TIỂU LUẬN:
Một số biện pháp nhằm nâng
cao chất lượng sản phẩm ở Công
ty Rượu Hà Nội
Lời nói đầu
=======================
Đảng và Nhà nước nước ta nhấn mạnh "nhiệm vụ ổn định và phát triển nền kinh
tế của nước ta tiến hành nhanh hay chậm điều đó phụ thuộc vào việc nâng cao hiệu quả
của nền kinh tế quốc dân nói chung và các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nói
riêng.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề sống còn của các doanh nghiệp trong
nền kinh tế thị trường. Một doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì việc đầu
tiên và quan trọng nhất là phải tìm biện pháp nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp của mình. Một trong những công cụ để nâng cao hiệu
quả sản xuất kinh doanh "Một số biện pháp nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm ở
Công ty Rượu Hà Nội". Để quản lý tốt quá trình sản xuất kinh doanh và thu được lợi
kinh doanh của doanh nghiệp
======================
1.1. Những vấn đề chung về chất lượng sản phẩm
Trong xu thế khu vực hoá và toàn cầu hoá nền kinh tế hiện nay, cạnh tranh trên
thị trường ngày càng trở nên quyết liệt, chất lượng sản phẩm và dịch vụ là một trong
những yếu tố quyết định sự thành bại của một doanh nghiệp. Trong những năm gần
đây, quản lý chất lựơng đã được coi là vũ khí cơ bản giúp các doanh nghiệp đáp ứng
thích hơn các yêu cầu của khách hàng và nâng cao hiệu quả của quản lý. Vì vậy vấn đề
chất lượng ngày nay đang là mối quan tâm hàng đầu, là mục tiêu mang tầm chiến lược
quan trọng trong chính sách, kế hoạch của doanh nghiệp và chương trình phát triển
kinh tế của nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới.
1.1.1 Khái niệm chất lượng sản phẩm (CLSP)
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất phức tạp phản ánh một cách tổng hợp
các nội dung kinh tế, xã hội và kỹ thuật liên quan đến rất nhiều đối tượng khác nhau
trong quá trình sản xuất kimh doanh và tiêu thụ sản phẩm. Về mặt bản chất, chất lượng
sản phẩm đựơc coi là giá trị sử dụng của hàng hoá. Nhưng đứng trên các góc độ nghiên
cứu khác nhau, mức độ xem xét trong từng giai đoạn phát triển kinh tế xã hội khác
nhau và nhằm các mục tiêu khác nhau người ta đưa ra nhiều quan niệm khác nhau về
chất lượng sản phẩm.
Theo quan điểm của C.MAX thì chất lượng sản phẩm là mức độ, là thước đo
biểu hiện giá trị sử dụng của nó. Giá trị sử dụng của một sản phẩm phải làm nên tính
hữu ích của sản phẩm đó và nó chính là chất sản phẩm.
Theo nghĩa của từ điển tiếng Việt về chất lượng: chất lượng là mặt đối lập của
của số lượng. Định nghĩa này chỉ mới nói nên một phần của một sự vật, hiện tuợng nào
cũng có hai mặt chất lượng và số lượng. Theo quan điểm của hệ thống các nước XHCN trước thì chất lượng sản phẩm là
tổng hợp các đặc tính kinh tế kĩ thuật nội tại phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của
mà chỉ bao gồm những thuộc tính làm cho sản phẩm có khả năng thoả mãn những nhu
cầu định trước hoặc còn tiềm ẩn. Tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong chất
lượng sản phẩm không phải là một phép cộng đơn thuần mà trong đó các thuộc tính tác
động tương hỗ lẫn nhau. Sự thay đổi trong thành phần, cấu tạo mối quan hệ trong tập
hợp các thuộc tính sẽ tạo ra các chất lượng khác nhau.
Dựa vào khái niệm của ISO, cục đo đường chất lượng nhà nước Việt Nam đưa
ra khái niệm: Chất lượng sản phẩm của một sản phẩm nào đó là tổng hợp của tất cả các
tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu của xã hội trong những điều kiện
kinh tế xã hội nhất định, đảm bảo yêu cầu của người sử dụng nhưng cung đảm bảo các
tiêu chuẩn thiết kế và khả năng sản xuất của từng nước.
