TIỂU LUẬN:
Hoàn thiện một bước cơ cấu tổ
chức bộ máy quản lý và điều hành
của Tổng công ty Thép Việt Nam
Lời mở đầu
Xây dựng và tổ chức bộ máy quản lý của doanh nghiệp luôn là một công việc
thường xuyên và hết sức quan trọng trong bất cứ một doanh nghiệp nào, dù là doanh
nghiệp đang hoạt động hay doanh nghiệp mới thành lập.
Đặc biệt trong công cuộc đổi mới hiện nay, khi mà cả nước đang bước vào thời
kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì việc xâp dựng một bộ máy tổ chức quản lý phù
hợp là một nhu cầu thiết yếu đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh. Bởi vì
doanh nghiệp muốn tồn tại, phát triển và đứng vững trên thị trường thì việc đầu tiên
mà các nhà quản lý phải quan tâm là tổ chức một bộ máy quản lý hoạt động có hiệu
Lý luận chung về tổ chức bộ máy quản lý trong doanh nghiệp
I Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp
1 Các khái niệm cơ bản
1.1 Tổ chức và cơ cấu tổ chức
Chúng ta biết rằng khi nhiều người cùng làm việc với nhau trong một tổ chức
để đạt tới một mục tiêu chung nào đó thì cần phải phân cho mỗi người một vai trò
nhất định. Một vai trò biểu thị những công việc mà mỗi người phải làm để đạt được
mục đích hoặc một mục tiêu nhất định, sự hoạt động của họ nằm trong một phạm vi
mà ở đó họ biết rã mục tiêu công việc của họ ăn khớp như thế nào với nỗ lực của
nhóm. Tại đó họ có quyền hạn cần thiết để làm nhiệm vụ và tại đó họ có những công
cụ và thông tin cần thiết để hoàn thành nhiệm vụ, chính các điều kiện đó nảy sinh
chức năng tổ chức.
Từ lý luận trên chúng ta có thể khái niệm :
Tổ chức là sự liên kết những cá nhân, những quá trình, những hoạt động trong
hệ thống nhằm thực hiện mục đích đề ra của hệ thống dựa trên cơ sở các nguyên tắc
và quy tắc quản trị qui định.
Cơ cấu tổ chức :
Là hình thức tồn tại của tổ chức, biểu thị sự lắp đặt theo trật tự nào đó của các
bộ phận của tổ chức cùng các mối quan hệ giữa chúng.
1.2 Cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp
Cơ cấu tổ chức bộ máy doanh nghiệp là tổ hợp các bộ phận (đơn vị) và cá nhân
khác nhau có mối liên hệ và quan hệ phụ thuộc lẫn nhau được chuyên môn hoá và có
những trách nhiệm quyền hạn nhất định, được bố trí theo những khâu khác nhau
nhằm đảm bảo thực hiện các chức năng quản lý và phục vụ mục đích chung đã xác
định của doanh nghiệp.
Cơ cấu tổ chức quản lý :
Là hình thức phân công lao động trong lĩnh vực quản trị, có tác động đến quá
trình hoạt động của hệ thống quản lý. Cơ cấu tổ chức quản lý một mặt phản ánh cơ
cấu sản xuất, mặt khác nó có tác động tích cực trở lại việc phát triển sản xuất.
chức năng quản lý và thông qua chúng ảnh hưởng đến cơ cấu tổ chức quản lý .
b. Nhóm các nhân tố thuộc đối tượng quản lý
- Quan hệ sở hữu tồn tại trong doanh nghiệp .
- Mức độ chuyên môn hóa và tự động các hoạt động quản trị, trình độ kiến thức
tay nghề của cán bộ quản lý, hiệu suất lao động của họ .
- Quan hệ giữa số người bị lãnh đạo, khả năng kiểm tra của người lãnh đạo đối
với hoạt động của những người cấp dưới.
