LỜI NÓI ĐẦU
Ngày nay, nền kinh tế không đơn thuần chỉ có các sản phẩm vật chất cụ
thể mà bên cạnh đó còn tồn tại các sản phẩm dịch vụ. Khi xã hội ngày càng
phát triển, đời sống của con người ngày càng cao thì nhu cầu của con người
ngày càng phong phú, đa dạng và dần phát triển lên những nấc thang nhu cầu
cao hơn. Và điều đó đã làm cho dịch vụ ngày càng đóng vai trò quan trọng
hơn trong nền kinh tế quốc dân. Hoạt động dịch vụ không chỉ quan hệ trực
tiếp tới phát triển sản xuất xã hội mà còn tác động và liên quan chặt chẽ tới sự
phát triển hoàn thiện của các nhu cầu vật chất, văn hóa tinh thần và sự phát
triển toàn diện của con người. Sự tiện ích của dịch vụ đã làm cho con người
thỏa mãn nhu cầu bậc cao của cuộc sống, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất
kinh doanh. Chính vì thế đã có không ít những tổ chức kinh tế, các cá nhân đã
đầu tư tiền của, công sức vào các hoạt động kinh doanh dịch vụ nhằm mục
đích thu lợi nhuận lớn.
Trung tâm năng suất Việt Nam là cơ quan nhà nước hoạt động trong
lĩnh vực năng suất chất lượng. Dịch vụ chủ yếu mà trung tâm cung cấp là dịch
vụ đào tạo, tư vấn về năng suất chất lượng cho các doanh nghiệp. Trải qua
hơn 10 năm, hoạt động dịch vụ của trung tâm không những mang lại nguồn
thu lớn cho trung tâm góp phần đảm bảo sự tồn tại phát triển của trung tâm
mà còn góp phần tạo nên những thành tích tăng trưởng, các chỉ tiêu kinh tế xã
hội của đất nước. Mặc dù là đơn vị đi đầu trong lĩnh vực đào tạo tư vấn về
năng suất chất lượng nhưng để tồn tại và phát triển trong cạnh tranh thì trung
tâm không chỉ đơn thuần là thực hiện các dịch vụ truyền thống mà bản thân
cần phải dần thay đổi và phát triển thêm các dịch vụ mới để phù hợp hơn với
xu thế chung của thời đại. Việc cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao là một
trong những yếu tố để duy trì vị thế và uy tín của trung tâm. Vì vậy, thường
xuyên duy trì, cải tiến và nâng cao chất lượng dịch vụ là mối quan tâm hàng
đầu của Trung tâm. Nắm bắt được sự cần thiết của việc hoàn thiện và phát
1
triển hoạt động dịch vụ của Trung tâm nên em đã lựa chọn nghiên cứu đề tài
“Đẩy mạnh hoạt động kinh doanh dịch vụ tại trung tâm năng suất Việt Nam –
dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân thường là rất cao và có xu hướng ngày
càng tăng lên như ở Mỹ chiếm 70%; Anh, Pháp, Đức chiếm 60%; Nhật Bản
chiếm 50% GDP…. Ở Việt Nam, sau hơn 20 năm đổi mới chuyển từ cơ chế
kinh tế tập trung sang cơ chế kinh tế thị trường đã có nhiều thay đổi to lớn, cơ
cấu nền kinh tế có chuyển dịch theo hướng tỷ trọng các ngành dịch vụ chiếm
ngày càng cao và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Sự tiện
ích của dịch vụ đã làm cho con người thõa mãn nhu cầu bậc cao của cuộc
sống, thúc đẩy sự phát triển của sản xuất kinh doanh. Và trong nền kinh tế có
nhiều loại hình dịch vụ khác nhau, tùy từng lĩnh vực mà hoạt động dịch vụ có
những nét đặc thù riêng biệt và đòi hỏi chuyên môn phù hợp. Nhưng điều
quan trọng là dù dịch vụ ở lĩnh vực nào đi nữa thì cái chung của dịch vụ là
phục vụ cho sản xuất kinh doanh của nền kinh tế.
Vậy dịch vụ là gì?
Bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Các Mác cho rằng: “ Dịch vụ
là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà kinh tế hàng hóa phát
3
triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy, thông suốt liên tục để thỏa
mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển”
Với khái niệm đó Các Mác đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát
triển của dịch vụ.
Khi nền kinh tế ngày càng phát triển dịch vụ càng đóng vai trò quan
trọng trong nền kinh tế thì dịch vụ trở thành đối tượng nghiên cứu của các nhà
khoa học. Đứng trên các góc độ nghiên cứu khác nhau thì có rất nhiều các
khái niệm khác nhau về dịch vụ.
Có quan điểm cho rằng dịch vụ nằm trong cấu trúc nền sản xuất xã hội
ngoài hai lĩnh vực lĩnh vực sản xuất vật chất và ngành nông nghiệp, các ngành
còn lại đều là ngành dịch vụ. Các ngành sản xuất vật chất sản xuất ra các sản
phẩm dưới dạng hữu hình tức là các sản phẩm hàng hóa vật chất, còn các
ngành dịch vụ sản xuất ra các sản phẩm dịch vụ đó là các sản phẩm vô hình
nhưng nó làm thỏa mãn đầy đủ, kịp thời các nhu cầu sản xuất và đời sống sinh
không dẫn đến chuyển quyền sở hữu một cái gì đó. Sản phẩm của nó có thể
có hay không gắn với sản phẩm vật chất cụ thể.
Các định nghĩa trên đều đúng tuy nhiên theo cách chung nhất chúng có
hai cách hiểu sau:
Theo nghĩa rộng, dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền
kinh tế quốc dân ngoài hai ngành kinh tế là ngành công nghiệp và ngành nông
nghiệp
Theo nghĩa hẹp, dịch vụ là những hoạt động nhằm hỗ trợ cho quá trình
kinh doanh, bao gồm các hỗ trợ trước, trong và sau khi bán , là phần mềm của
sản phẩm được cung ứng cho khách hàng.
Ngoài ra khi tiến hành hoạt động kinh doanh dịch vụ chúng ta cần quan
tâm tới cách tiếp cận về khái niệm dịch vụ theo luật Thương mại.
Theo cách tiếp cận của luật thương mại thì cung ứng dịch vụ là hoạt
động thương mại, theo đó một bên (còn gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa
vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch
5
vụ (còn gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ
và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận.
Từ đó ta có thể hiểu hoạt động cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo là hoạt
động theo đó bên cung ứng dịch vụ (doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ) là các
chuyên gia tư vấn có nghĩa vụ cung cấp các kiến thức liên quan đến nội dung
mà khách hàng cần tư vấn và nhận thanh toán còn bên sử dụng dịch vụ (khách
hàng) thì tiếp nhận các kiến thức đó và thanh toán theo thỏa thuận.
1.2. Phân loại dịch vụ
Phân loại dịch vụ là một nghiệp vụ rất quan trọng trong hoạt động kinh
doanh dịch vụ. Chúng ta đều thừa nhận rằng do đặc điểm của dịch vụ mà bản
thân nó rất trừu tượng giữa các loại dịch vụ rất khó phân biệt chẳng hạn như
giữa dịch vụ khách sạn và dịch vụ nhà nghỉ, giữa dịch vụ tư vấn và dịch vụ cố
vấn, giữa giám định và giám sát kiểm tra… cần phải xác định được phạm vi
của từng loại và thỏa mãn nhu cầu nào thuộc lớp người nào, tổ chức nào trong
• Giao thông công cộng
• Đào tạo
• Nhà hàng
b) Dịch vụ pha trộn
• Ngân hàng
• Dịch vụ về bất động sản
• Dịch vụ máy tính – bưu điện
• Dịch vụ tang lễ
• Du lịch
c) Dịch vụ bao hàm sản xuất
• Hàng không
• Dịch vụ khối công quyền
• Dịch vụ sửa chữa
7
• Dịch vụ thương nghiệp
Mức liên lạc thấp
1.2.3. Phân loại theo các mảng dịch vụ
Dựa vào những đặc tính riêng biệt của các loại dịch vụ mà chúng ta có
thể phân loại dịch vụ theo các mảng khác nhau.