1.1.2 Phân loại chất lượng sản phẩm và các chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản
phẩm
1.1.2.1 Phân loại chất lượng sản phẩm:
a. Phân loại theo mục đích, công dụng của sản phẩm:
Theo cách phân loại này, chất lượng sản phẩm được chia thành 4 loại:
+ Chất lượng thị trường: Là chất lượng đảm bảo thoả mãn nhu cầu thị trường
mong đợi của người tiêu dùng.
+ Chất lượng thành phần: Là chất lượng đảm bảo thoả mãn nhu cầu của một
hoặc một số người nhất định.
+ Chất lượng phù hợp: Là chất lượng đảm bảo theo đúng thiết kế hay tiêu chuẩn
hoá quy định.
+ Chất lưọng thị hiếu: Là chất lượng phù hợp với ý thích, sở trường tâm lý của
người tiêu dùng.
b. Phân loại theo hệ thống chất lượng ISO 9000:
Theo phân loại này chất lượng sản phẩm được chia thành 5 loại:
+Chất lượng thiết kế: Là giá trị các chỉ tiêu đặc trưng của sản phẩm được phác
thảo qua văn bản trên cơ sở ngiên cứu nhu cầu thực tế, các điểm của sản xuất- tiêu
dùng, đồng thời so sánh với chỉ tiêu chất lượng các mặt hàng tương tự cuả nhiều hãng,
nhiều công ty trong và ngoài nước.
hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty. Nhóm chỉ tiêu chất lượng này bao gồm: + Chỉ tiêu tỷ lệ sản phẩm sai hỏng: Chỉ tiêu này dùng để đánh giá tình hình chất
lượng sản phẩm trong sản suất kinh doanh
- Dùng thước đo hiện vật để tính:
Số lượng sản phẩm hỏng
Tỷ lệ sai hỏng = x 100 %
Tổng số lượng sản phẩm
- Dùng thước đo giá trị để tính:
Chí phí về sản phẩm hỏng
% Giá trị sp sai hỏng = x 100 %
Tổng chi phí toàn bộ sản phẩm hàng hoá
Độ lệch chuẩn =
1n
)XXi(
n
1i
2
Trong đó: X: là chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn (lấy làm mẫu để so sánh)
+ Chỉ tiêu công nghệ: Đặc trưng cho quá trùnh chế tạo, bảo đảm tiết kiệm lớn
nhất các chi phí.
+ Chỉ tiêu thống nhất hoá: Đặc trưng cho tính chất hợp lý của sản phẩm.
+ Chỉ tiêu dễ vận chuyển: Đặc trưng cho tình thích ứng của sản phẩmđối với
việc vận chuyển.
+ Chỉ tiêu đối với việc phát minh sáng chế: Đặc trựng cho khả nhăng giữ bản
quyền.
+ Chỉ tiêu về tuổi thọ:Đặc trưng về thời gian sử dụng của sản phẩm
+ Chỉ tiêu về chi phí, gía cả: Đặc trưng cho hao phí xã hội cần thiết để tạo nên
sản phẩm.
Hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá chất lượng sản phẩm không tồn tại độc lập,
tách rời mà chúng có mối quan hệ chặt chẽ, thống nhất với nhau. Đối với mỗi sản
phẩm khác nhau, các chỉ tiêu chất lượng có vai trò và ý nghĩa khác nhau nhưng nghìn
chung một sản phẩm được coi là có chất lượng caokhi nó thoã mãn một hệ thống các
chỉ tiêu ràng buộc.Do đó tuỳ theo từng loại sản phẩm các doanh nghiệp phải lựa chọn
cho mình những chỉ tiêu phù hợp vừa đảm bảo công tác quản lý chất lượng sản phẩm
có hiệu quả, vừa đảm bảo sản phẩm có sắc thái riêng biệt với sản phẩm đồng loại khác
trên thị trường. 1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm:
Chất lượng sản phẩm là vấn đề tổng hợp, là kết quả một quá trình từ sản xuất
đến tiêu dùng và cả sau khi tiêu dùng nữa. Do đó có thể nói nó chịu ảnh hưởng của
nhiều yếu tố, điều kiện liên quan trong suốt chu kỳ sống của nó. Tuy nhiên mức độ ảnh
hưởng của các yếu tố đó đến chất lượng sản phẩm lại khác nhau. Theo quan điểm quản
lý và thực tiễn sản xuất kinh doanh, có thể thấy chất lượng sản phẩm phụ thuộc vào
các nhóm yếu tố sau:
1.1.3.1. Nhóm nhân tố khách quan
a. Nhu cầu thị trường
Nhu cầu là xuất phát điểm của quá trình sản xuất, tạo lực kéo định hướng cho
việc cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp mình. Đồng thời thông
qua các công cụ thuế, luật pháp để điều tiết sự phát triển của hoạt động sản xuất kinh
doanh.Về quản lý kinh tế, chức năng kiểm tra, kiểm soát là một trong những chức năng
quan trọng của quản lý nhà nước. Thông qua kiểm tra, kiểm soát có thể phát hiện
những sai lệch để kịp thời hoàn thiện và định hướng cho các doanh nghiệp trong việc
nâng cao chất lượng sản phẩm.
