Nâng cao chất lượng tín dụng đối với Doanh nghiệp xây lắp tại Chi nhánh NHĐT&PT Điện Biên - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Trong sự nghiệp đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo hiện nay, hệ
thống ngân hàng thương mại đã có những đóng góp vô cùng quan trọng để thúc
đẩy nền kinh tế phát triển, đẩy lùi lạm phát, ổn định giá trị đồng tiền. Khi nền
kinh tế càng phát triển mạnh thì nhu cầu vốn rất lớn, bao gồm cả ngắn, trung và
dài hạn. Tín dụng ngân hàng đã tạo điều kiện cho các chủ thể đầu tư phát triển
sản xuất kinh doanh, từ đó tăng trưởng kinh tế vững mạnh, từng bước hội nhập
với khu vực và thế giới.
Cùng với sự trưởng thành và lớn mạnh của NHĐT&PT Việt Nam,
NHĐT&PT Điện Biên cũng đã hình dung được vai trò to lớn của mình trong
việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế xã hội. Mặc dù là một tỉnh miền núi còn gặp
nhiều khó khăn do địa bàn chia cắt, trình độ dân trí thấp, kinh tế xã hội chưa phát
triển song không vì thế mà việc tuyên truyền về những chính sách lớn của Đảng
và Nhà nước về phát triển kinh tế xã hội bị hạn chế.
Trong những năm vừa qua, số lượng khách hàng có quan hệ với
NHĐT&PT Điện biên ngày càng tăng, đặc biệt khách hàng là Doanh nghiệp xây
lắp. Sự phát triển loại hình doanh nghiệp này từ lâu được đánh giá là thị trường
quan trọng cho việc nâng cao và tăng trưởng hoạt động tín dụng của ngân hàng.
Với vai trò của mình, tín dụng ngân hàng có tác động tích cực trong việc đáp ứng
nhu cầu bức thiết về vốn giúp Doanh nghiệp xây lắp đổi mới trang thiết bị, mua
nguyên vật liệu, mua sắm máy móc, thiết bị thi công... góp phần tạo ra bộ mặt
mới cho tỉnh Điện Biên. Chính vì vậy, từ khi thành lập cho đến nay, NHĐT&PT
Điện Biên (NHĐT&PT Lai Châu cũ) luôn coi việc nâng cao chất lượng tín dụng
với khách hàng là Doanh nghiệp xây lắp là nhiệm vụ hết sức quan trọng vì nó
quyết định đến sự phát triển của ngân hàng. Tuy nhiên, việc nâng cao chất lượng
tín dụng đối với Doanh nghiệp xây lắp gặp rất nhiều khó khăn do đặc điểm riêng
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
biệt của loại hình doanh nghiệp này và do cơ chế quản lý của ngân hàng. Vậy
câu hỏi đặt ra ở đây là, làm thế nào để nâng cao chất lượng tín dụng đối với

1.1.1.1 Khái niệm về ngân hàng thương mại
Quá trình phát triển kinh tế là điều kiện và đòi hỏi sự phát triển của ngân
hàng. Đến lượt mình, sự phát triển của hệ thống ngân hàng trở thành động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế.
Các nhà nghiên cứu lịch sử phát triển kinh tế thế giới cho rằng nghề ngân
hàng đã xuất hiện thời Trung cổ trên cơ sở của sự phát triển và lưu thông hàng
hóa. Các thương nhân buôn bán, các lãnh chúa giàu có có khối lượng tiền lớn và
xuất hiện nhu cầu cất giữ an toàn. Và những người giàu có, các thợ vàng đã đóng
vai trò của người giữ hộ. Nhưng thời gian sau nhận thấy được nhu cầu chi trả hộ,
nhu cầu về vốn của các thương nhân ngày càng cao trong khi đó mình lại giữ
một khối lượng tiền lớn cho nên những người làm nghề giữ hộ đã đem cho vay
và lấy lãi. Mặt khác để thu hút lượng tiền gửi ngày càng nhiều, các nhà giữ hộ
tiền thay đổi từ hình thức thu phí sang hình thức trả lãi cho người gửi tiền. Bằng
cách cung cấp các tiện ích khác nhau mà ngân hàng huy động được ngày càng
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhiều tiền gửi, là điều kiện để mở rộng cho vay và hạ lãi suất. Cứ như vậy với sự
phát triển của kinh tế và công nghệ, xuất hiện các tổ chức thực hiện các hoạt
động như: huy động vốn, cho vay, trung gian thanh toán - lúc đó ngân hàng thực
sự ra đời.