1.2.4. Phân loại theo WTO
Theo cách phân loại của WTO thì dịch vụ được chia làm mười hai
ngành dịch vụ chính sau:
• Dịch vụ kinh doanh
• Dịch vụ liên lạc
• Dịch vụ xây dựng và thi công
• Dịch vụ phân phối
• Dịch vụ giáo dục
• Dịch vụ môi trường
• Dịch vụ tài chính
• Các dịch vụ liên quan tới sức khỏe và các dịch vụ xã hội
hàng mua một chiếc xe hơi sẽ nghiên cứu những quy cách của xe bao gồm
hình thức như chiều dài, chiều rộng, màu sắc kích thước của xe và các thuộc
tính của xe như tốc độ, độ tiêu thụ xăng của xe, một số thông số kỷ thuật
khác. Nhưng đối với sản phẩm dịch vụ chúng ta không thể sờ mó hay nhìn
thấy thì việc đánh giá, đo lường hay xác định sản phẩm ấy chủ yếu dựa vào
cảm giác, kinh nghiệm. Khi mua sản phẩm dịch vụ dựa vào kinh nghiệm thì
dù loại hình dịch vụ đó liên quan đến loại hình dịch vụ nào, dù hào hứngm
thư giãn, thơ mộng hay vui nhộn thì việc xác định dịch vụ đó vẫn rất khó
khăn. Ngay cả nếu có những số đo lường khác nhau thì những số đo đó vẫn có
khuynh hướng mô tả các bối cảnh hay điều kiện cung cấp dịch vụ chứ không
phải là xác định thực tế của một dịch vụ. Theo cách mà khách hàng nhận thức
dịch vụ đó như thế nào thì dịch vụ đó cũng được sản xuất theo cùng một cách
9
trong hai tình huống khác nhau vẫn có những điểm khác biệt, tùy theo tâm
trạng của khách hàng. Một người khách hàng hưng phấn sẽ có khuynh hướng
nhận xét sự kiện nào đó theo cái nhìn thuận lợi hơn là một khách hàng đang
cáu kỉnh. Như vậy vì dịch vụ là sản phẩm vô hình nên chúng ta không thể
kiểm tra chất lượng dịch vụ theo cách phân tích kỷ thuật hay theo tiêu chuẩn
chất lượng nhất định như các sản phẩm hàng hóa vật chất mà việc đánh giá
chất lượng dịch vụ thông qua cảm quan của người nhận dịch vụ.
Thứ hai, hoạt động sản xuất hàng hóa vật chất tạo ra các sản phẩm hàng
hóa vật chất. Các sản phẩm này khi sản xuất ra thì cần có một khoảng thời
gian lưu kho, dự trữ và được bảo quản trước khi được chuyển đến tay người
tiêu dùng mặt khác người ta có thể dự trữ sản phẩm vật chất để làm phần đệm,
điều chỉnh cho sự thay đổi thất thường của thị trường. Ví dụ khi sản xuất ra
sản phẩm tủ lạnh thì trước khi sản phẩm đó đến tay người tiêu dùng thì nó có
một khoảng thời gian dự trữ trong kho hàng của đơn vị sản xuất, sau đó được
dự trữ trong lĩnh vực lưu thông trước khi tới tay người tiêu dùng nó phải được
bảo quản cẩn thận ở trong kho hàng. Còn đối với sản phẩm dịch vụ là sản
phẩm vô hình nên việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời, sản
đáp ứng đầy đủ , kịp thời, thuận tiện và văn minh những nhu cậu, yêu cầu và
lòng mong muốn của khách hàng đối với những dịch vụ và người làm dịch vụ
trực tiếp phục vụ khách hàng.
Thứ tư, trong hoạt động sản xuất vật chất vì nơi sản xuất và nơi tiêu
dùng là khác nhau nên sản phẩm vật chất có thể tạo ra ở nơi này và mang đến
mọi nơi có nhu cầu. Còn dịch vụ thì sản xuất và tiêu dùng diễn ra đồng thời
và cùng một địa điểm nên hoạt động dịch vụ đòi hỏi phải được đáp ứng đúng
địa điểm cần thiết. Ở những thời điểm, cụ thể khi hoạt động dịch vụ tăng lên
nhanh chóng, cần phải tổ chức hoạt động dịch vụ sao cho đáp ứng đầy đủ, kịp
thời, thuận tiện và văn minh cho khách hàng.
