TIỂU LUẬN:Biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm trong quá trình hội nhập ở Công ty bánh kẹo Hải Hà - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Biện pháp nâng cao chất lượng sản
phẩm trong quá trình hội nhập ở
Công ty bánh kẹo Hải Hà
Mở Đầu

Trong xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá, canh tranh trên thị trường ngày càng
gay gắt, chất lượng sản phẩm và dịch vụ là yếu tố quyết định sự thành công hay thất bại
của Công ty cũng như quốc gia trên thị trường thế giới.Bất kỳ doanh nghiệp nào cũng
chịu ảnh hưởng của xu thế biến động đó, Một mặt tạo ra môi trường kinh doanh thuận
lợi cho các doanh nghiệp nắm bắt cơ hội kinh doanh mới, mặt khác cũng làm tăng thêm
tính chất gay gắt của canh tranh. Những xu thế này cũng tạo môi trường kinh doanh
hiện đại đầy biến động và phức tạp, đặt ra những thách thức mới buộc các doanh nghiệp
phải không ngừng nâng cao khả năng cạnh tranh, nâng cao chất lượng sản phẩm,và chất
lượng sản phẩm ngày nay đã trở thành một trong những vũ khí cạnh tranh hàng đầu của
doanh nghiệp .


Phần Thứ nhất.

Nâng cao chất lượng sản phẩm là điều kiện
tiên quyết để tăng năng lực cạnh tranh
của doanh nghiệp

I. Những nhận thức cơ bản về chất lượng sản phẩm của doanh nghiệp
Chất lượng sản phẩm là một phạm trù rất rộng và phức tạp phản ánh các nội dung

tồn tại trong một môi trường vừa bình đẳng vừa cạnh tranh hết sức khốc liệt và phải
thoả mãn nhu cầu, suy cho cùng tiêu thụ sản phẩm là yếu tố sống còn quyết định sự tồn
tại của doanh nghiệp. Chính vì vậy ở những góc độ nhìn nhận khác nhau có nhiều quan
niệm khác nhau về chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm tiếp cận theo hướng khách hàng: Là các đặc tính của sản
phẩm, phù hợp với yêu cầu của khách hàng có khả năng thoả mãn nhu cầu của khách
hàng.
Chất lượng sản phẩm tiếp cận theo hướng nhà sản xuất: Là tập hợp đặc tính của kỹ
thuật công nghệ và vận hành sản phẩm đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng khi sử
dụng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm tiếp cận theo quan điểm ISO (Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc
tế): "Là đặc tính của thực thể tạo cho thực thể đó khả năng thoả mãn nhu cầu đã nêu
hoặc nhu cầu tiềm ẩn.
Chất lượng sản phẩm trong nền kinh tế thị trường được coi là đặc tính nội tại của
sản phẩm được xác định bằng những thông số có thể đo được hoặc không so sánh được
phù hợp với điều kiện kinh tế kỹ thuật hiện đại và thoả mãn được những nhu cầu nhất
định của xã hội.
Ngày nay chất lượng sản phẩm được hiểu một cách đầy đủ và toàn diện, gắn liền
với yếu tố giá cả và dịch vụ sau bán hàng. Ngoài ra vấn đề giao hàng đúng lúc đúng thời
hạn cũng trở nên vô cùng quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Khi các phương pháp

sản xuất vừa đúng lúc sản xuất không qua kho ngày càng trở lên phổ biến tại các công
ty hàng đầu - chất lượng sản phẩm đang dần phát triển đến hình thái mới là chất lượng
tổng hợp phản ánh một cách trung thực trình độ quản lý của mỗi doanh nghiệp thông
qua 4 yếu tố chính được thể hiện trong mô hình sau:
Mô hình 1: Mô hình quản lý chất lượng sản phẩm