Cùng với sự phát triển của kinh tế và công nghệ, hoạt động ngân hàng đã
có những bước tiến rất nhanh. Và cho tới ngày nay, ngân hàng vẫn được khẳng
định là loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Các ngân hàng có thể
được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà chúng thực hiện
trong nền kinh tế, do đó có một số khái niệm về ngân hàng thương mại (NHTM).
Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem xét các tổ chức này trên
phương diện các dịch vụ tài chính mà chúng cung cấp: “Ngân hàng là các tổ
chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất - đặc
biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài
chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế". Sự đa

+ Tiền gửi có kì hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội.
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư.
+ Tiền gửi của các ngân hàng khác.
- Vốn vay: Vào những giai đoạn cụ thể, các ngân hàng phải đi vay mượn
thêm để đáp ứng nhu cầu chi trả khi khả năng huy động bị hạn chế.
+ Phát hành giấy tờ có giá: kì phiếu, tín phiếu, trái phiếu
+ Vay NHTW
+ Vay các tổ chức tín dụng khác.
- Vốn chủ chủ sở hữu: Để đảm bảo hoạt động, các ngân hàng phải có một
lượng vốn nhất định, có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên trang thiết bị, nhà
cửa cho ngân hàng. Nguồn hình thành loại vốn này rất đa dạng tuỳ theo tính chất
5
Website: Email : Tel : 0918.775.368
sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị
trường.
+ Nguồn vốn hình thành ban đầu: có thể là vốn của nhà nước, vốn do các
cổ đông tham gia đóng góp, vốn do các bên liên doanh góp, vốn sở hữu tư nhân.
+ Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động: nguồn từ lợi nhuận,
nguồn bổ sung từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm,...
+ Các quỹ: quỹ dự phòng tổn thất, quỹ thăng dư...
b) Nghiệp vụ sử dụng vốn
Hoạt động chính của NHTM là huy động vốn để sử dụng nhằm thu lợi
nhuận. Việc sử dụng vốn chính là quá trình tạo nên các loại tài sản khác nhau
của ngân hàng nhưng phải đảm bảo an toàn và sinh lời.
Nghiệp vụ sử dụng vốn bao gồm:
- Nghiệp vụ ngân quĩ: Tiền mặt trong két, vàng và các kim khí, đá quí
khác, tiền gửi tại NHTW, tiền gửi tại các ngân hàng và tổ chức tín dụng khác.
- Nghiệp vụ đầu tư tài chính: Các NHTM thực hiện quá trình đầu tư bằng
vốn của mình thông qua các hoạt động hùn vốn, góp vốn, kinh doanh chứng
khoán trên thị trường vốn nhưng phổ biến vẫn là đầu tư vào chứng khoán (Trái

với khách hàng thông qua các sản phẩm, dịch vụ cung ứng cho mọi khách hàng.
1.2. NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG
1.2.1 Khái niệm về tín dụng và chất lượng tín dụng ngân hàng
1.2.1.1 Khái niệm về tín dụng, đặc diểm của tín dụng ngân hàng
Tín dụng ra đời cùng với sự xuất hiện tiền tệ. Khi một chủ thể kinh tế cần
một lượng hàng hóa cho nhu cầu tiêu dùng hoặc sản xuất trong khi chưa có hoặc
số tiền hiện có chưa đủ, họ có thể sử dụng hình thức vay mượn để đáp ứng nhu
cầu. Có 2 cách vay mượn: vay chính loại hàng hóa đang có nhu cầu hoặc vay
7
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tiền để mua loại hàng hóa đó. Quan hệ vay mượn như vậy gọi là quan hệ tín
dụng.
