TIỂU LUẬN:
Nâng cao chất lượng tín dụng đối
với doanh nghiệp nhà nước tại
NHNo&PTNTVN Chi Nhánh Bắc
Hà Nội
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong nền kinh tế nhiều thành phần ở nước ta, kinh tế nhà nước vẫn
đóng vai trò quan trọng, giữ vị trí đầu tàu, chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân. Các
DNNN ngày càng có những đóng góp lớn vào GDP cũng như ngân sách nhà nước, thể
hiện vai trò chủ đạo trong nền kinh tế, đồng thời góp phần thực hiện các mục tiêu kinh
tế vĩ mô mà nhà nước đề ra. Tuy nhiên trước xu thế cạnh tranh ngày càng ác liệt, các
DNNN muốn đứng vững phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm và mở rộng
quy mô sản xuất kinh doanh. Muốn thực hiện điều đó, một yếu tố quan trọng hàng đầu
là vốn. Ngoài nguồn hỗ trợ từ nhà nước hay nguồn vốn tự có của doanh nghiệp thì
nguồn vốn vay từ ngân hàng là một nguồn vốn hỗ trợ đắc lực cho các DNNN.
Là một chi nhánh cấp một của NHNo& PTNTVN, Chi Nhánh Bắc Hà Nội đã
CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC
1.1 Khái quát về tín dụng ngân hàng
1.1.1 Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù của nền kinh tế hàng hóa, nó tồn tại và phát triển
song song với nền sản xuất hàng hóa, là động lực cho nền sản xuất hàng hóa phát
triển. Tín dụng phản ánh mối quan hệ kinh tế, trong đó mỗi cá nhân hay tổ chức
chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho một
cá nhân hoặc tổ chức khác kèm theo một số ràng buộc và thỏa thuận nhất định như
cách thức vay và trả nợ, lãi suất, thời gian hoàn trả…
Bản chất của tín dụng là quan hệ vay mượn hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời
gian nhất định, là quan hệ bình đẳng hai bên cùng có lợi, trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau
giữa một bên có một khối lượng tài sản đang tạm thời nhàn rỗi, và một bên đang có
nhu cầu về một khối lượng tài sản để thực hiện những mục đích nhất định.
Tín dụng ngân hàng mang bản chất của tín dụng nói chung, nhưng ở đây là
quan hệ tín dụng bằng tiền tệ giữa một bên là ngân hàng và các tổ chức tín dụng, còn
một bên là các tổ chức, cá nhân trong xã hội.
nhất là các doanh nghiệp mới thành lập.
- Tín dụng dài hạn: Là khoản tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được dùng để
đáp ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, cải tiến và mở rộng sản xuất với quy
mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Tín dụng trung và dài hạn tài trợ cho tài sản cố định và một phần tài sản lưu
động của các doanh nghiệp. Do khối lượng vốn lớn, thời gian đầu tư dài, thời gian thu
hồi vốn chậm nên tín dụng trung và dài hạn có độ rủi ro cao.
1.1.2.2 Căn cứ vào tài sản đảm bảo
Tín dụng được chia thành hai loại
-Tín dụng có đảm bảo: là các khoản tín dụng có kèm theo sự đảm bảo từ phía
khách hàng. Với những khách hàng vay lần đầu hoặc khách hàng chưa thực sự có uy
tín, hoặc với những món vay lớn và dài hạn thì cần có tài sản cầm cố, thế chấp hoặc có
sự đảm bảo của bên thứ ba. Khoản vay có bảo đảm tạo ra sự an toàn cho ngân hàng, họ
có quyền bán tài sản bảo đảm để tạo ra nguồn thu nhập bù đắp vào khoản cho vay không thu hồi được hay không đủ, nếu tín dụng đảm bảo bằng uy tín của bên thứ ba thì
ngân hàng có quyền yêu cầu bên thứ ba phải trả nợ nếu khách hàng không trả được.
- Tín dụng không có bảo đảm: là các khoản tín dụng được cấp cho khách hàng
không cần kèm sự đảm bảo, cầm cố thế chấp hay sự đảm bảo của bên thứ ba, mà dựa
trên uy tín của khách hàng. Khoản vay này được cấp cho những khách hàng có tình
hình tài chính vững mạnh, luôn trả nợ đúng hạn, hoặc những món vay nhỏ so với vốn
của khách hàng hoặc có thể là những món vay ngắn hạn mà ngân hàng có thể kiểm
soát được việc thu hồi nợ.
