng với những
thành tích đó thì VPC đã đạt được các danh hiệu sau:
• Ngày18/12/2002 VPC là một trong bốn đơn vị trực thuộc Tổng cục
Tiêu chuẩn đo lường chất lượng được thủ tướng chính phủ trao bằng
khen vì đã có nhiều thành tích trong công tác góp phần vào sự
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.
• Năm 2003 VPC nhận bằng khen của Bộ Khoa học và Công nghệ vì
đã tích cực tham gia Hội chợ công nghệ và Thiết bị Việt Nam. Cũng
trong năm 2003 VPC đã được trao giải thưởng Môi trường trong cả
nước thong qua việc triển khai chương trình Năng suất xanh trong
các cộng đồng và các hoạt động về môi trường hỗ trợ cho các doanh

cộng đồng nhằm đem lại lợi ích thiết thực cho sự phát triển của kinh tế xã hội
của đất nước
Thứ hai là, tạo lập khối liên minh chiến lược với doanh nghiệp, cộng
đồng và các tổ chức chuyên môn trong nước và quốc tế.
Thứ ba là, Xây dựng một môi trường làm việc trong đó mọi người được
khuyến khích làm việc sáng tạo, không ngừng đổi mới và phát triển chuyên môn.
25

Trích đoạn Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của trung tâm Lao động của trung tâm năng suất Việt Nam Các hoạt động chủ yếu của trung tâm năng suất Việt Nam Sự cần thiết của dịch vụ tư vấn, đào tạo về năng suất chất lượng Thực trạng hoạt động kinh doanh dịch vụ của trung tâm năng suất Việt
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status