11
Những đặc điểm được nêu ra ở trên là những điểm khác biệt giữa sản
phẩm vật chất với sản phẩm dịch vụ mà các nhà kinh doanh khi tiến hành hoạt
động kinh doanh dịch vụ cần chú ý để kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Ngoài ra đối với doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ tư vấn, đào tạo thì
cần chú ý đến những đặc điểm sau của dịch vụ tư vấn, đào tạo. Như các dịch
vụ khác dịch vụ tư vấn cũng mang tính vô hình nhưng điểm khác biệt của
dịch vụ tư vấn với các dịch vụ khác. Đầu tiên, chất lượng của dịch vụ tư vấn
không thể đánh giá ngay sau khi hoạt động cung ứng dịch vụ kết thúc mà nó
còn cần một khoảng thời gian nữa mới có thể biết được ví dụ một trung tâm
dạy nghề sau khi đào tạo ra một học viên thì không thể biết được ngay là học
viên đó có làm tốt công việc mà mình được đào tạo hay không mà còn phải có
thời xem đánh giá qua quá trình làm việc của họa viên đó. Thứ hai, hoạt động
cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo là hoạt động truyền đạt những kiến thức mà
người cung ứng có về những lĩnh vực mà khách hàng cần yêu cầu đến cho
khách hàng, những kiến thức đó tùy theo nhận thức của từng người nó sẽ
được sử dụng khách nhau cho nên chất lượng dịch vụ tư vấn phụ thuộc rất lớn
vào người sử dụng dịch vụ.
1.4. Vai trò của hoạt động kinh doanh dịch vụ
Trong nền kinh tế, dịch vụ là loại hình hoạt động có mục đích phục vụ
2. NỘI DUNG CỦA HOẠT ĐỘNG KINH DOANH DỊCH VỤ TRONG
CƠ CHẾ THỊ TRƯỜNG
Kinh doanh là việc thực thiện một số hoặc toàn bộ các công đoạn của
quá trình đầu tư từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc thực hiện dịch vụ trên
thị trường nhằm mục đích thu lợi nhuận. Khi tiến hành bất cứ hoạt động kinh
doanh nào cũng đòi hỏi phải có các nguồn lực như con người, vốn, công nghệ
và các tài nguyên.
Mục tiêu chính của kinh doanh là thu lợi nhuận. Tuy nhiên để thu được
lợi nhuận lớn thì doanh nghiệp phải thõa mãn tốt nhu cầu của con người. Nhu
cầu của con người là vô cùng phong phú và đa dạng mà nguồn lực của doanh
13
nghiệp lại có hạn cho nên khi tiến hành hoạt động kinh doanh doanh nghiệp cần
phải xem xét nguồn lực hiện có của doanh nghiệp và nghiên cứu mục tiêu mà
doanh nghiệp cần đạt tới và từ đó quyết định sẽ tiến hành kinh doanh như thế
nào? Để trả lời cho câu hỏi đó doanh nghiệp cần phải trả lời ba câu hỏi sau: Sản
xuất cái gì? Sản xuất như thế nào? Sản xuất những mặt hàng đó cho ai?