Tín dụng là quan hệ vay mượn vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn
đó sẽ được hoàn lại vào một ngày xác định trong tương lai. Như vậy, có thể hiểu
“ Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình
thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng để sau một thời
gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu”.
Tuy nhiên, khi gắn tín dụng với chủ thể nhất định như ngân hàng (hoặc
các trung gian khác) – tín dụng ngân hàng – thì chỉ bao hàm nghĩa là ngân hàng
cho vay. Như vậy, tín dụng ngân hàng là quan hệ vay mượn lẫn nhau theo
nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo một thời gian nhất định, giữa một bên là
ngân hàng và một bên là các đơn vị kinh tế, các doanh nghiệp, các tổ chức xã hội
và dân cư.
Đây là quan hệ tín dụng gián tiếp mà người tiết kiệm, thông qua vai trò
trung gian của ngân hàng, thực hiện đầu tư vốn vào các chủ thể có nhu cầu về
vốn. Khác với hình thức tín dụng trực tiếp, nguồn vốn của tín dụng ngân hàng là
nguồn vốn huy động của xã hội với khối lượng cũng như thời hạn và mục đích
sử dụng. Vì nguồn vốn huy động có tính chất nhàn rỗi tạm thời nên tín dụng
ngân hàng chủ yếu đáp ứng các nhu cầu vốn gắn hạn. Tín dụng ngân hàng có vai

chứa đựng nhiều rủi ro. Rủi ro tín dụng xảy ra khi ngân hàng không thu được cả
gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi khoản vay không
đúng kỳ hạn. Từ đó rất dễ mang lại những tổn thất lớn cho ngân hàng và có thể
làm cho ngân hàng đi đến chỗ phá sản. Vấn đề quan trọng ở đây là làm sao nhận
biết được rủi ro, từ đó có những giải pháp để đối phó kịp thời, giảm thiểu rủi ro
9
Website: Email : Tel : 0918.775.368
nhằm bảo toàn vốn cho ngân hàng cũng như nâng cao khả năng sinh lời từ hoạt
động này.
1.2.1.2 Quan niệm về chất lượng tín dụng
Trong bất cứ nền kinh tế cạnh tranh nào, doanh nghiệp muốn đứng vững
trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng là điều tất yếu. Trong 3
yếu tố: chất lượng, giá cả và lượng bán thì chất lượng là yếu tố quan trọng nhất,
bởi vì khi chất lượng được nâng lên, giá thành sẽ hạ, đảm bảo thoả mãn cho
khách hàng cả về chất lượng, giá cả, tạo điều kiện nâng cao tỷ lệ chiếm lĩnh thị
trường.
Với nhiều cách đề cập về chất lượng, nhiều nhà kinh tế, nhiều nhà kinh
doanh đã nói đến chất lượng bằng nhiều cách khác nhau, chất lượng là: “sự phù
hợp với mục đích hoặc sự sử dung”, là “ một trình độ dự kiến về độ đồng đều và
độ tin cậy với chi phí thấp và phù hợp với thị trường” hoặc “chất lượng là năng
lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu của người
sử dụng”. Với cách đề cập như vậy, có thể hiểu: “Chất lượng tín dụng là sự đáp
ứng yêu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội và đảm
bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng”.
Qua khái niệm có thể thấy, khi xem xét chất lượng tín dụng cần tính đến 3
nhân tố, đó là: NHTM, khách hàng và nền kinh tế.
- Thứ nhất, đối với NHTM thì chất lượng tín dụng được thể hiện ở phạm
vị, mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với thực lực của bản thân ngân hàng
và đảm bảo được tính cạnh tranh trên thị trường với nguyên tắc hoàn trả đúng
hạn và có lãi.

phát từ những nhu cầu trong chu kỳ sản xuất kinh doanh để mua nguyên vật liệu,
trả lương, dự trữ hàng hoá. Nói chung tín dụng ngắn hạn đóng vai trò quan trọng
trong vốn lưu động của doanh nghiệp.