d. Nhân tố kinh tế- văn hoá- xã hội:
Chất lượng sản phẩm là sự đáp ứng, thảo mãn những nhu cầu xác định trong
những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, do đó quan niệm về tính hữu ích mà sản phẩm mang
lại cho mỗi một người, mỗi một dân tộc cũng khác nhau. Trình độ văn hoá khác nhau,
những đòi hỏi về chất lượng cũng không giống nhau chính vì vậy mà các doanh
nghiệp nước ngoài khi xâm nhập thị trường, việc mà họ quan tâm hàng đầu là tìm hiểu
văn hoá, con người, mức sống, truyền thống dân tộc nơi mà họ sẽ đến làm ăn.
e. Điều kiện tự nhiên:
- Khí hậu: Sự thay đổi về khí hậu có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sản phẩm
cũng như nguyên vật liệu dự trữ ở các kho tàng bến bãi.
- Bức xạ mặt trời: Anh hưởng của tia hồng ngoại, tử ngoại trong bức xạ mặt trời
làm cho sản phẩm có thể bạc màu, thay đổi mùi vị. - Mưa gió: Có thể làm cho sản phẩm bị ngập nước, tăng độ ẩm mốc, thời gian
sử dụng kém hiệu quả dẫn đến sản phẩm bị ứ đọng, không có khả năng tiêu thụ.
1.4. Nhóm nhân tố chủ quan:
a. Trình độ lao động trong doanh nghiệp:
Đây là nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng. Dù trình độ công nghệ có hiện đại tiên
tiến tới đâu, nhân tố con người vẫn được coi là nhân tố căn bản nhất tác động tới chất
lượng các hoạt động, chất lượng sản phẩm và các dịch vụ. Trình độ chuyên môn, tay
nghề, kinh nghiệm, ý thức, trách nhiệm, tính kỷ luật, tinh thần hiệp tác phối hợp, khả
năng thích ứng với thay đổi, nắm bắt thông tin của mọi thành viên trong doanh nghiệp
đều có tác động tực tiếp tới chất lượng sản phẩm. Quan tâm đến đầu tư phát triển
bảo quản nguyên vật liệu, tổ chức, kiểm tra kỹ thuật cũng là nhân tố ảnh hưởngtới
chất lượng sản phẩm. Trong đó trình độ quản lý nói chung và trình độ quản lý chất
lượng nói riêng là một trong những nhân tố cơ bản góp phần đảy mạnh tốc độ cải tiến,
hoàn thiện chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp. Các chuyên gia quản lý chất
lượng đồng tình cho rằng, trong thực tế có hơn 80% những vấn đề về chất lượng là do
quản lý gây ra. Vì vậy khi nói đến quản lý chất lượng ngày nay, người ta cho rằng
trước hết là chất lượng của quản lý. Chất lượng sản phẩm phụ thuộc rất lớn vào cơ
cấu, cơ chế quản lý, nhận thức, hiểu biết về chất lượng và trình độ của cán bộ quản lý,
khả năng xác định chính xác mục tiêu, chính sách chất lượng và chỉ đạo tổ chức thực
hiện chương trình, kế hoạch chất lượng.
