TIỂU LUẬN: Chiến lược sản phẩm cho khách hàng công nghiệp tại Công ty Nhựa cao cấp Hàng Không - Pdf 12



TIỂU LUẬN:

Chiến lược sản phẩm cho khách
hàng công nghiệp tại Công ty Nhựa
cao cấp Hàng Không

Lời Mở Đầu

Kinh tế thị trường càng phát triển cạnh tranh càng trở nên gay gắt, quyết liệt
hơn. Cạnh tranh vừa là công cụ để chọn lựa vừa là công cụ đào thải các doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh trên thị trường. Các doanh nghiệp hoạt động trong môi
trường kinh doanh luôn biến động cùng nhiều cơ hội và nguy cơ tiềm ẩn với mức
độ cạnh tranh khốc liệt nhất. Vì thế để giữ vững và nâng cao vị thế của doanh
nghiệp trên thị trường, đòi hỏi doanh nghiệp phải luôn có biện pháp tiếp cận thị
trường một cách có chủ động, phù hợp và sẵn sàng đối phó với mọi nguy cơ, đe
doạ cũng như áp lực cạnh tranh trên thị trường. Để làm được điều này, doanh
nghiệp phải thực hiện sản xuất kinh doanh theo định hướng thị trường, phải ứng


Chương I
Khái quát về marketing và chiến lược sản phẩm trong hoạt động kinh
doanh
I. Khái quát về marketing
Marketing là một quá trình quản lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá
nhân và tập thể có được những gì họ cần và mong muốn thông qua việc tạo ra,
chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá trị với những người khác.
Muốn biết được khách hàng thích gì cần gì? người làm marketing cần
phải tìm hiểu nhu cầu mong muốn của người tiêu dùng ngoài ra cần phải tìm
hiểu về giá trị mà sản phẩm mang lại, chi phí của khách hàng bỏ ra mua sản
phẩm có thoả mãn và phù hợp với giá trị mà khách hàng bỏ ra hay không.
Chính vì thế người làm marketing cần phải hiểu rõ từng khái niệm sau đây:
* Khái niệm nhu cầu, mong muốn và yêu cầu:
+ Nhu cầu: của con người là một trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự
thoả mãn cơ bản nào đó. Người ta cần có thức ăn quần áo, nơi ở, sự an toàn,
của cải, sự quý trọng và một vài thứ nữa để tồn tại. Những nhu cầu này không
phải do xã hội và người làm marketing tạo ra, mà người làm marketing chỉ là

người khám phá ra những nhu cầu để các nhà sản xuất sản xuất ra những sản
phẩm, dịch vụ đáp ứng nhu cầu của con người.
+ Mong muốn: Là sự ao ước có được những gì cụ thể để thoả mãn
những nhu cầu sâu xa hơn đó. ở mỗi một xã hội khác nhau, điều kiện sống
cũng khác nhau bởi vậy mong muốn cũng thường rất khác nhau.
+ Yêu cầu: Mong muốn được hưởng những sản phẩm cụ thể được hậu
thuẫn của khả năng và thái độ sẵn sàng mua chúng. Mong muốn trở thành yêu
cầu khi có sức mua hỗ trợ.
* Sản phẩm: Theo marketing thì sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đem
chào bán để thoả mãn nhu cầu hay mong muốn. ý nghĩa quan trọng của sản
phẩm vật chất bắt nguồn không phải chủ yếu từ việc sở hữu chúng, mà chính

được những ảnh hưởng có lợi cho khách hàng mục tiêu:
Các bộ phận của marketing hỗn hợp được biết đến như là 4P:
+ Chiến lược sản phẩm
+ Chiến lược giá cả
+ Chiến lược phân phối
+ Chiến lược xúc tiến khuyếch trương
- Chiến lược giá cả: là việc xác định các mục tiêu của chiến lược giá,
lựa chọn các phương pháp định giá, chiến lược giá của công ty.
Doanh nghi
ệp