là hết, mà nó còn phụ thuộc vào việc chất lượng sản phẩm đó có được người tiêu dùng
chấp nhậ không thông qua các thông tin phản hồi từ khách hàng về sản phẩm đó
Trình độ quản lý chất lượng sản phẩm của mỗi người, doanh nghiệp được phản
ánh một cách trung thực thông qua việc thực hiện 4 yếu tố trên
2. Phân loại chất lượng sản phẩm.
Chất lượng sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, một đại lượng phức tạp. Do vậy
với các căn cứ khác nhau có các cách phân loại khác nhau.
2.1. Căn cứ mục đích công dụng của sản phẩm.
Chất lượng thị trường: Là chất lượng bảo đảm thoả mãn nhu cầu của thị trường,
mong đợi của người tiêu dùng.
Chất lượng thị hiếu: Là chất lượng phù hợp với ý thích sở trường của người tiêu
dùng.
Chất lượng thành phần: Là mức chất lượng có thể thoả mãn nhu cầu của một số
người hay nhóm người nhất định.
Với cách phân loại này giúp doanh nghiệp có những chiến lược cụ thể hướng tới
việc hoàn thiện loại chất lượng nào mà phù hợp với điều kiện doanh nghiệp có thể thực
hiện được.
Qua đó doanh nghiệp có những biện pháp cụ thể để đi sâu vào loại chất lượng nào
mà doanh nghiệp cho là cần thiết yêu cầu cao nhất là doanh nghiệp phải thoả mãn được
cả 3 loại chất lượng nói trên. Nhưng trong thực tế thì doanh nghiệp chỉ thoả mãn được
một số loại chất lượng nhất định.
2.2. Căn cứ theo hệ thống quản lý chất lượng ISO - 9000 chất lượng sản phẩm
được chia thành:
Chất lượng thiết kế: Là giá trị riêng của các thuộc tính được phác thảo ra trên cơ
sở nghiên cứu, trắc nhiệm của sản xuất và tiêu dùng. Đồng thời sánh với các mặt hàng
tương tự của nhiều nước. Chất lượng thiết kế được hình thành ở giai đoạn đầu của quá
trình hình thành chất lượng sản phẩm.


Nhóm chỉ tiêu không thể so sánh được:
Nhóm chỉ tiêu có thể so sánh được:
3.1. Nhóm chỉ tiêu không thể so sánh được: áp dụng cho từng loại sản phẩm
thích hợp. Đối với sản phẩm là máy móc thiết bị: có thể sử dụng các chỉ tiêu mà dùng
để xác định chất lượng sản phẩm có giá trị sử dụng lâu năm.
Chỉ tiêu về độ bền: Là khoảng thời gian từ khi sản phẩm được hoàn thành đến khi
sản phẩm không còn sử dụng hay vận hành được nữa.
Chỉ tiêu độ tin cậy: Là sự ổn định của các đặc tính sử dụng của sản phẩm là khả
năng của sản phẩm hoặc dịch vụ có thể tiếp tục đáp ứng các yêu cầu của người tiêu
dùng.
Chỉ tiêu công nghệ: Là những chỉ tiêu đặc trưng, cho phương pháp và quy trình
sản xuất nhằm tiết kiệm yếu tố vật chất trong quá trình sản xuất.
Chỉ tiêu công dụng: Đặc trưng cho các thuộc tính xác định chức năng chủ yếu
của sản phẩm, quy định giá trị sử dụng của sản phẩm.
Chỉ tiêu lao động học: Phản ánh sự thuận lợi cho người sử dụng sản phẩm.
Chỉ tiêu tiêu chuẩn hoá, thống nhất hoá: Phản ánh khả năng thay thế và lắp đặt
của sản phẩm.
Chỉ tiêu thẩm mỹ: Là chỉ tiêu phản ánh mức độ hấp dẫn truyền cảm của sản
phẩm phản ánh sự hài hoà về hình thức, nguyên vẹn về kết cấu.
Chỉ tiêu sinh thái: Phản ánh mức độ gây độc hại ảnh hưởng đến môi trường xung
quanh trong quá trình sử dụng sản phẩm.
Chỉ tiêu an toàn: Phản ánh mức độ an toàn của người tiêu dùng sản phẩm.
Chỉ tiêu kinh tế: Phản ánh chi phí thiết kế, chế tạo sản phẩm và kết quả thu được
cũng như hiệu quả kinh tế.
Đối với sản phẩm là nguyên vật liệu: Thường dùng các chỉ tiêu đặc trưng cho
tính cơ học, lý, hoá học (độ cứng, dẻo, độ cong, ) tỷ lệ tạp chất cho phép sự giảm nhẹ
và tính kinh tế của việc chế biến nguyên vật liệu.