11
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Tín dụng trung hạn: Là hình thức tín dụng có thời hạn hợp đồng từ trên 1
năm đến 5 năm. Tín dụng trung hạn chủ yếu được sử dụng để đầu tư mua sắm tài
sản cố định hoặc đổi mới trang thiết bị, công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh,
xây dựng các dự án mà có quy mô nhỏ và thời gian thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là loại cho vay có thời hạn trên 5 năm và tối đa có thể
lên tới 20 đên 40 năm. Tín dụng dài hạn là loại tín dụng được cung cấp để đáp
ứng các nhu cầu dài hạn như xây dựng nhà ở, các thiết bị, các phương tiện vận
tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
Việc phân chia tín dụng theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân
hàng vì thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tín dụng
cũng như khả năng hoàn trả của khách hàng.
b) Căn cứ vào hình thức tài trợ
- Cho vay: Là việc ngân hàng đưa tiền cho khách hàng với cam kết khách
hàng phải hoàn trả cả gốc và lãi trong khoảng thời gian xác định.
- Chiết khấu thương phiếu: Là việc ngân hàng ứng trước cho khách hàng
tương ứng với giá trị của thương phiếu trừ đi phần thu nhập của ngân hàng để sở
hữu một thương phiếu chưa đến hạn.
- Cho thuê: Là việc ngân hàng bỏ tiền mua tài sản để cho khách hàng thuê
theo những thoả thuận nhất định. Sau thời gian nhất định khách hàng phải trả cả
gốc và lãi cho ngân hàng.
- Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện các nghiệp vụ tài chính
hộ khách hàng của mình. Mặc dù không phải xuất tiền ra, song ngân hàng cho
khách hàng sử dụng uy tín của mình để thu lợi.
c) Căn cứ vào mức độ đảm bảo
- Tín dụng có đảm bảo: Là hình thức cấp tín dụng có tài sản hoặc người

Website: Email : Tel : 0918.775.368
* Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình tập trung vốn đầu tư
cho sản xuất, lưu thông hàng hóa và làm phát triển tốc độ chu chuyển vốn
trong nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, tín dụng ngân hàng đã trở thành một kênh
dẫn vốn một cách kịp thời cho nhu cầu sản xuất và tiêu dùng của các chủ thể
kinh tế trong xã hội. Nhờ đó mà các chủ thể này có thể đẩy mạnh tốc độ sản xuất
cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm. Với một hệ thống các hình thức tín dụng đa
dạng, ngân hàng không những thoả mãn nhu cầu đa dạng về vốn của nền kinh tế
mà còn làm cho sự tiếp cận các nguồn vốn tín dụng trở nên dễ dàng, tiết kiệm chi
phí giao dịch và giảm bớt các chi phí nguốn vốn cho các chủ thể kinh doanh. Bên
cạnh đó, ngân hàng không ngừng mở rộng và nâng cao hiệu quả các hình thức
tín dụng, từ đó sẽ tạo sự chủ động cho các doanh nghiệp trong việc thực hiện kế
hoạch sản xuất kinh doanh, giúp các nhà sản xuất tích cực tìm kiếm cơ hội đầu tư
và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội.
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động rất phức tạp và chứa
đựng nhiều rủi ro. Do đó các nguồn vốn tín dụng được cung ứng luôn kèm theo
các điều kiện tín dụng để hạn chế rủi ro, buộc những người đi vay phải quan tâm
thực sự đến hiệu quả sử dụng vốn để đảm bảo mối quan hệ lâu dài với các tổ
chức cung ứng tín dụng.
* Tín dụng ngân hàng góp phần giúp các chủ thể kinh tế tăng cường
quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả.
Bản chất của tín dụng là hoàn trả cả gốc và lãi sau một khoảng thời gian
qui định. Do vậy, hoạt động tín dụng ngân hàng phản ánh phần nào kết quả sản
xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế, thúc đẩy các chủ thể kinh tế sử dụng
vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, tạo lợi nhuận cao...