Để trả lời tốt cho những câu hỏi trên, thì doanh nghiệp kinh doanh ở
lĩnh vực dịch vụ phải thực hiện tốt các nội dung sau:
2.1. Nghiên cứu và xác định nhu cầu thị trường về loại dịch vụ mà
doanh nghiệp lựa chọn để kinh doanh
Nhu cầu của thị trường là vô hạn nhưng tiềm lực của doanh nghiệp là
có hạn vì thế cho dù doanh nghiệp đó có quy mô lớn, có tiềm lực tài chính
mạnh thì cũng không thể thỏa mãn tốt và bao quát được toàn bộ thị trường mà
doanh nghiệp chỉ có thể thỏa mãn một hoặc một số đoạn thị trường nhất định
bằng nhóm dịch vụ nào đó, vì vậy trước khi tiến hành hoạt động kinh doanh,
doanh nghiệp phải nghiên cứu thị trường và xác định thị trường và loại dịch
vụ mà doanh nghiệp sẽ tiến hành kinh doanh. Có rất nhiều loại hàng hóa, dịch
vụ khác nhau mà doanh nghiệp có thể tiến hành kinh doanh. Tuy nhiên doanh
nghiệp phải tiến hành nghiên cứu thị trường và xác định xem kinh doanh mặt
hàng nào là doanh nghiệp có nhiều cơ hội thành công nhất và có khả năng
các nguồn lực như con người, vốn, tài sản và công nghệ để tổ chức các hoạt
động sản xuất hàng hóa hay cung ứng các dịch vụ để thỏa mãn nhu cầu khách
hàng và thu lợi nhuận cho doanh nghiệp. Trong kinh doanh dịch vụ cũng vậy
doanh nghiệp cần phải có tài sản, vốn, công nghệ và con người với trí tuệ, tài
năng, học vấn và những kinh nghiệm nghề nghiệp… được đưa vào để tiến
hành hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên nguồn lực của doanh nghiệp là có hạn
vì vậy để kinh doanh đạt được hiệu quả cao thì người quản lý của doanh
nghiệp phải có khả năng huy động các nguồn lực mặt khác phải kết hợp sử
dụng các nguồn lực một các hiệu quả nhất để giảm chi phí và tăng lợi nhuận
cho doanh nghiệp.
15
2.4. Tổ chức các hoạt động cung ứng dịch vụ và xúc tiến thương
mại
Hoạt động cung ứng dịch vụ đòi hòi doanh nghiệp phải đáp ứng một
cách kịp thời và đúng thời điểm. Do đó đòi hỏi doanh nghiệp phải tổ chức
mạng lưới cung ứng dịch vụ cho khách hàng. Đây là hoạt động hết sức quan
trọng vì doanh nghiệp có tổ chức cung ứng dịch vụ và được khách hàng sử
dụng dịch vụ thì mới có doanh thu để bù đắp chi phí và thu lợi nhuận. Để có
thể bán dịch vụ tốt hơn thì doanh nghiệp kinh doanh cũng cần phải thực hiện
các hoạt động nhằm tìm kiếm thúc đẩy cơ hội cung ứng dịch vụ tức là thực
hiện các hoạt động xúc tiến thương mại như quảng cáo thương hiệu, PR,…
2.5. Quản trị vốn, chi phí và nhân sự trong hoạt động kinh doanh
dịch vụ
Để đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh, doanh nghiệp cần phải tiến
hành quản trị các yếu tố cơ bản của kinh doanh như vốn kinh doanh, chi phí
kinh doanh, nhân sự. Quản trị vốn kinh doanh của doanh nghiệp cần có chiến
lược và kế hoạch sử dụng vốn hợp lý cũng như đảm bảo huy động vốn một
cách kịp thời cho các nhu cầu kinh doanh hàng hóa, dịch vụ của doanh
nghiệp, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, bảo toàn và phát triển được
vốn qua mỗi chu kỳ kinh doanh, chấp hành đầy đủ các nguyên tắc sử dụng
càng tốt hơn các nhu cầu xã hội. Nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ đóng
vai trò ngày càng quan trọng. Chính vì vậy sự phát triển của nền kinh tế ảnh
hưởng rất lớn tới họat động kinh doanh dịch vụ.
Trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng tốt, nhu cầu về hàng hóa dịch
vụ doanh dịch vụ của doanh nghiệp. Ngược lại, nền kinh tế suy thoái, lạm
phát, tỷ lệ thất nghiệp cao thì nhu cầu về dịch vụ của con người giảm sút gây
khó khăn cho các doanh nghiệp kinh doanh.