1.1.4.Sự cần thiết khách quan quan của việc nâng co chất lượng sản phẩm
trong doanh nghiệp
1.1.4.1 Tính tất yếu khách quan của việc nâng cao chất lượng sản phẩm
Ngày nay trong đời sống xã hội và giao lưu kinh tế Quốc tế, chất lượng sản
phẩm hàng hóa dịch vụ có một vai trò quan trọng và đang trở thành một thách thức to
lớn đối với tất cả các nước- nhất là đối với các nước đang phát triển trên con đường
hội nhập vào nền kinh tế thị trường quốc tế
Cơ chế thị trường tạo động lực mạnh mẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh
nghiệp và nền kinh tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức đối với các doanh
nghiệp. Mỗi doanh nghiệp là một tế bào của nền kinh tế, trong các cơ chế đó các doanh nghiệp chịu sự chi phối nghiệt ngã của quy luật cạnh tranh, đòi hỏi các doanh
nghiệp phải nắm vững yêu cầu thị trường về cả thời gian, không gian, số lượng, chất
lượng và giá cả.
Thế mạnh của nền kinh tế thị trường là hàng hoá tràn ngập, là sự phong phú đa
dạng, cạnh tranh gay gắt lẫn nhau giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước. Người
tiêu dùng tự do lựa chọn những sản phẩm theo yêu cầu, sở thích khả năng mua của họ.
Họ thực sự là đối tượng mà các sản xuất kinh doanh sẵn sàng và tận tình phục vụ .
Hiệu quả kinh tế, sự thành công của một doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào
làm tăng kỹ thuật hiện đại trang bị cho nền kinh tế quốc dân đảm bảo tăng nhanh năng
suất lao động, tạo việc làm, tăng thu nhập và góp phần vào ổn định xã hội.
- ý nghĩa quốc tế: Chất lượng sản phẩm tốt, đặc biệt đối với sản phẩm xuất khẩu
làm tăng uy tín của đất nước trên thị trường thế giới, tạo điều kiện thuận lợi để hàng
hoá trong nước cạnh tranh làm mạnh với hàng hoá các nước khác.
Như vậy đảm bảo nâng cao chất lượng sản phẩm là một đòi hỏi khách quan và
hết sức cần thiết đối với các doanh nghiệp. Nâng cac chất lượng sản phẩm là biện pháp
hưu hiệu nhất kết hợp hài hoà các lợi ích của doanh nghiệp, người tiêu dùng và xã hội.
1.1.4.2. Phương hướng nâng cao chất lượng sản phẩm đối với các doanh
ngiệp Việt nam hiện nay.
Khi nền kinh tế chuển sang thị trường, vấn đề chất lượng sản phẩm và dịch vụ
không còn xa lạ đối với doanh nghiệp Việt Nam. Những khẩu hiệu quen thuộc như
"Chất lượng và các yếu tố hàng đầu"," chất lượng là sự sống còn của doanh nghiệp",
chất lượng sản phẩm được sử dụng như một công cụ cạnh tranh quan trọng nhất. Với
nhận thức đó, các doanh nghiệp đã cố gắng tập trung vào các công tác đảm bảo nâng
cao chất lượng sản phẩm bằng cách đổi mới mẫu mã, đa dạng hoá chủng loại, Do
vậy chất lượng sản phẩm của các doanh nghiệp Việt nam dần dần ổn định và ngày một
nâng cao, khả năng cạnh tranh của hàng nội địa cũng đựơc củng cố. Các sản phẩm
hàng hoá của Việt nam ngày càng tỏ rõ lợi thế cạnh tranh của mình thể hiện ngày càng
đáp ứng được nhu cầu của người Việt nam hơn các sản phẩm ngoại nhập. Công ty Cao
su Sao Vàng là một ví dụ điển hình. Công ty sản xuất xăm xe máy , xe đạp và nhiều
sản phẩm cao su kĩ thuật đã được nhiều người tiêu dùng mến mộ, tin dùng từ nhiều
năm nay. Cùng với sự lớn mạnh, phát triển ổn định của Công ty, sản phẩm của Công ty
đang mang nhãn hiệu " sao vàng" lại gây được nhiều thiên cảm đối với người tiêu dùng
và tạo được lợi thế cạnh tranh tren thị trường. Chất lượng là sự sống còn của doanh nghiệp nên Công ty đã phấn đấu không ngừng và đạt được nhiều thành tích về chất
lượng sản phẩm . Trong 3 năm 1993, 1996, 1997 mỗi năm Công ty đạt được 3
huy chương vàng tại hội chợ Quốc tế hàng công nghiệp Việt nam, 2 năm liền đạt giải
khâu cuối cùng của quá trình sản xuất.