- Chính sách đãi ngộ của doanh nghiệp đối với đội ngũ cán bộ quản lý …
2 Các kiểu cơ cấu tổ chức quản lý doanh nghiệp
2.1 Cơ cấu chính thức và không chính thức
a. Cơ cấu chính thức
Gắn liền với cơ cấu vai trò nhiệm vụ hướng đich trong một doanh nghiệp
được tổ chức một cách chính thức. Nếu một người quản lý có ý định tổ chức thật tốt,
cơ cấu đó phải tạo ra một môi trường mà ở đó việc thực hiện của từng cá nhân cả
trong hiện tại và tương lai phải có đóng góp hiệu quả nhất trong các mục tiêu của tập
thể chứ không phải họ chỉ dành phần nhỏ sức lực trí óc của mình cho doanh nghiệp
còn phần lớn để làm thêm một doanh nghiệp khác.
b. Cơ cấu không chính thức
Là toàn bộ những cuộc tiếp xúc cá nhân, sự tác động qua lại cá nhân cũng như
sự tác động theo nhóm cán bộ, công nhân ngoài phạm vi cơ cấu đã được phê chuẩn
của doanh nghiệp. Cơ cấu không chính thức có vai trò to lớn trong quản trị. Nó
không định hình và thay đổi, luôn luôn tồn tại song song với cơ cấu chính thức, có
tác động nhất định và đôi khi rất đáng kể đến hoạt động của doanh nghiệp vì :
Cá nhân của chủ doanh nghiệp có nhiều mối liên hệ, họ không chỉ là người
thực hiện nghiêm túc, cần mẫn nghiã vụ của mình do qui chế tổ chức, tiêu chuẩn
nghiệp vụ theo chức danh qui định mà họ cảm thấy những nhu cầu tuy không liên
quan đến công vụ nhưng lại liên quan ảnh hưởng đến thái độ đối với cá nhân, đối với
A1 A2 An B1 B2 Bn
Cơ cấu trực tuyến phổ biến ở cuối thế kỉ XIX và chủ yếu được áp dụng ở
những doanh nghiệp nhỏ, sản phẩm không phức tạp, tính chất sản xuất liên tục.
Ngày nay kiểu cơ cấu này vẫn còn được áp dụng, đặc biệt là với tổ đội sản xuất .
2.4 Cơ cấu chức năng
Người lãnh đạo doanh nghiệp
Người lãnh đạo chức năng A Người lãnh đạo chức năng B
1 2 …. n
Các cấp dưới Cơ cấu chức năng đầu tiên được áp dụng với chế độ đốc công sau đó phạm vi
ứng dụng của nó được mở rộng ra phù hợp với khối lượng công tác quản trị ngày
càng lớn. Những nhiệm vụ quản trị được phân chia cho các đơn vị riêng biệt theo các
1 2 n-1 n Để khắc phục nhược điểm của các cơ cấu trực tuyến và chức năng, hiện nay
kiểu cơ cấu liên hợp (trực tuyến chức năng ) được áp dụng rộng rãi và phổ biến cho
mọi doanh nghiệp.
Theo cơ cấu này, người lãnh đạo doanh nghiệp được sự giúp sức của các người
lãnh đạo chức năng để chuẩn bị các quyết định, hướng dẫn và kiểm tra việc thực
hiện quyết định. Người lãnh đạo doanh nghiệp vẫn chịu trách nhiệm vế mọi mặt
công việc và toàn quyền quyết định trong phạm vi doanh nghiệp. Việc truyền mệnh
lệnh vẫn theo tuyến đã qui định.