Công nghệ cũng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh
dịch vụ. Sự phát triển như vũ bão của công nghệ đã dẫn đến sự ra đời và đổi
mới của hàng loạt các dịch vụ. Chính vì vậy khi tiến hành hoạt động kinh
17
doanh dịch vụ doanh nghiệp cần phải thường xuyên đổi mới công nghệ để tạo
ra những sản phẩm mới thỏa mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Môi trường văn hóa xã hội
Yếu tố văn hóa xã hội có ảnh hưởng sâu sắc, rộng rãi tới nhu cầu, hành
vi của con người. Yếu tố văn hóa xã hội bao gồm các yếu tố như: đạo đức,
quan niệm về cái thiện, cái ác, vinh quang, thấp hèn; những yếu tố về dân số;
những vấn đề về dân tộc, tôn giáo, phong tục tập quán và đặc điểm tâm lý. Tất
cả những yếu tố đó đều có ảnh hưởng rất lớn tới sự lựa chọn tiêu dùng của
khách hàng. Khi có sự thay đổi trong các yếu tố đó thì sẽ tạo cơ hội hoặc
thách thức đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, khi
kinh doanh dịch vụ doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, xem xét các yếu tố văn
hóa để lựa chọn dịch vụ kinh doanh phù hợp.
Môi trường chính trị và luật pháp
Trong kinh doanh các yếu tố chính trị và luật pháp có ảnh hưởng rất lớn
tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Để thành công trong kinh doanh,
các doanh nghiệp cần phải nghiên cứu, phân tích, dự báo về chính trị và luật
pháp cùng xu hướng vận động của nó. Trên thực tế, các yếu tố về chính trị và
luật pháp ổn định tạo thuận lợi cho kinh doanh. Sự thay đổi và biến động có
thể tạo ra những cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp. Vì vậy, doanh nghiệp
các chuyên gia cung ứng của khách hàng. Như vậy, khách hàng có tác động
rất lớn tới các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
3.3. Môi trường nội bộ
Nguồn nhân lực
Trong bất kỳ hoạt động xã hội nào con người đều đóng vai trò hết sức
quan trọng, trong kinh doanh con người là yếu tố quan trọng hàng đầu để đảm
bảo thành công, mọi hoạt động của doanh nghiệp đều do con người thực hiện
từ việc cung cấp các số liệu về thị trường, các yếu tố về môi trường tới việc
lên kế hoạch kinh doanh, thực hiện kế hoạch kinh doanh, đánh giá hiệu quả
kinh doanh đều do con người thực hiện. Cho dù các chiến lược, các kế hoạch
19
kinh doanh của doanh nghiệp có được đề ra một cách đúng đắn khả thi tới
mức nào đi chăng nữa nếu không có những con người làm việc cụ thể, chủ
động, trung thành thì không thể nào đem lại hiệu quả. Trong kinh doanh dịch
vụ, người thực hiện dịch vụ đóng vai trò rất quan trọng, bởi vì chất lượng dịch
vụ phụ thuộc rất lớn vào chất lượng tiếp của sự quan hệ giao tiếp giữa người
cung ứng dịch vụ và người thực hiện dịch vụ. Đặc biệt đối với doanh nghiệp
cung ứng dịch vụ tư vấn, đào tạo thì đòi hỏi người cung ứng dịch vụ phải có kiến
thức, hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực mình tư vấn, có khả năng truyền đạt và ứng
xử một cách linh hoạt đối với từng trường hợp tư vấn. Vì vậy trong kinh doanh
dịch vụ doanh nghiệp cần chú ý đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ nhân viên thành
những nhân viên chuyên nghiệp, nhiệt tình, năng nổ và trung thành.
Tài chính của doanh nghiệp
Tiến hành hoạt động kinh doanh đòi hỏi phải có vốn. Một doanh nghiệp
có tiềm lực lớn về tài chính sẽ tiến hành kinh doanh với quy mô kinh doanh
lớn và khả năng đáp ứng nhu cầu thị trường cũng tốt hơn. Dù kinh doanh
hàng hóa vật chất hay dịch vụ thì doanh nghiệp nào có ưu thế về tài chính thì
doanh nghiệp đó có khả năng cạnh tranh tốt trên thị trường.
Trình độ tiên tiến của trang thiết bị, công nghệ của doanh nghiệp.