Hơn nữa vấn đề đào tạo cán bộ bị xem nhẹ, người ta sợ tốn nhiều chi phí cho
doanh nghiệp, vì thế kiến thức của doanh nghịêp còn hạn chế, không khuyến khích tinh
thần làm việc cho doanh nghiệp, do đó doanh nghiệp sẽ mất đi nguồn lực lớn nhất
chính là nguồn lực chí tuệ. Đứng trước thực trạng đó, vấn đề cấp bách đặt ra là làm thế
nào để đẩy nhanh quá trình tiến bộ của quản trị chất lượng vào trong các doanh nghiệp,
nhanh chóng nâng cao chất lượng snr phẩm lên mặt bằng chung của các nước trong
khu vực, từng bước hoà nhập và có khả năng tham gia cạnh tranh trên thị trường thế
giới.
Trong thời gian tới các doanh nghiệp cần chú ý tập trung đầu tư công tác nghiên
cứu thiết kế sản phẩm mới. Nâng cao năng lực thiết kế sản phẩm là một trong nhữg
biện pháp chủ động tích cực nâng cao chất lượng và tính cạnh tranh của các doanh
nghiệp Việt nam.
Mặt khác để nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh trong dài hạn các
doanh nghiệp Việt nam cần đổi mới đồng bộ, toàn diện công nghệ. Đây là một giải
pháp quan trọng nhất đảm bảo một cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết tạo tiền đề nâng
cao khả năng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt nam. Đổi mới công nghệ
phải được coi là giải pháp trung tâm, có tính chiến lược tác động lâu dài đến sự tồn tại
và phát triển của các doanh nghiệp.
Hơn nữa tăng cường công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực của doanh
nghiệp đào tạo bồi dưỡng kiến thức chuyên môn, kỹ năng tay nghề và những kiến thức
về quản lý chất lượng là khâu có ý nghĩa quyết định đến năng suất, chất lượng và hiệu
quả của các doanh nghiệp. Đó cũng là các tiền đề cần thiết nâng cao khả năng cạnh
tranh của các doanh nghiệp Việt nam.Thông qua các chiến lược và chương trình đào
tạo cụ thể phù hợp với từng đối tượng, từng ngành ngề, từng doanh nghiệp nâng cao
chất lượng đội ngũ lao động của nước ta nhằm tạo ra một lực lượng lao động có đủ khă
năng tiếp thu thích ứng với những thách thức của môi trường kinh doanh quốc tế hiện
nay .
Trong nền kinh tế thị trường, không còn tồn tại thị trường người bán mà đã
chuyển sang thị trường của người mua, các doanh nghiệp cần phải nỗ lực tham gia mở
khái niệm về quản lý chất lượng. Tuỳ theo từng thời kỳ, từng góc độ xem xét và mục đích mà có các khái niệm khác nhau song tất cả dều có những đóng góp trong việc thúc
đẩy khoa học quản trị chất lượng không ngừng hoàn thiện và phát triển.
Theo quan điểm của nhà khoa học Mỹ A.V Feigenbaun: Quản lý chất lượng sản
phẩm là một hoạt động thống nhất, có hiệu quả của các bộ phận khác nhau trong một
tổ chức, một đơn vị kinh tế chịu trách nhiệm triển khai các tham số chất lượng, duy trì
mức chất lượng đã đạt được và nâng cao nó để đảm bảo sản xuất và tiêu dùng sản
phẩm một cách kinh tế nhất thoả mãn yêu cầu của người tiêu dùng.
Theo K. ISHIKAWA- chuyên gia chất lượng nổi tiếng của Nhật: Quản lý chất
lượng sản phẩm có ý nghĩa là nghiên cứu - thiết kế- triển khai sản xuất và bảo dưỡng
một sản phẩm có chất lượng, sản phẩm phải kinh tế nhất, có ích nhất và bao giờ cũng
thoả mãn nhu cầu khách hàng.
Theo AGRobertson- nhà quản lý Anh: Quản lý chất lượng sản phẩm là ứng
dụng các biện pháp, thủ tục kiến thức kinh tế, kỹ thuật đảm bảo cho các sản phẩm đang
hoặc sẽ được sản xuất phù hợp với thiết kế, các yêu cầu trong hợp đồng kinh tế bằng
con đường hiệu quả nhất, kinh tế nhất.