1.1.2.3 Căn cứ vào hình thức tài trợ tín dụng
- Cho vay là hình thức tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng thông
qua những cam kết, thỏa thuận giữa hai bên về lãi suất tín dụng, cách thức và thời hạn
trả cả gốc và lãi của khoản vay…Cho vay là hình thức tín dụng phổ biến nhất và mang
lại lợi nhuận lớn nhất hầu hết ở các ngân hàng thương mại
- Bảo lãnh là hình thức tín dụng trong đó ngân hàng không cấp tiền cho khách
vấn đề, nợ quá hạn có khả năng thu hồi, nợ quá hạn khó đòi.
…
Các ngân hàng ngày càng đẩy mạnh việc đa dạng hóa và chuyên môn hóa trong
cấp tín dụng. Tuy nhiên, bên cạnh việc mỏ rộng phạm vi tài trợ, mỗi ngân hàng vẫn
duy trì và phát huy lợi thế của mình.
1.2. Những vấn đề chung về DNNN
1.2.1 Khái niệm
Doanh nghiệp nói chung là một tổ chức kinh tế được thành lập nhằm tiến hành
những hoạt động kinh doanh thuộc nhiều lĩnh vực và ngành nghề như sản xuất, chế
biến, chế tạo sản phẩm…đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội.
DNNN là một bộ phận của doanh nghiệp nói chung, tồn tại và phát triển trong
nền kinh tế của các quốc gia. Tuy nhiên, tùy vào tiêu thức phân loại và cách nhận biết
khác nhau mà khái niệm về DNNN ở mỗi quốc gia khác nhau.
Ở Việt Nam trong những năm đổi mới kinh tế vừa qua, quan niệm về DNNN
cũng được đổi mới và dần hoàn thiện. DNNN là một thực thể kinh tế thuộc sở hữu của
nhà nước, hoạt động kinh doanh độc lập dưới sự quản lý của nhà nước. DNNN phải có
trách nhiệm quản lý, bảo toàn và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực mà nhà nước giao
cho. Theo điều 1, luật DNNN được sửa đổi, bổ sung 20/1/2003: “Doanh nghiệp nhà nước là tổ chức kinh tế do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ hoặc có cổ phần, vốn
góp chi phối, được tổ chức dưới hình thức công ty nhà nước, công ty cổ phần, công ty
trách nhiệm hữu hạn”.
1.2.2 Vai trò của DNNN xét trong tổng thể quốc gia
Là một thực thể kinh tế, nhưng DNNN không chỉ tác động đến lĩnh vực kinh tế
của một quốc gia mà còn tác động sâu sắc đến vấn đề chính trị và xã hội của một quốc
gia. Sự tác động này được thể hiện thông qua vai trò của DNNN đối với từng lĩnh vực
kinh tế, chính trị và xã hội ở Việt Nam như sau
* Vai trò kinh tế:
Ngay từ những ngày đầu chuyển từ nền kinh tế bao cấp sang nền kinh tế thị
ứng đầy đủ mọi nhu cầu của xã hội, thực hiện theo đúng định hướng và mục tiêu kinh
tế xã hội mà nhà nước đề ra.
* Vai trò xã hội
Các DNNN góp một phần lớn giải quyết các vấn đề của xã hội đó là nạn thất
nghiệp hay sự phân hóa giàu nghèo… DNNN cung cấp một lượng lớn công ăn việc
làm cho người lao động, tạo cho họ thu nhập, giảm được áp lực về sự bất bình đẳng xã
hội. Đồng thời người lao động được đảm bảo các quyền lợi và làm việc trong một điều
kiện tốt, DNNN thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm đầy đủ cho người lao động. DNNN
không chỉ tập trung ở thành thị mà còn được đầu tư xây dựng ở khắp nơi kể cả vùng
sâu vùng xa của một quốc gia, tạo ra nguồn cung cấp sản phẩm dịch vụ đảm bảo cho
sống của người dân.