Các chủ thể kinh tế khi sử dụng vốn vay ngân hàng phải thực hiện đầy đủ
cam kết với ngân hàng, để đảm bảo sử dụng vốn đúng mục đích, có khả năng
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368

về công nghiệp và dịch vụ. Trong điều kiện hạn chế về khả năng huy động vốn
từ ngân sách, bị động với nguồn vốn bên ngoài thì phát huy nội lực bằng việc
huy động vốn tại chỗ để đầu tư cho vay thông qua hệ thống tín dụng ngân hàng
có ý nghĩa vô cùng to lớn để thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Những doanh nghiệp đầu tư vào những lĩnh vực, ngành nghề, những vùng
mà Chính phủ khuyến khích phát triển thì các NHTM sẽ tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp này, chẳng hạn như: lãi suất cho vay ưu đãi, nới lỏng hạn mức tín
dụng, đơn giản thủ tục vay... Chính sự ưu đãi này, đã giúp các doanh nghiệp đẩy
nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất kinh doanh, đưa đất nước phát triển
theo hướng CNH – HĐH.
* Tín dụng ngân hàng là công cụ thực hiện các chính sách xã hội.
Các chính sách xã hội được đáp ứng bằng nguồn tài trợ không hoàn lại từ
NSNN. Song phương thức tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và
thiếu hiệu quả. Để khắc phục hạn chế này, phương thức tài trợ không hoàn lại có
xu hướng bị thay thế bởi phương thức tài trợ hoàn lại của tín dụng để nhằm duy
trì nguồn cung cấp tài chính và có điều kiện mở rộng quy mô tín dụng. Thông
qua phương thức tài trợ này, các mục tiêu chính sách xã hội được đáp ứng một
cách chủ động và hiệu quả hơn. Bởi vì, để có đảm bảo hoàn trả vốn đúng thời
hạn, các đối tượng chính sách buộc phải quan tâm đến hiệu quả sử dụng vốn,
từng bước cải thiện kỹ năng lao động. Đây là sự đảm bảo chắc chắn cho sự ổn
định tài chính của các đối tượng chính sách và từng bước làm cho họ có thể tồn
tại độc lập với nguồn vốn tài trợ.
Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển
kinh tế thị trường. Và nếu tín dụng ngân hàng thực hiện tốt các vai trò trên thì
được coi là có chất lượng tín dụng.
1.2.3.2 Một số chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngân hàng
16
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do chất lượng tín dụng là chỉ tiêu mang tính định lượng nên để đánh giá
chất lượng tín dụng ngân hàng có thể sử dụng các chỉ tiêu sau:

định. Chỉ tiêu đánh giá:

Tỷ lệ NQH có NQH có khả năng mất vốn
khả năng mất vốn Tổng dư nợ
Các chỉ tiêu này phản ánh khái quát về tình hình nợ quá hạn của ngân
hàng. Tỷ lệ này càng thấp thì chất lượng tín dụng của ngân hàng càng cao, còn
ngược lại khi cả 4 chỉ tiêu này mà ở mức độ cao thì hoạt động kinh doanh của
ngân hàng đang gặp nhiều rủi ro, có thể đe dọa đến sự tồn tại của ngân hàng.
NHTM nào có tỷ lệ nợ quá hạn cao sẽ bị đánh giá là có chất lượng tín dụng thấp.
Tuy nhiên trong thực tế do những rủi ro trong kinh doanh là không thể tránh khỏi
nên các ngân hàng thường chấp nhận một tỷ lệ nợ quá hạn nhất định được coi
như giới hạn an toàn.
b) Tỷ lệ thu hồi nợ do bán tài sản của người vay
Nếu xét về bản chất tín dụng thì nguồn trả nợ cho ngân hàng của người
vay về nguyên tắc là được phân tích ra từ phần thu nhậo do hoạt động sản xuất
kinh doanh của khách hàng, nó bao gồm các chi phí lao động vật hóa và phần giá
trị mới sáng tạo ra. Tuy nhiên, có trường hợp do bán sử dụng vốn kém hiệu quả,
bị mất vốn, nên người vay phải bán tài sản để trả nợ ngân hàng. Số tiền do bán
tài sản có thể đủ để trả hết nợ món vay, nhưng cũng có thể chỉ trả được một phần
nợ vay, song trong trường hợp nào đi chăng nữa thì vẫn có thể đánh giá là chất
lượng lượng tín dụng thấp.