Theo tiêu chuẩn công nghiệp Nhật(JIS- 84): Quản lý chất lượng là hệ thống các
biện pháp tạo điều kiện sản xuất, tiết kiệm những hàng hoá có chất lượng thoả mãn
nhu cầu của người tiêu dùng.
Theo Crosby: Quản lý chất lượng là một phương tiện có tính chất hệ thống đảm
bảo việc tôn trọng tổng thể tất cả các thành phần của một kế hoạch hành động.
Theo tiến sĩ Juran: Quản lý chất lượng là quá trình điều chỉnh thông qua đó
chúng ta đánh giá đo lường chất lượng thực tế thực hiện được, so sánh nó với các tiêu
chuẩn và tiến hành các hoạt động điều chỉnh.
Tổ chức quốc tế về tiêu chuẩn ISO lại cho rằng: Quản lý chất lượng là tập hợp
các hoạt động của các chức năng quản lý chung, xác định chính sách chất lượng, mục
đích trách nhiệm và thực hiện chúng thông qua các biện pháp như: lập kế hoạch, điều
khiển chất lượng, đảm bảo chất lượng và cải tiến chất lượng trong khuôn khổ hệ thống
Không ngừng cải tiến mặt hàng, nâng cao chất lượng mặt hàng, chất lượng sản phẩm
hàng hoá là tiền đề quan trọng để hàng hoá một nước có khả năng xâm nhập vào thị
trường khu vực và quốc tế.
Hàng tiêu dùng có chất lượng tốt, tạo điều kiện tiết kiệm được khối lượng hàng
hoá cần thiết cho xã hội , nhờ vậy mà tiết kiệm được nguyên vật liệu, sức lao đọng , tiền vốn để mở rộng sản xuất, đồng thời tiết kiệm được quỹ tiêu dùng cho xá hội,
góp phần cải thiện đời sống nhân dân.
Về phương diện sản xuất kinh doanh, snr phẩm hàng hoá không đạt tiêu chuẩn
chất lượng, phải xuống cấp, phải bán với với giá thứ phẩm hoặc phải sữa chữa, bồi
thường cho khách hàng, phải huỷ bỏ hợp đồng thì số lượng kế hoạch cũng không hoàn
thành đúng thời hạn, chi phí và tính giá thành cao, gây nhiều tổn thất cho doanh
nghiệp, gây mất lòng tin với khách hàng, ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của
daonh nghiệp.
Do nhu cầu xã hội ngày càng tăng cả về mặt lượng và mặt chất, dẫn đến sự thay
đổi lớn về nhân công lao động xã hội.
Với chính sách mở cửa tự do thương mại, các nhà sản xuất kinh doanh muốn
tồn tại và phát triển thì dich vụ của họ phải có tính cạnh tranh cao, doanh nghiệp phải
có khả năng cạnh tranh cao về nhiều mặt. Cạnh tranh không phải là thực tế đơn giản,
nó là kết quả tổng hợp của toàn bộ nỗ lực trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp.
Đảm bảo và không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hoá là con đường
quan trọng nhất để phát triển và nâng cao năng lực sản xuất của xã hội, đẩy mạnh công
cuộc và phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập quốc dân, là biện pháp để đảm bảo sự
sống còn của doanh nghiệp. Quy luật cạnh tranh vừa là đòn bẩy để các doanh nghiệp
tiến lên đà phát triển, hoà nhập với thị trường khu vực và thế giới, nhưng đồng thời
cũng là thách thức đối với các doanh nghiệp. Trong quản trị kinh doanh, nếu không lấy
chất lượng làm mục tiêu phấn đấu, nếu chạy theo lợi nhuận trước mắt, rõ ràng doanh
nghiệp xẽ bị đẩy ra ngoài vòng quay của thị trường đi đến thua lỗ và phá sản.
Như vậy quản lý chất lượng chính là một trong những phương thức mà doanh
- Quyết định những đặc điểm sản phẩm đã lựa chon: Đáp ứng nhu cầu khách
hàng, thích hợp với khả năng, đảm bảo tính cạnh tranh, tối thiểu hoá chi phí.
- Phân tích về kinh tế: Đó là quá trình đánh giá mối quan hệ giữa lợi ích mà các
đặc điểm sản phẩm đưa lại với chi phí cần thiết để tạo ra chúng.