Những ngưòi lãnh đạo ở các bộ phận chức năng không ra lệnh trực tiếp cho
những người thừa hành ở các bộ phận sản xuất (theo tuyến). Cơ cấu này đã lợi dụng
được ưu điểm kiểu cơ cấu trực tuyến chức năng nhưng lại xuất hiện những nhược
điểm mới. Người lãnh đạo doanh nghiệp phải giải quyết thường xuyên mối quan hệ
giữa bộ phận trực tuyến và bộ phận chức năng. Ngoài ra mỗi khi những người lãnh
đạo chức năng có nhiều ý kiến khác nhau, người lãnh đạo doanh nghiệp phải tổ chức
họp nhiều, tranh luận căng thẳng và đôi khi không ra được những quyết định có hiệu
quả mong muốn. Vì thế, người lãnh đạo sử dụng các bộ phận tham mưu giúp việc
của một nhóm chuyên gia hoặc chỉ là một cán bộ trợ lý nào đó, nó giống như cơ cấu
tham mưu trong quân đội. Nhờ đó, người lãnh đạo lợi dụng được tài năng chuyên
môn của một số chuyên gia, có thể tiếp cận thường xuyên với họ, không cần hình
thành một cơ cấu tổ chức phức tạp của các bộ môn thực hiện các chức năng quản lý.
2.6 Cơ cấu theo khách hàng
Việc nhóm các hoạt động phải chịu sự quan tâm trước hết về người tiêu thụ là
điều có thể tìm thấy ở rất nhiều doanh nghiệp, khách hàng là khoá để phân chia các
hoạt động theo nhóm. Các chủ doanh nghiệp và các nhà quản lý hay sắp xếp các hoạt
a Hoàn thiện cơ cấu quản lý: theo hướng vừa đảm bảo sự phù hợp giữa bộ
phận quản lý và bộ phận bị quản lý. Vừa gọn nhẹ, tránh lãng phí chi phí lao động và
chi phí quản lý, tạo điều kiện nhằm phát huy tối đa tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm
và năng động cao trong các khâu của quá trình sản xuất lưu thông.
Hiện nay trên thế giới xu hướng hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý là
giảm bớt số cấp quản lý trong doanh nghiệp. Chuyển từ cơ cấu quản lý theo tuyến
dọc, có nhiều nấc trung gian sang tuyến ngang ít nấc hơn.
b Hoàn thiện phân công và hiệp tác lao động giữa các bộ phận quản lý
Các phòng ban chức năng là những bộ phận bao gồm các nhân viên quản lý về
kinh tế, kỹ thuật, hành chính được chuyên môn hóa theo các chức năng quản lý, có
nhiệm vụ tham mưu cho ban giám đỗc trong quá trình theo dõi, quản lý sản xuất
kinh doanh.
Các phòng chức năng vừa hoàn thiện tốt nhiệm vụ được giao vừa phối hợp với
các phòng ban khác nhằm đảm baỏ cho các bộ phận trong doanh nghiệp hoạt động
nhịp nhàng, ăn khớp và đồng bộ.
Trong điều kiện cơ chế quản lý đổi mới, các doanh nghiệp có quyền quyết định
tổ chức các phòng ban theo hướng gọn, nhẹ, chuyên tinh và có chất lượng.
Căn cứ vào chức năng quản lý và bố trí sắp xếp cơ cấu bộ máy của doanh
nghiệp. Số lượng các phòng chức năng tuỳ thuộc vào quy mô, loại hình sản xuất của
doanh nghiệp, có thể sắp xếp một số chức năng có liên quan đến vào một phòng
chức năng.
Quy định rõ ràng chức năng phạm vi quyền hạn của từng phòng nhằm tránh
tình trạng chồng chéo các chức năng, nâng cao hiệu lực quản lý.
Số lượng cán bộ nhân viên trong phòng phải được xác định chính xác, có căn
cứ khoa học nhằm đảm bảo hoàn thành nhiệm vụ được giao.
c. Hoàn thiện tổ chức phục vụ nơi làm việc
Nơi làm việc là một phần diện tích và không gian sản xuất được trang bị các
cam, vàng) có tác dụng hoạt động của cơ thể, tăng khả năng làm việc. Những màu
sắc "lạnh" (xanh, xanhlá cây, da trời) làm người ta yên tâm và đôi khi ức chế hoạt
động.
Phòng làm việc nên quét màu xanh nhạt hoặc vàng tươi. Quanh khu làm việc
nên có nhiều cây xanh vừa lọc sạch không khí, vừa giảm sự mệt mỏi về thần kinh và
thị giác.