Đối sản phẩm là hàng tiêu dùng: Đáp ứng nhu cầu ăn mặc, đi lại, văn hoá, y tế
thường dùng các chỉ tiêu độ bền chắc, độ ẩm, màu sắc, mùi vị



n
n
i
XX
n
1
1
1

Trong đó: X: Chất lượng sản phẩm tiêu chuẩn (lấy làm mẫu để so sánh)
X
i
: Chất lượng sản phẩm đem lại để sản xuất.
n: Số lượng sản phẩm đem ra so sánh.

Tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng:
Tỷ lệ sản phẩm đạt chất lượng =

Số sản phẩm đạt chất lượng
x 100%

Tổng sản phẩm
Hệ số phẩm cấp bình quân: Để phân tích thứ hạng của chất lượng sản phẩm ta sử
dụng hệ số phẩm cấp bình quân.
H =

(q
i x

1
:

sản lượng kỳ thực tế
Nếu H = 1  toàn bộ sản phẩm đều loại loại 1
Còn H càng gấp 1 thì chứng tỏ chất lượng sản phẩm càng tốt
- Giá đơn vị bình quân:
Thông thường chất lượng sản phẩm cao thì giá càng cao, do đó qua giá đơn bị bình
quân ta cũng có thể phân tích tình hình đảm bảo chất lượng sản phẩm
Công thức:
G =

(q
i x
p
i
)


q
iG: Giá bình quân
q
i
: Số lượng sản phẩm loại i
P
i
: Đơn giá sản phẩm loại i

Công thức:


n
i
qi
1
1TRi =
Gqi
Gqi
x 100%

G
qi
: Giá trị từng loại sản phẩm
G
qi
: Tổng giá trị sản lượng
Nếu tỷ trọng thực tế của thứ hạng trên thấp hơn kế hoạch thì đánh giá là chất
lượng sản xuất sản phẩm thực tế kém hơn kế hoạch
Nếu tỷ trọng thực tế của thứ hạng trên cao hơn kế hoạch thì kết luận là chất lượng
sản xuất thực tế tốt hơn kế hoạch
Trong mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu hình thành đã phải xây dựng tiêu chuẩn cho
mình căn cứ vào điều kiện nội tại của doanh nghiệp tiêu chuẩn đó phải được đăng ký
với cơ quan nhà nước có thẩm quyền xét duyệt. Đó chính là tiêu chuẩn mà doanh
nghiệp dựa vào để quyết định đưa ra sản phẩm.
II. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và quan điểm đánh giá chất


1.1.Nhóm nhân tố khách quan.
1.1.1. Nhóm nhân tố nhu cầu thị trường - khách hàng.
Ngày nay đối với bản thân doanh nghiệp nếu nói tới chất lượng thì điều đầu tiên là
xuất phát từ nhu cầu khách hàng nếu không khái niệm chất lượng sản phẩm sẽ trở nên
phù phiếm.
Quá trình chuẩn bị
sản xuất gồm: 1,
2, 3, 4