Phân chia từng chức năng thành các đặc điểm cụ thể và ước tính chi phí cho
từng đặc điểm đó, ở đây phương pháp đồ thị thường được áp dụng rộng rãi nhất.
1.2.3.2 Quản lý chất lượng trong khâu cung ứng:
Mục tiêu của giai đoạn này là nhằm đáp ứng đúng chủng loại, số lượng, thời
gian, địa điểm và các đặc tính kinh tế kỹ thuật cần thiết của nguyên vật liệu, đảm bảo cho quá trình sản xuất tiến hành thường xuyên, liên tục với chi phí thấp nhất. Quản lý
chất lượng trong khâu cung ứng gồm có những nội dung sau:
- Lựa chọn người cung ứng có đủ khả năng đáp ứng những đòi hỏi về chất
lượng vật tư nguyên liệu.
- Tạo lập hệ thống thông tin phản hồi chặt chẽ, thường xuyên cập nhật.
- Thoả thuận về việc đảm bảo chất lượng vật tư cung ứng.
- Thoả thuận về phương pháp kiểm tra xác minh.
- Xác định các phương án giao nhận.
- Xác định rõ ràng, đầy đủ thống nhất các điều khoản trong giải quyết những
trục trặc khiếm khuyết.
1.2.3.3. Quản lý chất lượng trong khâu sản xuất:
Quản lý chất lượng phải được thực hiện từ ngay khâu đầu tiên của quá trình sản
xuất. Phải phát hiện ngay những sai sót trong mọi nguyên nhân càng sớm càng tốt,
nhất là ngay từ khâu đầu- xử lý nguyên liệu, tạo hình sản phẩm , gia công chỉnh lý,
tinh tế Ngoài ra cần có nhận thức đúng đắn rằng nâng cao chất lượng sản phẩm,
quản lý quá trình sản xuất, không chỉ là trách nhiệm của nhà quản lý mà là trách nhiệm
của mọi thành viên trong Công ty.
Tất cả các thành viên từ lãnh đạo đến công nhân, tất cả các cán bộ nghiên cứu
thị trường- thiết kế - cung ứng vật tư - sản xuất - kiểm tra chất lượng đến lưu thông
động dịch vụ su khi bán. Do vậy những năm gần đây, công tác đảm bảo chất lượng
trong và sau khi bán được các doanh nghiệp rất chú ý và mở rộng phạm vi. Trong giai
đoạn quản lý chất lượng trong và sau khi bán hàng thực hiện những nhiệm vụ sau:
- Tạo danh mục sản phẩm hợp lý
- Tổ chức mạng lưới đại lý phân phối, dịch vụ thuận lợi, nhanh chóng.
- Thuyết minh, hướng dẫn đầy đủ các thuộc tính sử dụng, điều kiện sử dụng,
quy trình, quy phạm sử dụng.
- Dự kiến chất lượng và chủng loại phụ tùng thay thế cần phải đáp ứng nhu cầu
khi sử dụng sản phẩm.
- Đề xuất nghiên cứu những phương án bao gói vận chuyển, bảo quản bốc dỡ
hợp lý nhằm tăng năng suất, hạ giá thành.
- Tổ chức bảo hành, tổ chức dịch vụ kỹ thuật thích hợp sau khi bán hàng.
1.2.4. Các công cụ quản lý chất lượng:
Quản trị chất lượng sử dụng rất nhiều công cụ khác nhau để đảm bảo và nâng
cao chất lượng sản phâmr, trong đó kiểm tra chất lượng bằng thống kê (SQC) đóng vai
trò rất quan trọng. SQC được xây dựng dựa trên cơ sở toán xác suất thống kê, bao gồm
7 công cụ đó là:
- Biểu đồ tiến trình hay biểu đồ lưu chuyển (lưu đồ).
- Sơ đồ nhân quả (Sơ đồ xương cá)
- Biểu đồ kiểm soát
- Phiếu kiểm tra
- Biểu đồ Pareto.
- Biểu đồ phân bố mật độ.
- Biểu đồ phân tán.
- Biểu đồ tiến trình hay biểu đồ lưu chuyển ( lưu đồ): Lưu đồ là một dạng biểu
đồ mô tả quy trình bằng cách sử dụng những hình ảnh hoặc những ký hiệu kỹ thuật
nhằm cung cấp sự hiểu biết đầy đủ về các đầu vào và các dòng chảy của các quy trình.