Tiếng ồn :
Đối với hoạt động lao động quản lý, vấn đề chống tiếng ồn đặc biệt quan trọng
vì hoạt động trí óc đòi hỏi phải được yên tĩnh và tập trung tư tưởng. Các biện pháp
chống tiếng ồn bao gồm :
- Biện pháp về tổ chức : Đưa các máy móc phát sinh tiếng ồn ra khỏi khu làm
việc và tập trung chúng lại thành những trung tâm riêng, bố trí các nơi làm việc phải
thường xuyên tiếp khách, đàm thoại vào một khu riêng, bố trí hợp lý các dòng công
việc, lối đi lại …
- Biện pháp chống tiếng ồn trên đường lan truyền sử dung các loại máy có bộ
phận tăng âm, phủ tường và trần bằng lớp vật liệu hút âm, sử dụng các vách ngăn
lửng hút âm tại những nơi làm việc phát ra tiếng ồn.
e. Có kế hoạch nâng cao chất lượng đội ngũ quản lý
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp có thể đào tạo
nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý dưới hai hình thức :
Đào tạo tại chỗ : Để có thể khai thác hết khả năng làm việc của người lao
động, doanh nghiệp có thể mở những lớp huấn luyện nghiệp vụ ngoài giờ hành chính
cho cán bộ công nhân viên.
Đào tạo ngoài doanh nghiệp : Có các hình thức
- Cử một số nhân viên ưu tú ra nước ngoài tìm hiểu, nghiên cứu, trao đổi thêm
kiến thức.
- Gửi các nhân viên tới các cơ sở đào tạo trong nước theo học các lớp đại học
giao quản lý, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực được giao,thực hiện quyền và nghĩa
vụ của doanh nghiệp Nhà nước .
Tuỳ theo quy mô hoạt động và vị trí quan trọng mà Tổng công ty Nhà nước
thành lập hoặc không thành lập công ty tài chính và các doanh nghiệp thành viên.
Cơ cấu Tổng công ty Nhà nước có thể có các đơn vị thành viên như sau :
- Đơn vị thành viên hạch toán độc lập .
- Đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc .
- Đơn vị sự nghiệp .
1.2 Đặc điểm của Tổng công ty Nhà nước
Với tính chất là một doanh nghiệp Nhà nước, Tổng công ty Nhà nước mang
đầy đủ đặc điểm của doanh nghiệp Nhà nước nói chung nhưng với tính chất là một
doanh nghiệp Nhà nước đặc biệt nên Tổng công ty Nhà nước có những đặc điểm
riêng đó là :
- Tổng công ty Nhà nước thành lập và hoạt động trên cơ sở liên kết nhiều đơn
vị thành viên có quan hệ gắn kết với nhau trong kinh doanh nhằm tăng cưòng khả
năng kinh doanh của các đơn vị thành viên và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội được Nhà nước giao .
- Tổng công ty Nhà nước là một pháp nhân kinh tế có các thành viên là các
đơn vị hạch toán độc lập, các đơn vị hạch toán phụ thuộc và các đơn vị sự nghiệp.
Trong Tổng công ty Nhà nước có thể có công ty Tài chính là đơn vị thành viên, có
các đơn vị hạch toán độc lập, các đơn vị hạch toán phụ thuộc, các đơn vị sự nghiệp
không trực tiếp kinh doanh .
Đơn vị thành viên của Tổng công ty Nhà nước có tên và con dấu riêng được
mở tài khoản tại Ngân hàng phù hợp với phương thức hạch toán của Tổng công ty
Nhà nước . Các đơn vị thành viên được tổ chức hoạt động theo điều lệ riêng của Hội
đồng quản trị Tổng công ty phê chuẩn, phù hợp với các quy định của pháp luật và
điều lệ của Tổng công ty Nhà nước .