1.3. Chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà nước
1.3.1. Khái niệm chất lượng tín dụng
Trong nền kinh tế thị trường đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế, sự cạnh tranh
giữa các doanh nghiệp ngày càng mạnh mẽ. Các yếu tố cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp bao gồm chất lượng, số lượng và giá cả của sản phẩm. Trong đó chất lượng là
yếu tố quan trọng nhất, quyết định sự thành bại và khẳng định vị thế của mỗi doanh
nghiệp trong môi trường cạnh tranh. Chất lượng của sản phẩm nói chung được hiều là
mức độ thỏa mãn của sản phẩm đối với yêu cầu của người tiêu dùng và lợi ích về mặt tài
chính của nhà cung cấp. Đặc biệt, đối với ngân hàng, là doanh nghiệp kinh doanh về lĩnh vực tiền tệ, lĩnh vực chi phối đến mọi cá nhân, tổ chức… thì chất lượng là một yếu
tố cực kì quan trọng, mang tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Chúng ta có thể hiểu: chất lượng tín dụng ngân hàng là sự đáp ứng một cách
tốt nhất nhu cầu của khách hàng trong quan hệ tín dụng(đối với cả người gửi tiền và
người vay tiền), đảm bảo an toàn về vốn, tăng lợi nhuận cho ngân hàng, phù hợp và
phục vụ sự phát triển kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng đối tượng nhìn nhận về các khoản tín dụng thì
doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp lớn.
- Chất lượng tín dụng thể hiện ở trình độ của cán bộ tín dụng và quy trình xem
xét, thẩm định, kiểm tra, thanh tra các khoản tín dụng.
1.3.2.2. Các chỉ tiêu định lượng
Để đánh giá chất lượng tín dụng xét trên khía cạnh hoạt động kinh doanh của
ngân hàng có thể dựa vào nhiều chỉ tiêu, và không chỉ căn cứ vào một chỉ tiêu nào đó
mà phải sử dụng kết hợp nhiều chỉ tiêu để đánh giá một cách chính xác nhất chất
lượng tín dụng của ngân hàng. Sau đây là một số chỉ tiêu cơ bản:
- Chỉ tiêu về dư nợ
Chỉ tiêu dư nợ = Dư nợ đối với DNNN/ Tổng dư nợ tín dụng
Chỉ tiêu này phản ánh tỷ trọng của dư nợ tín dụng đối với DNNN trong tổng dư
nợ tín dụng của ngân hàng trong một thời kỳ nhất định, thường là trong một năm.
Nếu tổng dư nợ của ngân hàng cao cho thấy ngân hàng cho vay được nhiều, thu
hút được nhiều khách hàng, uy tín cao. Ngược lại, nếu tổng dư nợ thấp chứng tỏ ngân
hàng hoạt động kém, khả năng cho vay thấp, không đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
Trong đó, nếu tỷ trọng cho vay đối với DNNN cao thể hiện cho thấy ngân hàng thu hút
được nhiều khách hàng DNNN, tạo được lòng tin và mối quan hệ tốt với họ.
- Vòng quay vốn tín dụng
Vòng quay vốn tín dụng = Doanh số thu trong năm/ Dư nợ bình quân trong
năm( Đối với DNNN)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn mà ngân hàng bỏ ra được sử dụng cho vay
mấy lần trong năm. Chỉ tiêu này cao thể hiện nguồn vốn luân chuyển nhanh, được sử
dụng có hiệu quả, tham gia vào nhiều chu trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
- Chỉ tiêu nợ quá hạn
Chỉ tiêu nợ quá hạn = Nợ quá hạn DNNN/ Dư nợ tín dụng DNNN Chỉ tiêu nợ quá hạn khó đòi = Nợ quá hạn khó đòi DNNN/ Dư nợ tín dụng
DNNN.
Đây là một chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng tín dụng. Nếu các tỷ lệ
đích sử dụng khoản vay. Do vậy, DN vay vốn phải thực hiện đúng thỏa thuận, vừa là
cơ sở để doanh nghiệp tính toán các yếu tố hiệu quả của hoạt động kinh doanh vừa là
cơ sở để thu hồi nợ của ngân hàng.
1.3.4. Lãi suất tín dụng
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng thì lãi suất là một trong những biến số
quan trọng hàng đầu, vừa là công cụ được sử dụng để điều tiết kinh tế vĩ mô, vừa được
sử dụng làm phương tiện cạnh tranh giữa các ngân hàng. Trong hoạt động tín dụng, lãi
suất được xem là giá cả của khoản tín dụng mà ngân hàng cấp cho khách hàng trong
một khoảng thời gian nhất định. Lãi suất ngân hàng được xác định trong giới hạn sau
Trần lãi suất huy động< Lãi suất huy động<Lãi suất cho vay<Trần lãi suất cho
vay<Tỷ suất lợi nhuận bình quân
Đối với khách hàng doanh nghiệp, thường vay những món lớn, lãi suất cho
vay thấp hơn so với khách hàng cá nhân. Đặc biết đối với DNNN được ngân hàng
dành nhiều ưu đãi với mức lãi suất thấp hơn so với DNNQD. Trong chiến lược kinh
doanh của hầu hết các ngân hàng, đối với những khách hàng lớn, hay khách hàng
truyền thống cũng sẽ được hưởng mức lãi suất ưu đãi.