Thị
trường -
khách
Marketing
-

mix

P4

P2

P1

1. Vai trò của marketing trong hoạt động kinh doanh

Nhận định về vai trò của marketing, nhiều nhà kinh doanh nổi tiếng đưa
ra những ý kiến khác nhau:
Theo Rey Corey: "Marketing bao gồm mọi hoạt động mà công ty sử
dụng để thích nghi với môi trường của mình một cách sáng tạo và có lợi". Còn
Peter Prucker cho rằng: "Marketing là hết sức cơ bản đến mức độ không thể
xem nó là một chức năng riêng biệt. Nó là toàn bộ các công việc kinh doanh
dưới góc độ kết quả cuối cùng, tức là dưới góc độ khách hàng. Thành công
trong kinh doanh không phải do người sản xuất mà do chính khách hàng quyết
định".
Các ý kiến tuy có khác nhau về mặt này hay mặt khác nhưng cùng
chung một quan điểm cho rằng marketing liên quan đến mọi hoạt động của
doanh nghiệp, từ thị trường các yếu tố đầu vào như nguyên vật liệu, lao động,
vốn đến các thị trường đầu ra là các khách hàng của công ty. Trên thực tế,
quản trị marketing bao gồm những nhiệm vụ, những con người liên quan đến
thị trường khách hàng là chủ yếu. Tuy vậy một quan niệm phiến diện về vai
trò và nhiệm vụ của marketing là kích thích nhu cầu có khả năng thanh toán
những sản phẩm của công ty là hoàn toàn không đầy đủ. Marketing còn có
nhiệm vụ tác động đến mức độ, thời điểm và cơ cấu nhu cầu có khả năng
thanh toán theo một cách nào đó giúp tổ chức đạt được mục tiêu.
Trong một doanh nghiệp có 4 bộ phần chức năng:
+ Sản xuất: Đóng vai trò tạo ra sản phẩm:
+ Tài chính: Làm nhiệm vụ
+ Nhân lực: Một doanh nghiệp có một nguồn nhân lực dồi dào cả về
lượng và chất thì sẽ giúp cho doanh nghiệp có được những phát minh, sáng
kiến đem lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp:
+ Marketing: Một doanh nghiệp luôn cần có hoạt động marketing, nó
giúp doanh nghiệp xây dựng được hình ảnh của mình trên thị trường, trong
tâm chí khách hàng. Việc tiêu thụ sản phẩm gần như hoàn toàn phụ thuộc vào

nhất.

3. Chiến lược sản phẩm trong phối thức marketing:
Theo dòng lịch sử phát triển của các phương thức sản xuất kinh doanh,
các doanh nghiệp ngày càng quan tâm đến chiến lược sản phẩm và đặt chiến
lược sản phẩm vào vị trí chủ đạo trong chiến lược kinh doanh của mình. Theo
các nhà kinh tế, người tiêu dùng sẽ thích những hàng hoá có chất lượng cao
nhất, tính năng sử dụng tốt nhất, vì vậy doanh nghiệp phải thường xuyên sử
dụng hàng hoá của mình.
Mặc dù đây là một hướng phát triển mạnh mẽ, song quan điểm này
nhanh chóng bộc lộ những hạn chế của nó. Người bán hàng thường bị những
quan điểm marketing thiển cận chi phí, quá yêu thích những hàng hoá của
mình đến nỗi bỏ qua nhu cầu của khách hàng. Trong thực tế, khách hàng mua,
tiêu dùng sản phẩm để giải quyết một nhu cầu nào đó, song nhu cầu có thể
được thoả mãn bằng những phương thức khác phù hợp hơn, hiệu quả hơn.
Trong vài thập kỷ qua, hầu hết các công ty đều hướng ra thị trường,
quan tâm nhiều hơn đến khách hàng, đến nhu cầu của người tiêu dùng Là
một chiến lược bộ phận, chiến lược bộ phận đảm bảo cho chiến lược tổng thể
thực hiện đúng hướng và có hiệu quả. Các nhà sản xuất phải xác định được
sản phẩm hay dịch vụ cụ thể sẽ cung cấp trên thị trường. Nếu các nhà sản xuất
kinh doanh không xây dựng được chiến lược sản phẩm đúng mà đưa ra thị
trường những sản phẩm không phù hợp với nhu cầu và mong muốn của thị
trường thì mọi nỗ lực marketing khác cũng bằng không. Không có chiến lược
sản phẩm, các chiến lược giá cả, phân phối, xúc tiến dường như không còn lý
do để tồn tại. Tác động đến các bộ phận khác trong marketing - mix, chiến
lược sản phẩm đồng thời chịu tác động ngược trở lại. Sản phẩm của công ty
khó lòng xâm nhập thị trường của công ty nếu không được định giá cạnh tranh
hay không được sự hỗ trợ linh hoạt của chiến lược giá. Nó không được khách
hàng biết đến nếu không được thông tin kịp thời. Ngay cả khi hiểu biết về sản
phẩm, thấy được nhu cầu về nó, và xác định được nhu cầu này có khả năng