Tỷ lệ thanh toán nợ do Số tiền thu nợ do khách hàng bán tài sản
bán tài sản của người vay Tổng doanh số thu nợ
18
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tỷ lệ này được các NHTM tính theo định kỳ (tháng, quý, năm), số thu do
bán tài sản có thể thống kê theo báo cáo tín dụng. Tuy nhiên, đây là chỉ tiêu rất
khó đánh giá và số tài sản mà NHTM đang quản lý có tới hơn 1 nửa là tài sản
khó bán.
c) Hiệu suất sử dụng vốn

Chỉ tiêu này cho biết 1 đồng dư nợ mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Tỷ
lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận từ hoạt động tín dụng mang lại càng lớn,
đồng thời nó phản ánh chất lượng tín dụng tốt.
Lợi nhuận từ hoạt động tín dụng
- Chỉ tiêu 2:
Tổng lợi nhuận của ngân hàng
Chỉ tiêu này nói lên mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng vào toàn bộ
kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ lợi nhuận từ hoạt
động tín dụng mang lại càng lớn, đồng thời nó phản ánh chất lượng tín dụng tốt.
f) Cơ cấu tín dụng
- Doanh số cho vay/ Tổng doanh số cho vay
- Doanh số cho vay/ Tổng doanh số thu nợ
- Dư nợ/ Tổng dư nợ
- Doanh số cho vay: là tổng số tiền đã cho vay của ngân hàng đối với các doanh
nghiệp trong 1 thời kỳ. Doanh số này càng cao càng chứng tỏ quy mô đang tăng
trưởng, đó là 1 dấu hiệu rất tốt cho ngân hàng.
- Doanh số thu nợ: là số tiền ngân hàng thu nợ của các doanh nghiệp trong 1 thời
kỳ. Ngân hàng chỉ có thể có được doanh só thu nợ cao nếu họ cho vay được
nhiều và đó là các khoản tín dụng có chất lượng tốt.
20
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Dư nợ tín dụng: là chỉ tiêu quan trọng, nó phản ánh số tiền mà khách hàng còn
vay ngân hàng tính đến 1 thời điểm cụ thể nào đó. Chỉ tiêu này mà lớn, chứng tỏ
ngân hàng cho vay đối với các doanh nghiệp (doanh nghiệp xây lắp) nhiều.
- Tốc độ tăng trưởng dư nợ: là tốc độ phản ánh mức độ cho vay là nhanh hay
chậm của ngân hàng; được tính bằng cách lấy dư nợ năm sau trừ đi dư nợ năm
trước chia cho dư nợ năm trước. Nếu tỷ lệ này là dương có thể kết luận rằng thời
điểm sau đã có sự mở rộng hoạt động tín dụng so với thời điểm trước - tức là có
chất lượng tín dụng.
Nói chung, các ngân hàng đều mong muốn có được các tỷ lệ này cao vì

Mỗi thành phần kinh tế đều có quyền tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh nhưng phải đảm bảo theo khuân khổ pháp luật. Hoạt động cho vay của
ngân hàng cũng không ngoại lệ, nó cũng phải tuân thủ theo những quy định của
NHNN, luật các tổ chức tín dụng... Nếu môi trường pháp lý mà đồng bộ, đầy đủ,
thống nhất, ổn định sẽ tác động mạnh tới chất lượng tín dụng. Bởi vì, một mặt nó
giúp người vay vốn cũng như ngân hàng dễ dàng trong giao dịch và tránh sự lợi
dụng khe hở của những đối tượng làm ăn không chân chính. Mặt khác, nó giúp
ngân hàng và người vay vốn đưa ra cá chính sách đầu tư vào một ngành nào đó
mà không sợ bị mất vốn do quy chế thay đổi.
