Tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho sinh viên Thực trạng và giải pháp - Pdf 12

LỜI MỞ ĐẦU
Giáo dục ĐH luôn là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm, nhất là khi
nhu cầu của xã hội của về lao động có trình độ ngày càng cao. Nằm trong lộ
trình công tác xã hội hóa giáo dục và đặc biệt là đề án tăng học phí của Bộ GD-
ĐT chương trình tín dụng ưu đãi cho SV lại một lần nữa được chính phủ đưa ra.
Với mục tiêu không để SV nào phải bỏ học, chương trình đã thực sự đem lại cơ
hội học ĐH cho rất nhiều SV nghèo. Chương trình gồm các chính sách về vấn
đê tín dụng ưu đãi cho SV mà gần đây nhất là Nghị quyết 157 của Chính Phủ đã
đem lại hiệu quả xã hội rất lớn.
Với góc độ là những sinh viên_đối tượng thụ hưởng chính của những chính
sách này, chúng tôi xin đóng góp một cách nhìn tổng quát về các chính sách tín
dụng ưu đãi cho SV trong suốt thời gian qua. Trong quá trình thực hiện do hạn
chế về khả năng và kiến thức nên đề tài này của chúng tôi không tránh khỏi sai
sót. Rất mong nhận được sự đóng góp từ phía các bạn và thầy cô.
Hà Nội ngày 25 tháng 4 năm 2008
Nhóm thực hiện đề tài
“Tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho sinh viên: Thực trạng và giải pháp”
PHẦN I: PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Hiện nay chi phí cho giáo dục đại học của mỗi gia đình Việt Nam là rất
lớn- theo báo cáo thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam năm 2007 là 838
USD/ năm tức vào khoảng 13 triệu đồng Việt Nam trong khi theo dự kiến của
ngân hàng chính sách thì mỗi sinh viên cần trung bình 12 triệu đồng/năm.như
vậy khoản chi phí cho một SV theo học đã chiếm gần hết thu nhập của một gia
đình.Đấy là chưa kể nếu gia đình đó có tới 2 hoặc 3 người theo học thì gánh
nặng sẽ là qua lớn cho họ. Cũng theo thống kê thì tỷ lệ nghèo khổ của Việt Nam
năm 2007 là 15% .Số lượng sinh viên nghèo phải nghỉ học vì không có đủ tiền
trang trải chi phí học tập để hàng năm là rất lớn.
Các chính sách hỗ trợ tín dụng cho sinh viên bắt đầu khởi động từ năm
1998 với Quyết Định 51/1998/QĐ-TTG của Thủ tướng chính phủ ra ngày 2
tháng 3 năm 1998 về việc lập “Quỹ Tín Dụng dành cho sinh viên”. Cho đến nay

2. Bố cục của đề tài
Phần I: Phần mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
2. Bố cục đề tài
3. Tài liệu tham khảo
Phần II: Nội dung
Chương I: Vai trò của tín dụng đối với giáo dục đại học và kinh nghiệm
của các nước
I. Mối quan hệ giữa vốn với giáo dục
1.Cầu giáo dục và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu giáo dục
2.Vai trò của vốn với giáo dục
II. Sự cần thiết của tín dụng ưu đãi cho SV
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển – Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
3
“Tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho sinh viên: Thực trạng và giải pháp”
III. Kinh nghiệm quốc tế trong việc cấp tín dụng ưu đãi cho SV
1.Các nước để lựa chọn lấy kinh nghiệm
2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Chương II. Thực trạng về tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi cho SV
I. Tổng quan về chính sách, tín dụng ưu đãi cho SV
II.Đánh giá khả năng tiếp cận tín dụng ưu đãi của SV
1. Kết quả
2. Tồn tại và nguyên nhân
Chương III.: Một số giải pháp cơ bản cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng
ưu đãi cho SV
I. Những thách thức trong việc cấp tín dụng ưu đãi cho SV
II.Giải pháp cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng ưu đãi cho SV
III. Kiến nghị
Phần III: Kết luận
3. Tài liệu tham khảo