2 Thẩm quyền kinh tế của Tổng công ty Nhà nước
Thẩm quyền của Tổng công ty Nhà nước thực chất đó là quyền và nghĩa vụ của
Tổng công ty Nhà nước đối với các đơn vị thành viên của Tổng công ty và trên cơ sở
đào tạo hoặc nghiên cứu khoa học, phục trực tiếp cho nhu cầu của Tổng công ty và
các ngành, trường đào tạo quản lý kinh tế chuyên ngành, Viện Nghiên cứu khoa học
và công nghệ, bệnh viện …
Các đơn vị sự nghiệp thực hiện chế độ lấy thu bù chi được tạo nguồn thu từ
việc thực hiện các dịch vụ, các hợp đồng nghiên cứu khoa học và đào tạo với các
đơn vị trong và ngoài Tổng công ty. Hoạt động của các đơn vị sự nghiệp theo quy
chế do Hội đồng quản trị Tổng công ty phê chuẩn .
3 Tổ chức quản lý và điều hành Tổng công ty Nhà nước
3.1 Quản lý Tổng công ty Nhà nước
Theo điều 29 Luật doanh nghiệp Nhà nước thì Hội đồng quản trị Tổng công ty
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý hoạt động của doanh nghiệp, chịu trách
nhiệm trước Nhà nước (người bổ nhiệm) và trước pháp luật về sự phát triển của
doanh nghiệp Nhà nước theo các mục tiêu kinh tế xã hội mà Nhà nước giao .
Hội đồng quản trị Tổng công ty Nhà nước gồm Chủ tịch hội đồng quản trị,
Tổng giám đốc và một số ủy viên Hội đồng quản trị. Chủ tịch Hội đồng quản trị là
thành viên chuyên trách, các thành viên khác có thể là người kiêm nhiệm. Chủ tịch
Hội đồng quản trị trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng không được kiêm nhiệm chức
danh Tổng giám đốc.
Điều 30 Luật Doanh nghiệp Nhà nước quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội
đồng quản trị Tổng công ty Nhà nước như sau :
- Nhận vốn, đất đai, tài nguyên và nguồn lực khác do Nhà nước giao cho doanh
nghiệp .
- Trình Thủ tướng cơ quan thành lập doanh nghiệp phê duyệt điều lệ doanh
nghiệp, chiến lực quy hoạch, kế hoạch phát triển dài hạn, kế hoạch 5 năm từ các
doanh nghiệp Nhà nước quan trọng do Thủ tướng chính phủ quyết định.
- Trình Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ tướng chính phủ ủy quyền
bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng , kỉ luật Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc doanh
điều kiện vật chất cho hoạt động của ban kiểm soát do doanh nghiệp bảo đảm.
3.3 Điều hành Tổng công ty Nhà nước
Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc do Thủ tướng Chính phủ hoặc người được Thủ
tướng Chính phủ ủy quyền quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Hội
đồng quản trị .
Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc là đại diện pháp nhân cho doanh nghiệp (đại
diện theo pháp luật) và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị, người ra quyết
định bổ nhiệm, chịu trách nhiệm trước pháp luật về điều hành hoạt động của doanh
nghiệp. Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc là người có quyền điều hành cao nhất trong
doanh nghiệp .
3.4 Bộ máy giúp việc quản lý và điều hành
Phó Tổng Giám đốc hoặc Phó Giám đốc điều hành doanh nghiệp theo phân
công và ủy quyền của Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc, chịu trách nhiệm trước Tổng
Giám đốc hoặc Giám đốcvà trước pháp luật về nhiệm được Tổng Giám đốc hoặc
Giám đốc phân công và ủy quyền.
Kế toán trưởng giúp Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc doanh nghiệp chỉ đạo, tổ
chức theo quy định của pháp luật.
Văn phòng và các phòng ban chuyên môn nghiệp vụ, tổ chuyên môn giúp Hội
đồng quản trị có chức năng tham mưu, giúp việc Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc
hoặc Giám đốc trong quản lý điều hành hoạt động doanh nghiệp .