Tuy nhiên, khi những văn bản, quy định pháp luật không rõ ràng, đồng bộ
thì rất khó khăn cho ngân hàng trong hoạt động cho vay đồng thời cũng gây khó
khăn cho các doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới quy mô vay vốn và hoạt động
cho vay của ngân hàng.
* Môi trường tự nhiên
Điều kiện tự nhiên diễn ra không thuận lợi, chẳng hạn như: lũ lụt, dịch
cúm gia cầm, hạn hán... sẽ ảnh hưởng xấu đến kết quả sản xuất kinh doanh của
người vay vốn không chỉ đối với những ngành có liên quan đến nông nghiệp,
ngư nghiệp mà còn ảnh hưởng xấu đến các ngành xây dựng khi đang thi công
22
Website: Email : Tel : 0918.775.368
công trình. Vì thế, việc đầu tư vào những ngành này có thể dẫn đến những rủi ro,
làm ảnh hưởng xấu đến khả năng trả nợ ngân hàng, làm ảnh hưởng xấu đến chất
lượng tín dụng.
* Môi trường chính trị – xã hội
Môi trường chính trị - xã hội ổn định là 1 điều kiện vô cùng quan trọng
trong việc tạo lòng tin đối với các nhà đầu tư. Do vậy, một môi trường chính trị -
xã hội ổn định sẽ là cơ sở rất tốt cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Ngược
lại khi tình hình chính trị - xã hội không ổn định, gây lên tình trạng mất lòng tin
vào việc đầu tư, không những hạn chế những khoản đầu tư mới mà còn tác động
không tốt tới những khoản vay cũ thông qua những ảnh hưởng của nó đến hoạt

xác cho ngân hàng...
1.3.3 Từ phía ngân hàng
* Chính sách tín dụng
Mỗi một NHTM đều xây dựng cho mình một chính sách tín dụng riêng
dưới nhiều hình thức khác nhau. Chính sách tín dụng là một văn bản đưa ra
những triết lý và khái niệm cơ bản trong hoạt động cho vay, và là cơ sở để hình
thành nên các thủ tục cho vay. Do đó, chính sách tín dụng có tầm quan trọng đặc
biệt đối với sự phát triển của một NHTM.
Một chính sách tín dụng được đánh giá là tốt là phải vạch ra cho cán bộ tín
dụng phương hướng hoạt động và một khung tham chiếu rõ ràng để làm căn cứ
để xem xét các nhu cầu vay vốn. Và chính sách tín dụng phải phù hợp thì mới
thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo được khả năng sinh lời của tín dụng,
phân tán rủi ro, tuân thủ chấp hành đúng pháp luật.
24
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Do vậy, ta có thể hiểu rằng chất lượng tín dụng của ngân hàng có tốt hay
xấu còn tuỳ thuộc vào việc xây dựng một chính sách tín dụng của ngân hàng có
đúng đắn hay không.
* Thông tin tín dụng
Không phải tất cả các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng đều sử dụng vốn
vay có hiệu quả và đúng mục đích. Đó là chưa nói tới những kẻ mạo danh, mạo
nhận là doanh nghiệp để vay trái phép, chiếm dụng vốn bất hợp pháp, gây tổn
thất lớn cho ngân hàng. Vì vậy, tín dụng muốn đạt chất lượng cao, an toàn cần
phải có hệ thống thông tin hữu hiệu phục vụ cho công tác này. Việc nắm bắt kịp
thời và chính xác các luồng thông tin tín dụng giúp cho người quản lý đưa ra
quyết định can thiệp kịp thời, nhằm tìm ra những cơ hội tốt cho kinh doanh
vàgiảm rủi ro có thể xảy ra.
* Công tác thẩm định tín dụng
Thẩm định dự án đầu tư là việc xét một cách kết quả, toàn diện các nội
dung cơ bản ảnh hưởng trực tiếp đến tính khả thi của dự án để ra quyết định đầu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status