Giáo dục đại học ở các nước đang phát triển là một cấp học có số học sinh
ít hơn nhiều so với học sinh tiểu học và trung học phổ thông.
Tham gia giáo dục đại học và cao đẳng cũng như dạy nghề chuyên nghiệp
là mong muốn của nhiều gia đình nghèo với hy vọng sẽ có được 1 việc làm, 1
mức thu nhập tốt hơn trong tương lai.
Nhưng chúng ta cũng phải thừa nhận và đứng trước một thực tế đó là:
những người giàu lại có cơ hội tiếp cận với loại hình giáo dục này nhiều hơn.
Bởi chi phí cho giáo dục đại học là rất lớn so với các cấp học khác.
Cầu giáo dục chịu ảnh hưởng của 2 yếu tố:
Thứ nhất: Triển vọng kiếm được khoản thu nhập cao, đáng kể của người
học sinh được đào tạo nhiều hơn nhằm vào khu vực hiện đại trong tương lai.
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển – Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
6
“Tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho sinh viên: Thực trạng và giải pháp”
Chênh lệch về tiền lương họăc thu nhập giữa những việc làm trong khu vực
hiện đại và những việc làm ngoài khu vực đó. Việc đi vào khu vực hiện đại tuỳ
thuộc vào trước hết học vấn đã hoàn tất, trong khi những cơ hội kiếm được thu
nhập trong khu vực truyền thống không có những yêu cầu cố định về giáo dục.
Chênh lệch thu nhập giữa khu vực hiện đại với khu vực truyền thống càng
lớn thì cầu về giáo dục càng lớn. Như vậy mối quan hệ thứ nhất nói lên rằng,
cầu về giáo dục có liên quan tỷ lệ thuận với mức chênh lệch tiền lương giữa các
khu vực hiện đại và truyền thống. Qua nhiều điều tra cho thấy mức chênh lệch
ấy đáng kể ở phần lớn các nước đang phát triển. Vì vậy cầu về giáo dục sẽ rất
lớn.
Khả năng thành công trong khi tìm việc làm ở khu vực hiện đại.
Một các nhân hoàn thành được nội dung học ở trường cần thiết cho việc
tiếp cận thị trường lao động trong khu vực hiện đại và có khả năng kiếm được
mức lương cao.
Thứ hai: Những chi phí cho giáo dục mà cá nhân/ gia đình phải gánh chịu:
Chi phí trực tiếp của cá nhân cho giáo dục đại học:

thiết. Chúng ta có thể chỉ ra được các yếu tố ảnh hưởng đến tiếp cận nguồn vốn
tín dụng đối với sinh viên được xem xét từ 2 phía:
Từ phía chính phủ: các chính sách, quyết định của chính phủ sẽ có những
quy định rất cụ thể về: đối tượng, quy chế cho vay, thời hạn vay… vì thế đây sẽ
là những căn cứ chính xác cho sinh viên có thể chủ động tiếp cận với nguồn vốn.
Từ phía sinh viên:
Khả năng tài chính của gia đình sinh viên: Với những gia đình có mức thu
nhập trung bình, việc trang trải những khoản chi phí cho con em đang trở thành
gánh nặng rất lớn.Vì vậy, việc tăng học phí sẽ làm cho gánh nặng này càng nặng
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển – Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
8
“Tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho sinh viên: Thực trạng và giải pháp”
hơn, rất nhiều sinh viên đang theo học có nguy cơ phải bỏ học. Và họ sẽ là
những người mong muốn được tiếp cận với nguồn vốn.
Năng lực của sinh viên: những sinh viên có năng lực, có kết quả học tập tốt
sẽ tin vào thu nhập mình kiếm được trong tương lai, tin vào khả năng trả nợ của
mình.
II. Sự cần thiết của tín dụng ưu đãi cho SV
Cung cấp tài chính cho giáo dục đại học (GDĐH), trong đó có nguồn từ
học phí, là một chính sách hết sức quan trọng, hết sức phức tạp và lại khá nhạy
cảm của mọi quốc gia. Chính sách này “là nền tảng chi phối phần lớn ba chủ đề
bao quát về chính sách của GDĐH hiện đại: chất lượng, công bằng xã hội và
hiệu quả”
Các chương trình cho sinh viên vay vốn trên thế giới nhìn chung gồm 5
nhóm mục tiêu cơ bản sau:
1. Tạo nguồn thu nhập có các trường đại học công lập (do có thể tăng mức
học phí) nhằm đảm bảo mức “Chi phí đơn vị - chi phí đào tạo 1 SV trong 1 năm
- đang tăng lên để duy trì chất lượng, đối phó với việc nhà nước (NN) chuyển
bớt ngân sách nhà nước (NSNN) dành cho GDĐH sang các bậc GD phổ cập…
2. Thứ hai là tạo điều kiện để mở rộng hệ thống GDĐH