Quá trình sản xuất
gồm: 5, 6
Quá trình lưu
thông, phân phối
g
ồm: 7, 8, 9

Quá trình sau sản
xuất gồm: 10, 11

Việc sản xuất cái gì bán cho ai tức là đầu tiên doanh nghiệp phải nghiên cứu nhu

kiện tự nhiên có ảnh hưởng việc bảo quản và nâng cao chất lượng sản phẩm nó ảnh
hưởng đặc tính lý hoá của sản phẩm. Khí hậu thời tiết các hiện tượng tự nhiên như gió
mưa ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng các nguyên vật liệu dự trữ tại các kho hàng
bến bãi, ảnh hưởng đến hiệu quả vận hành máy móc thiết bị (Nhất là đối với máy móc
vận hành ngoài trời). Khí hậu nóng ẩm cũng làm cho độ ẩm của sản phẩm tăng lên tạo
điều kiện cho vi sinh vật hoạt động làm ảnh hưởng đến hình thức, chất lượng sản phẩm
nhất là đối với sản phẩm về ngành sản xuất thực phẩm, hàng tiêu dùng sản phẩm nông
lâm nghiệp.
1.1.5. Phong tục tập quán thói quen tiêu dùng.
- Đời sống xã hội, thói quen, sở thích trong tiêu dùng, đối với mỗi quốc gia mỗi
vùng khác phụ thuộc vào thu nhập trình độ học vấn, môi trường sống, yếu tố phong tục
văn hoá đòi hỏi doanh nghiệp phải phân đoạn thị trường trên cơ sở nghiên cứu kỹ các
nhân tố trên từ đó xác định đối tượng khách hàng và sản phẩm của mình phục vụ với
chất lượng đáp ứng được trình độ của mình phục vụ tiêu dùng của họ.
Nhìn chung khi nền kinh tế ngày càng phát triển đời sống ngày càng nâng cao thì
văn minh và thói quen tiêu dùng đòi hỏi ở mức độ cao hơn do vậy chất lượng sản phẩm,
ngày càng hoàn thiện và nâng cao để đáp ứng sự thay đổi đó
1.2 Nhóm nhân tố chủ quan.
Là nhóm các nhân tố thuộc môi trường bên trong của doanh nghiệp gắn liền với
điều kiện của từng doanh nghiệp" lao động, máy móc thiết bị công nghệ, trình độ quản
lý nhiên nguyên vật liệu. Các nhân tố này ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sản phẩm
của doanh nghiệp,.
1.2.1. Trình độ lao động của doanh nghiệp.
Là nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm trình độ lao động được phản ánh
thông qua trình độ chuyên môn kỹ năng tay nghề kinh nghiệm. ý thức trách nhiệm của
mỗi lao động trong doanh nghiệp. Trình độ của lao động được đánh giá bằng sự hiểu
biết nắm vững phương pháp và quy trình công nghệ hiểu rõ các tình huống tác dụng của

máy móc thiết bị, nguyên vật liệu chấp hành đúng quy trình phương pháp công nghệ và
các điều kiện đảm bảo an toàn lao động.

Chất lượng sản phẩm cao hay thấp phụ thuộc vào chất lượng nguyên vật liệu chế
biến. Nếu chất lượng nguyên vật liệu tốt cung cấp đáp ứng đủ kịp thời về số lượng và
chủng loại theo yêu cầu tiêu chuẩn đã quy định sẽ đảm bảo chất lượng sản phẩm tốt.
Ngược lại chất lượng sản phẩm kém cung cấp không đúng số lượng, chủng loại sẽ ảnh
hưởng không tốt trong sản xuất chất lượng sản phẩm kém.
Nguyên vật liệu là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm và
phấn đấu hạ giá thành sản phẩm nên doanh nghiệp phải đặc biệt quan tân đến nhân tố
này. Phải kiểm tra chặt chẽ nguyên vật liệu khi mua nhập kho trước khi USC và đưa vào
sản xuất theo đúng yêu cầu đặt biệt là phải có chế độ bảo quản thích hợp tránh những
ảnh hưởng có hại của môi trường như nhiệt độ độ ẩm nước. Tránh không để nguyên vật
liệu bị xuống cấp ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
1.2.4. Nhân tố thuộc về trình độ tổ chức, quản lý.
Trình độ quản lý nói chung và quản lý chất lượng nói riêng là một trong những
nhân tố cơ bản góp phần cải tiến hoàn thiện chất lượng sản phẩm. Thực tế sự ra đời
của hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000 đã khẳng định vai trò và
tầm quan trọng của yếu tố quản lý hệ thống này đã nhấn mạnh vai trò và tầm quan
trọng của yếu tố quản lý trong quá trình tạo ra một sản phẩm không chỉ trong giai
đoạn sản xuất mà từ khi cung ứng các yếu tố đầu vào thiết kế sản phẩm cho đến khi
thực hiện các dịch vụ sau bán. Các yếu tố như nguyên vật liệu máy móc thiết bị lao
động cho dù ở trình độ cao nhưng không được tổ chức một cách hợp lý, phối hợp
đồng bộ nhịp nhàng giứa các khâu các yếu tố đó sản xuất thì cũng rất khó có thể tạo
ra những sản phẩm có chất lượng cao mà có thể gây ra thất thoát lãng phí nguồn vốn.
Như vậy công tác tổ chức sản xuất và lựa chọn phương pháp tổ chức sản xuất trong
doanh nghiệp cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng sản phẩm.
Sơ đồ 2 : Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm . Cơ chế
qu
ản lý