1.3.5. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng đối với doanh nghiệp nhà
nước
Chất lượng tín dụng chịu tác động của nhiều nhân tố, từ khi khoản tín dụng
được xét duyệt, được cấp cho doanh nghiệp cho đến khi thu hồi cả gốc và lãi. Trong
đó có nhiều nhân tố tác động tiêu cực, làm mức độ rủi ro của các khoản tín dụng mà có
thể dẫn đến việc ngân hàng không thu hồi được các khoản nợ. Do vậy, để quản lý tốt
chất lượng tín dụng cần phải hiểu rõ các yếu tố ảnh hưởng đến nó để tăng ảnh hưởng
tích cực và giảm thiểu những ảnh hưởng tiêu cực.
1.3.5.1 Các nhân tố xuất phát từ phía ngân hàng
- Chính sách tín dụng của ngân hàng:
Chính sách tín dụng mang ý nghĩa quyết định đến sự thành bại của một ngân
hàng, bao gồm các chủ trương, đường lối và định hướng cho hoạt động tín dụng của
ngân hàng. Để có chất lượng tín dụng cao, các ngân hàng cần phải đề ra chính sách tín
tín dụng càng cao. Do vậy, ngân hàng cần phải xây dựng một hệ thống thông tin đầy
đủ, linh hoạt và hữu hiệu.
- Kiểm soát nội bộ
Đây là hoạt động hết sức cẩn thiết và mang tính thường xuyên đối với ngân
hàng. Công tác kiểm soát nội bộ thực hiện nghiêm túc và chặt chẽ giúp cho ban lãnh
đạo ngân hàng nắm bắt, kiểm soát và duy trì hoạt động tín dụng theo đúng hướng,
đồng thời phát hiện và xử lý kịp thời những sai sót trong quy trình nghiệp vụ tín dụng
nhằm nâng cao chất lượng tín dụng.
1.3.5.2 Các nhân tố xuất phát từ phía doanh nghiệp
- Trình độ và năng lực của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là người vay vốn, có quyền sử dụng vốn theo đúng mục đích như
đã thỏa thuận và có trách nhiệm hoàn trả cả gốc và lãi đúng kì hạn. Tuy nhiên không
phải bất kì doanh nghiệp nào được vay vốn đều thành công trong kinh doanh và trả nợ
đúng hạn. Điều này phụ thuộc chủ yếu vào bản thân doanh nghiệp, vào trình độ và
năng lực của doanh nghiệp, bao gồm tình hình tài chính vững mạnh, trình độ quản lý
tốt, đội ngũ cán bộ có năng lực, có trình độ chuyên môn cao, trang thiết bị hiện đại…
Tất cả những yếu tố này tác động đến cả quá trình hoạt động của doanh nghiệp. Nếu
những yếu tố này không được đảm bảo thì khả năng thành công của doanh nghiệp
thấp, hiệu quả không cao, ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.
- Đạo đức của doanh nghiệp vay vốn
Tư cách và đạo đức của người vay vốn ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín
dụng. Ngay từ khi khoản vay chưa được cấp cho doanh nghiệp, nếu doanh nghiệp làm
ăn phi pháp, hay có ý định lừa đảo ngân hàng họ có thể gian lận dùng giấy tờ giả mạo,
hay dùng các kĩ xảo để qua mắt các nhà ngân hàng trong quy trình thẩm định. Tư cách
đạo đức của khách hàng phải được xem xét trong một quá trình lâu dài, cả trong quá
khứ, hiện tại và kéo dài đến tuơng lai. Có thể sau khi được cấp tín dụng, khách hàng sử
dụng khoản vay không đúng mục đích hoặc cố tình chây ì, không trả nợ cho ngân
hàng. Tất cả những khả năng này đều tạo ra rủi ro cho ngân hàng.
- Chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước
Tùy thuộc vào tình hình kinh tế trong một thời kì nhất định mà nhà nước đưa ra
những chính sách vĩ mô nhằm đạt được những mục tiêu kinh tế đề ra. Những chính
sách này ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại đối với doanh nghiệp nhà nước. Nhà nước sử dụng hệ thống các công cụ chính sách tác động
đến toàn bộ nền kinh tế trong đó có các doanh nghiệp. Có thể công cụ của chính sách
kinh tế vĩ mô sẽ tác động tích cực nhằm khuyến khích các doanh nghiệp vay vốn, mở
rộng sản xuất kinh doanh, điều này sẽ góp phẩn nâng cao chất lượng tín dụng của
doanh nghiệp. Ngược lại có thể chính sách kinh tế vĩ mô sẽ tác động tiêu cực đến
DNNN, hạn chế việc doanh nghiệp vay vốn, thu hẹp sản xuất kinh doanh, trong trường
hợp nhà nước theo đuổi mục tiêu kiềm chế lạm phát. Điều này sẽ làm giảm chất lượng
tín dụng của ngân hàng.
- Phòng thẻ và phát triển sản phẩm dịch vụ.
Các Chi nhánh trực thuộc: địa chỉ và Quyết định thành lập:
- Chi nhánh Hoàng Quốc Việt: địa chỉ tại 95 Hoàng Quốc Việt, phường Nghĩa Đô,
Quận Cầu Giấy, Hà Nội, được thành Lập theo quyết định số 69/QĐ/HĐQT-TCCC ngày 8 /
4/ 2003 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN ( tiền thân là phòng giao dịch số 1-
NHNo&PTNT Bắc Hà Nội).
- Chi nhánh Kim mã: địa chỉ 129 đường Kim Mã, phường Kim Mã quận Ba
Đình Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 280/QĐ/HĐQT-TCCC ngày 15/
9/2005 của Chủ tịch HĐQT NHNo&PTNTVN.
- Chi nhánh Nguyễn Văn Huyên: địa chỉ Lô B1-DN17, khu đất2, đường
Nguyễn văn Huyên, phường Quan Hoa, quận Cầu Giấy, Hà Nội,được thành lập theo
quyết định số 127/QĐ/HĐQT-TCCB ngày 17/5/2005 của Chủ tịch HĐQT
NHNo&PTNTVN.
Các Phòng giao dịch trực thuộc:
- Phòng giao dịch số 2: địa chỉ số nhà 59-61 phố Hàng Giấy, phường Đồng
xuân, quận Hoàn Kiếm Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 283/QĐ-HCNS
ngày 17/5/2002 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội.
- Phòng giao dịch số 4: địa chỉ lô 6 dãy E khu D74Công Binh, phường Ngọc
Hà, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội, được thành lập theo quyết định số
547QĐ/HCNS ngày 07/10/2003 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội.
- Phòng giao dịch số 5: địa chỉ số 65A Cửa Bắc, phường Trúc Bạch, quận Ba
đình, Hà Nội, được thành lập theo quyết định số 276QĐ/HCNS ngày 20/5/2004 của
Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội.
- Phòng giao dịch số 1: trực thuộc chi nhánh Hoàng quốc Việt,địa chỉ số 97,
đường Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy, Hà Nội. Thành lập theo quyết định số
18/HCNS ngày 05/1/2006 của Giám đốc chi nhánh NHNo&PTNT Bắc Hà Nội.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức
Tại trụ sở chính 266 Đội Cấn:
PHÒNG
KIỂM
TRA
KIỂM
TOÁN
NỘI BỘ
PHÒNG
HÀNH
CHÍNH
NHÂN
SỰ
PHÒNG
NGUỒN
VỐN &
KẾ
HOẠCH
TỔNG
HỢP PHÒNG
THANH
TOÁN
QUỐC
TẾ
vị thế và uy tín của khối NHTMNN nói chung và NHNo&PTNTVN Chi nhánh Bắc
CHI
NHÁNH
KIM
MÃ CHI
NHÁNH
HOÀNG
QUỐC
VIỆT
CHI
NHÁNH
NGUYỄN
VĂN
HUYÊN
PHÒNG
GIAO
DỊCH
là một thành tựu lớn.