học phí lại được soạn thảo. Tuy nhiên, tăng học phí, không ít sinh viên (SV)
nghèo sẽ phải bỏ học. Vậy, làm thế nào để giải bài toán Công bằng xã hội
(CBXH) trong GDĐH? Theo GS. Phạm Phụ: Tăng học phí là để đảm bảo nguồn
tài chính tối thiểu cho việc đảm bảo chất lượng đào tạo. Và, đây cũng là xu thế
chung trên toàn thế giới trong vài chục năm gần đây, khi mà GDĐH đã là nền
GD cho số đông, đã có tính toàn cầu, “chi phí đơn vị” (cho 1 SV trong 1 năm)
tăng lên rất nhanh và dịch vụ GDĐH được xem là “hàng hóa cá nhân” hơn là
“hàng hóa công cộng”.
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển – Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
10
“Tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho sinh viên: Thực trạng và giải pháp”
Tuy nhiên không ai co thề phủ nhận GDĐH cung là một loại hàng hóa công
cộng: “tấm bằng ĐH” không chỉ đem lại lợi ích cho người học mà còn có những
đóng góp đáng kể cho cộng đồng, cho phát triển kinh tế - xã hội, năng suất lao
động xã hội sẽ cao hơn, sau này có thể đóng góp thuế thu nhập cho xã hội nhiều
hơn.
Trong bối cảnh mới, VN sẽ chuyển từ nền kinh tế thâm dụng lao động sang
thâm dụng vốn, công nghệ... Khi thâm dụng lao động, người nghèo có lao động,
tình hình phân hóa giàu nghèo chưa đến mức gây cấn. Nhưng khi thâm dụng
vốn, công nghệ..., người nghèo không có các thứ này, tình hình có xu thế sẽ xấu
hơn. Khi đó, mất CBXH trong GDĐH sẽ trở thành rất nghiêm trọng, nếu không
có giải pháp ngay từ bây giờ mức độ phân hóa trong GDĐH sẽ còn tăng cao hơn
rất nhiều so với mức độ phân hóa giàu nghèo.
Và trong bối cảnh đó chương trình này có lẽ là một giải pháp hết sức hữu
hiệu không thể bỏ qua!
2. Hỗ trợ đề án tăng học phí trong khuôn khổ công tác xã hội hóa giáo dục:
Tăng học phí là một điều không thề tránh được ,nó sẽ giảm bớt gánh nặng
của NSNN lâu nay phải chịu trong công tác giáo dục và chia sẻ phần chi phí đó
đối với những đối tượng thích hợp mà cụ thể ở đây chính là SV. Nhưng người
được hưởng thành quả trực tiếp từ công tác giáo dục.Như vậy cần phải có sự

Mỗi sinh viên du học được yêu cầu mở một tài khoản (loại giới hạn, chỉ
dành cho SV) tại ngân hàng. Sau đó, tiền của người đi học sẽ được chuyển vào
tài khoản này với số lượng nhất định (thông thường 6600 euro/năm).
Số tiền có thể rút được từ tài khoản này: 550 euro/tháng không được nhiều
hơn, nó bằng với chi phí tối thiểu hàng tháng của mỗi SV.
Với số tiền đóng ban đầu 6600 euro thì luôn đảm bảo cho người chủ tài
khoản có thể đủ chi tiêu trong 1 năm. Ngoài ra, số tiền trong tài khoản còn được
dùng để chứng minh tài chính khi gia hạn visa.
Khoa Kế Hoạch và Phát Triển – Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
12
“Tiếp cận nguồn vốn ưu đãi cho sinh viên: Thực trạng và giải pháp”
Đây sẽ là những bài học vô cùng quý báu khi thực hiện chính sách tín dụng
ưu đãi ở Việt Nam.
2. Bài học kinh nghiệm cho VN
Từ quy trình của Đức và kinh nghiệm của các nước trên thế giới, VN có thể
thực hiện theo quy trình sau:
Bước 1: Xác định mức chi tiêu tối thiểu cho một SV trong 1 học kỳ hay 1
năm, chẳng hạn 1,2 triệu/tháng.
Bước 2: Mỗi SV có yêu cầu vay vốn bắt buộc phải mở một tài khoản loại
giới hạn tại ngân hàng (bất kỳ, đây là loại tài khoản ưu đãi không thu phí dành
cho SV). SV ký hợp đồng vay nợ với ngân hàng, nơi cho vay sẽ chuyển tiền trực
tiếp vào tài khoản đó. Khoản cho vay cơ bản sẽ gồm: tiền học phí và chi phí sinh
hoạt, học tập.
Bước 3: Về học phí, ngân hàng cho vay có thể chuyển tiền trực tiếp vào tài
khoản của nhà trường nơi SV theo học, SV chỉ cần đem biên lai nộp học phí đến
ngân hàng và yêu cầu chuyển tiền. Còn khoản chi phí thì ngân hàng sẽ chuyển
trực tiếp vào tài khoản của SV.
Bước 4: Điều kiện bắt buộc cho vay là SV phải xuất trình phiếu đăng ký
môn học của mỗi học kỳ kèm theo biên lai thu học phí của nhà trường. Ngân
hàng chỉ giải ngân cho từng học kỳ.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status