hơn.
Do vậy khi đánh giá chất lượng sản phẩm. Phải dựa trên quan điểm lịch sử và biện
chứng. Phải xem xét và hiện tại và quá khứ dự đoán được xu hướng phát triển của sản
phẩm.
2.3. Quan điểm dân tộc hiện đại: Tính dân tộc được thể hiện ở truyền thống tiêu
dùng. Có những sản phẩm rất được ưa chuộng ở thị trường này địa phương này nhưng ở
nơi khác thì ngược lại doanh nghiệp sản xuất phải quan tâm đặc biệt tới truyền thống
Vật tư-
NVL

MMTB


Con
ngư
ời

CLSP

Tổ chức quản
lý dân tộc thói quen tiêu dùng của khách hàng. Tính dân tộc ở đây không mâu thuẫn mà
ngược lại nó gắn liền và phù hợp với tính thời đại.
2.4. Quan điểm hợp lý: Nếu doanh nghiệp đầu tư lớn làm tăng chất lượng sản
phẩm nhưng chi phí cho một đơn vị sản phẩm qúa lớn dẫn đến giá thành cao gây khó
khăn cho tiêu thụ sản phẩm. Trong trường hợp này tăng chất lượng sẽ không đạt hiệu
quả kinh tế cao. Nhưng ngược lại chất lượng thấp sẽ ảnh hưởng đến tiêu thụ.
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính nhưng không phải cộng dồn các

Mặc dù còn tồn tại nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý chất lượng song nhìn
chung có nhiều điểm tương đồng vì vậy có thể khái quát hoá nó bằng định nghĩa sau.
" Quản lý chất lượng là một hệ thống các hoạt động các biện pháp và quy định
hoàn chỉnh xã hội, kinh tế, kỹ thuật dựa trên những thành tựu của khoa học kinh doanh
nhằm sử dụng tối ưu các tiềm năng đảm bảo, duy trì và không ngừng nâng cao chất
lượng nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của xã hội với chi phí thấp nhất.
1. Một số mô hình quản lý chất lượng:
1.1. Mô hình quản lý chất lượng đồng bộ (TQM - Total Quality Managenmen)
1.1.1. Khái niệm quản lý chất lượng đồng bộ (TQM): Là cách tổ chức quản lý
của một doanh nghiệp tập trung về chất lượng thông qua việc động viên thu hút toàn bộ
các thành viên tham gia tích cực vào quản lý chất lượng ở mọi cấp mọi khâu nhằm đạt
được những thành công lâu dài nhờ việc thoả mãn nhu cầu khách hàng và đem lợi ích
lâu dài cho mọi thành viên trong doanh nghiệp và cho toàn xã hội.

Mục tiêu TQM:
Mục tiêu chính của TQM là làm sao cho sản phẩm và dịch vụ được thực hiện với
chất lượng tốt đó là mục tiêu chính ngoài ra còn đạt được mục tiêu khác như giảm chi
phí, tăng năng suất, rút ngắn thời gian giao hàng Suy cho cùng cũng làm vừa lòng
khách hàng. Theo tiêu chuẩn (quản lý chất lượng sản phẩm)là: chất lượng (Quality), chi
phí Cost, giao hàng đúng hạn (Schedule):
Đặc điểm TQM:
+Coi chất lượng là mục tiêu hàng đầu, chất lượng là nhận thức của khách hàng là
người đánh giá mức độ đạt được của chỉ tiêu sản phẩm hàng hoá. Coi khách hàng là bộ
phận, là người cộng sự trong quá rình quản lý chất lượng của doanh nghiệp.
+Là một cách thức tổ chức quản lý nhằm tổ chức sản xuất và cung ứng các sản
phẩm dịch vụ với mục tiêu tốt hơn, nhanh hơn, rẻ hơn và an toàn hơn trong quá trình sử
dụng.
+Lấy con người là trung tâm, coi con người là nhân tố cơ bản, yếu tố quyết định
trong qúa trình quản lý. Trong hệ thống quản lý chất lượng TQM. Mọi người đều có vai
trò quan trọng chất lượng trong việc quản lý muốn cho mọi người hiểu được điều này