điều hành và các đơn vị thành viên. Tổng công ty có con dấu mẫu quy định của nhà
nước, tự chịu trách nhiệm hữu hạn về tài sản trong phạm vi số vốn do nhà nước giao
cho quản lý và sử dụng, được mở tài khoản đồng Việt Nam và ngoại tệ tại các ngân
hàng trong và ngoài nước theo quy định của pháp luật.
Tổng công ty Thép Việt Nam có tên giao dịch quốc tế là: VIETNAMSTEEL -
CORPORATION, tên viết tắt là: VSC. Địa chỉ: 91 Láng Hạ, Quận Đống Đa, Thành
phố Hà Nội.
Trong những năm đầu hoạt động Tổng công ty Thép Việt Nam đã chú trọng
đầu tư, đổi mới công nghệ tăng sản lượng công nghiệp đảm bảo nhu cầu của nền
kinh tế, đồng thời thực hiện tốt vai trò bình ổn giá cả thị trường thép trong cả nước. Dưới đây là bảng biểu sản lượng sản xuất Thép trong 3 năm: 1998, 1999,
2000.
Các chỉ tiêu Đơn vị Năm 1998 Năm 1999 Năm 2000
I. Khối sản xuất
1. Giá trị SXCN Tr. đồng 1.875.182 1.901.736 2.1436.032
2. Tổng doanh thu Tr. đồng 2.108.461 2.109.910 2.318.924
3. Sản lượng Thép cán Tấn 464.300 465.385 523.583
II. Khối lưu thông
1. Tổng doanh thu Tr. đồng 3.345.38 3.422.632 3.929.299
2. Khối lượng hàng hóa bán ra Tấn 749.3 00 761.543 782.146
III. Lao động tiền lương
doanh lớn của Nhà nước. Mục tiêu của TCTTVN là xây dựng và phát triển mô hình
tập đoàn kinh doanh đa nghành trên cơ sở sản xuất kinh doanh Thép làm nền tảng.
TCTTVN có những chức năng, nhiệm vụ sau:
- Khai thác quặng sắt, than mỡ, nguuyên liệu trợ dụng phục vụ cho công nghệ
luyện kim.
- Sản xuất gang, thép và các kim loại sản phẩm thép;
- Kinh doanh sản xuất nhập khẩu thép, vật tư thiết bị và dịch vụ liên quan đến
công nghệ luyện kim như nguyên liệu, vật liệu, đầu vào, các sản phẩm thép, trang
thiết bị luyện kim, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật.
- Thiết kế, chế tạo, thi công trang thiết bị công trình luyện kim và xây dựng dân
dụng;
- Kinh doanh khách sạn, nhà hàng ăn uống, xăng dầu, mỡ ga, dịch vụ và vật tư
tổng hợp khác;
- Đào tạo, nghiên cứu khoa học công nghệ phục vụ nghành công nghiệp luyện
kim và lĩnh vực sản xuất kim loại, vật liệu xây dựng;
- Đầu tư, liên doanh, liên kết, kinh tế với các đối tác trong nước và ngoài nước;
- Xuất khẩu lao động.
Bên cạnh, phạm vi chức năng, nhiệm vụ hoạt động kinh doanh được nhà nước
giao, TCTTVN còn được Nhà nước giao cho thực hiện nhiệm vụ quan trọng là cân
đối sản xuất thép trong nước chưa sản xuất được để bình ổn giá cả thị trường thép
trong nước, bảo toàn và phát triển vốn Nhà nước giao, tạo việc làm và đảm bảo đời
sống cho người lao động.
II Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và điều hành của Tổng công ty Thép Việt
Nam
1 Giới thiệu về bộ máy quản lý và điều hành của TCTTVN
Bộ máy quản lý và điều hành TCT được tổ chức theo quy định của Luật Doanh
nghiệp Nhà nước và Điêù lệ TCT do Chính phủ phê chuẩn.
Sơ đồ tổ chức quản lý, điều hành của TCTTVN