Bảng 2.1 Tổng nguồn vốn và cơ cấu tổng nguồn vốn theo thành phần kinh tế giai
đoạn 2006-2008
Đơn vị: Tỷ VNĐ
Các khoản mục
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Số tiền % TN Số tiền % TN Số tiền %TN
TỔNG NGUỒN 4,558.00 100.00 5,409.00 100.00 5,641.00 100.00
1. Nguồn dân cư 735.00 16.13 755.00 13.96 589.00 10.44
VND
564.00 12.37 585.00 10.82 449.00 7.96
Ngoại tệ quy đổi 171.00 3.75 190.00 3.51 140.00 2.48
2. Nguồn TCKT 3,093.00 67.86 4,470.00 82.64 4,521.00 80.15
VND 3,021.00 66.28 4,340.00 80.24 3,903.00 69.19
Ngoại tệ quy đổi 72.00 1.58 130.00 2.40 618.00 10.96
3.Nguồn tiền gửi, vay
của TCTD
731.00 16.04 185.00 3.42 531.00 9.41
VND 513.00 11.25 100.00 1.85 190.00 3.37
Ngoại tệ quy đổi 218.00 4.78 85.00 1.57 341.00 6.05
(Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp, NHNo&PTNT Bắc HN)
Từ bảng số liệu, nguồn từ các TCKT luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất. Tuy tổng nguồn
vốn tăng đều đặn, nhưng các khoản mục trong nguồn vốn lại có khoản giảm, khoản
tăng, tốc độ tăng giảm không đều đặn làm nguồn vốn dần được cơ cấu lại. Nguồn vốn
huy động từ dân cư giảm qua các năm: từ 16.13%(2006) giảm xuống 13.96%(2007) và
tiếp tục giảm xuống 10.44%(2008). Tỷ trọng nguồn vốn từ các TCKT tăng khá mạnh
từ 67.86% lên 82.64% sau đó lại giảm xuống 80.15%. Nguyên nhân của sự giảm
nguồn này của năm 2008 so với 2007 cũng là sự tác động của cuộc khủng hoảng kinh
740
1821
2488
2891
0
500
1000
1500
2000
2500
3000
3500
Năm 2006 Năm 2007 Năm 2008
Số tiền(Tỷ VNĐ)
Nguồn không kì hạn
Nguồn có KH<12 tháng
Nguồn có KH>=12 tháng
(Nguồn: Phòng nguồn vốn và kế hoạch tổng hợp,NHNo&PTNT Bắc HN)
Biểu đồ 2.1 Cơ cấu nguồn vốn theo kỳ hạn giai đoạn 2006-2008
Từ biểu đồ trên, ta thấy nguồn có KH>= 12 tháng luôn chiếm tỷ trọng lớn nhất và
tăng khá đều đặn hàng năm. Điều này thể hiện uy tín của ngân hàng ngày càng
được củng cố trong lòng khách hàng. Nguồn có KH<12 tháng chiếm tỷ trọng nhỏ
nhất và tăng giảm thất thường, từ 2006 đến năm 2007 giảm gần một nửa. Do Chi
nhánh thường xuyên triển khai thêm các loại sản phẩm huy động có hàm lượng
công nghệ cao và mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng như: sản phẩm tiết kiệm
tích lũy, tiết kiệm bậc thang, tiết kiệm dự thưởng…đã thu hút được khá nhiều
khách hàng mới và một lượng khách hàng không nhỏ lúc đầu chỉ gửi không kỳ hạn
hoặc gửi trong vòng một năm.
(Nguồn: Phòng tín dụng, NHNo&PTNT Bắc HN)
Biểu đồ 2.2. Doanh số cho vay và thu nợ trong 3 năm 2006-2008 Trong
những năm gần đây, doanh số cho vay tăng hàng năm, đặc biệt là năm 2007, tăng hơn
hai lần so với năm 2006, cho thấy một bước nhảy vọt đáng kể. Riêng năm 2008, doanh
số cho vay lại giảm gần một nửa so với năm trước, do sự tác động từ khủng hoảng
kinh tế cùng với lạm phát và áp lực từ chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN. Cũng
như các NH khác, công tác tín dụng của chi nhánh được kiểm soát chặt chẽ hơn, nhiều
doanh nghiệp không đủ tiêu chuẩn vay vốn, đồng thời hạn chế các khoản vay dành cho
cá nhân như cho vay tiêu dùng…Điều này ảnh hưởng đến doanh thu và lợi nhuận của
ngân hàng. Tuy nhiên, việc hạn chế khoản vay cũng đảm bảo an toàn cho Chi nhánh
hơn, tránh được những thiệt hại khó lường trước. Nhưng dù doanh số cho vay cao hay
thấp thì công tác thu hồi nợ vẫn luôn được thực hiện tốt. Đó là nhờ việc kiểm tra, giám