Những yếu tố trên ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng dịch vụ, một
điểm như vậy, nếu theo đuổi mục tiêu năng suất tức là tìm mọi cách thức tăng
sản lượng sản phẩm trong khi cố gắng giảm chi phí. Nhưng cách nhìn nhận
năng suất như vậy chỉ phản ánh được khía cạnh hiệu quả sử dụng nguồn lực
nhưng chưa tính đến hiệu lực của đầu ra. Theo đuổi mục tiêu cải tiến năng
suất, đôi khi sử dụng các phương pháp cắt giảm chi phí như tăng cường độ lao
động, giảm số lượng lao động và chạy theo sản lượng mà hy sinh yếu tố chất
lượng. Ý nghĩa thực sự của năng suất đã không được hiểu một cách đầy
đủ.Vai trò và tầm quan trọng của năng suất và cải tiến năng suất đã được nhìn
nhận đúng ở Việt nam sau khi Việt nam tham gia và Tổ chức Năng suất Châu
Á vào 1-1-1996. Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường Chất lượng đóng vai trò là
một tổ chức năng suất quốc gia phát triển phong trào năng suất trong cả nước.
Trung tâm Năng suất Việt nam được thành lập theo quyết định 1342/QĐ –
22
TCCBKH ngày 26 tháng 9 năm 1997 của Bộ Khoa học và Môi Trường nay là
Bộ Khoa học và Công nghệ. Trung tâm năng suất Việt Nam có tên tiếng Anh
là Vietnam Productivity Centre viết tắt là VPC. Đó là cơ quan sự nghiệp khoa
học trực thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường chất lượng. Trung tâm năng
suất Việt Nam có trụ sở chính đặt tại:
Số 8, Hoàng Quốc Việt, Quận Cầu Giấy, Hà Nội
Tel: 04 7561501
Fax: 04 756102
Email: [email protected]
Hai văn phòng đại diện đặt tại:
19 Đống Đa, Quận Hải Châu, Thành phố Đà Nẵng
Và: 25A Yên Thế, Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh
Hoạt động theo mô hình hạch toán độc lập, tự chủ về tài chính VPC
thực hiện vai trò là cơ quan năng suất quốc gia thúc đẩy phong trào năng suất
chất lượng thông qua các lĩnh vực tư vấn đào tạo và cung cấp các dịch vụ cải
tiến. Nguồn thu nhập chính cuả VPC là từ những dịch vụ đào tạo và tư vấn,
ngoài ra còn có những hoạt động khác như thực hiện các dự án của Bộ KHCN
nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ tổ quốc.
• Năm 2003 VPC nhận bằng khen của Bộ Khoa học và Công nghệ vì
đã tích cực tham gia Hội chợ công nghệ và Thiết bị Việt Nam. Cũng
trong năm 2003 VPC đã được trao giải thưởng Môi trường trong cả
nước thong qua việc triển khai chương trình Năng suất xanh trong
các cộng đồng và các hoạt động về môi trường hỗ trợ cho các doanh
nghiệp trong cả nước.
• Ngày 3/8/2004 VPC được trao bằng khen của ủy ban thành phố Hà
Nội vì đã có nhiều thành tích trong công tác tổ chức thực hiện các
hệ thống quản lý chất lượng tiên tiến quốc tế trên địa bàn Thành phố
Hà Nội.
24
• Trong nhiều năm liền Trung tâm năng suất Việt Nam đã được tổng
cục trưởng Tổng cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng tặng bằng
khen tập thể lao động xuất sắc và tập thể lao động tiên tiến. VPC
còn đạt danh hiệu Tập thể Công đoàn cơ sở vững mạnh xuất sắc.
1.2. Chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức của trung tâm
1.2.1. Chức năng
VPC đang nỗ lực đóng góp vào phong trào Năng suất Chất lượng quốc
gia và trong khu vực thông qua các chức năng chủ yếu sau:
1) Hỗ trợ công tác quản lý nhà nước về tiêu chuẩn – Đo lường – Chất
lượng.
2) Tổ chức các hoạt động nhằm thúc đẩy phong trào nâng cao năng
suất chất lượng của các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế xã hội và
thực hiện các hoạt động khác theo yêu cầu của tổ chức, cá nhân.
3) Trung tâm năng suất Việt Nam là đại diện thường trực của Việt
Nam tại Tổ chức Năng suất Châu Á (APO) và làm đầu mối quản lý,
thực hiện các chương trình hay dự án của APO.
4) Trung tâm năng suất tổ chức cung cấp các dịch vụ tư vấn, giải pháp
quản lý tiên tiến nhất phục vụ tái cấu trúc và tăng trưởng của các tổ