động dịch vụ và vạch ra những hoạt động cần thiết có liên quan đến chất lượng trên cơ
sở thiết lập các đồ thị lưu hình.
+Thiết lập chất lượng: Là tổng hợp các hoạt động nhằm xác định nhu cầu, triển
khai gì thoả mãn nhu cầu, kiểm tra sự phù hợp nhu cầu đảm bảo nhu cầu được thoả
mãn.
+Xây dựng hệ thống quản lý: Là một hệ thống cấp I có liên quan đến thiết kế sản
xuất hoặc thao tác và lắp đặt được áp dụng khi khách hàng, định rõ hàng hoá hoặc dịch
vụ phải hoạt động như thế nào chứ không phải nói theo thuật ngữ kỹ thuật được xác
định.
+Kiểm tra chất lượng: Là việc sử dụng các công cụ thống kê để kiểm tra sau quy
trình có được kiểm soát, có đáp ứng các yêu cầu hay không.

+Hợp tác về chất lượng: là nhóm người cùng làm hoặc một số công việc giống
nhau một cách tự nguyện, đều đặn nhằm xác minh phân tích và giải quyết những vấn đề
liên quan đến công việc và kiến nghị những giải quyết cho ban quản lý.
+Đào tạo huấn luyện về chất lượng: Là quá trình lập kế hoạch và tổ chức triển khai
các nội dung đào tạo và huấn luyện cho cấp lãnh đạo cao nhất. Đến nhân viên mới nhất
và người đã làm việc lâu năm. Hiểu rõ trách nhiệm cá nhân mình để đáp ứng yêu cầu
của khách hàng.
+Thực hiện TQM: Chính là quá trình triển khai và thực hiện các nội dung đã trình
bày ở trên.
1.2. Mô hình quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000.
Bộ tiêu chuẩn ISO 9000 do tổ chức quốc tế về tiêu thức vào năm 1987 ISO được
đề cập đến các lĩnh vực chủ yếu trong quản lý chất lượng. Chính sách và chỉ đạo về chất
lượng, nghiên cứu thị trường, thiết kế và triển khai sản phẩm, cung ứng và kiểm soát
quá trình, bao gói, phân phối, dịch vụ sau bán xem xét đánh giá nội bộ, kiểm soát tài
liệu, đào tạo
ISO 9000 tập hợp các kinh nghiệm quản lý chất lượng tốt nhất đã được thực hiện
trong nhiều quốc gia và trên thế giới và khu vực đồng thời được chấp nhận thành nhiều
tiêu chuẩn quốc gia của nhiều nước. Tại Việt Nam tổng cục tiêu chuẩn - đo lường - chất

doanh nghiệp phải xác định cho đơn vị mình một hệ thống chỉ tiêu phù hợp. Nêú Công
ty xác định hệ thống chỉ tiêu không thích hợp thì việc quản lý chất lượng không đồng
bộ và đạt hiệu quả không cao.
Hệ thống chỉ tiêu đánh giá chất lượng sản phẩm gồm hai loại chỉ tiêu chính là:
Các chỉ tiêu có thể so sánh được.
Các chỉ tiêu không thể so sánh được.
Các chỉ tiêu có thể so sánh được: Là các chỉ tiêu có thể tính toán được dựa trên cơ
sở của các số liệu điều tra được từ hoạt động sản xuất kinh doanh trong Công ty. Điều
chỉnh chỉ tiêu: tỷ lệ sai hỏng, độ chênh lệch, tỷ lệ sản xuất đạt chất lượng, hệ số phẩm
chất bình quân.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status