thuộc vào tính chất, đặc điểm của từng loại hàng hoá cụ thể.

Về tính chất của sản phẩm: Công ty phải thu thập thông tin từ khách
hàng, ý kiến nhận xét về các đặc tính tốt xấu của sản phẩm, các đặc tính bổ
sung… trước mỗi tính chất cần ước tính chi phí và lợi ích đạt được. Đặc biệt
không thể thiếu là thông tin về mối tương quan giữa các tính chất của sản
phẩm.
- Về công dụng của sản phẩm
- Độ bền của sản phẩm: quan trọng đối với các loại của sản phẩm có
mức độ công nghệ chậm đổi mới.
- Độ tin cậy: cần thiết cho sản phẩm có mức độ phức tạp về kỹ thuật,
giá trị lớn.
- Khả năng sửa chữa: Đối với các sản phẩm có giá trị cao khả năng thay
thế thấp.
- Kiểu dáng: Phải hài hoà đẹp, bao gói được xem là công cụ tạo kiểu
dáng mạnh nhất, tuy nhiên đối với các khách hàng công nghiệp kiểu dáng và
bao gói của sản phẩm chỉ cần ở nó là sự đảm bảo cho sản phẩm không bị vỡ
hoặc bị hỏng, điều cần nhất ở sản phẩm là chất lượng cao.
- Ba cấp độ cấu thành sản phẩm:
Mỗi công ty khi xây dựng chiến lược sản phẩm phải xem xét ba cấp độ
các yếu tố cấu thành đơnvị sản phẩm hàng hoá.
- Sản phẩm cơ bản: trả lời câu hỏi về thực chất sản phẩm thoả mãn
những điểm lợi ích cốt yếu mà khách hàng theo đuổi là gì? Điều quan trọng
sống còn đối với các doanh nghiệp là nhà quản trị marketing phải nghiên cứu
tìm hiểu khách hàng để phát hiện ra những đòi hỏi về các khía cạnh lợi ích
khác nhau tiềm ẩn trong nhu cầu của họ.
- Sản phẩm hiện thực: là những yếu tố phản ánh sự có mặt thực tế trên
sản phẩm, nó thể hiện khả năng thành công trong việc cải tiến các bộ phận
khác của sản phẩm. Nhờ những yếu tố này mà nhà sản xuất khẳng định sự
hiện diện của mình trên thị trường, phân biệt hàng hoá của mình với các hãng

đạt chất lượng cao nhưng nhiều người lại không biết đến những sản phẩm của
doanh nghiệp, điều này cũng chỉ vì họ chưa xác định đúng nhu cầu của khách

hàng, chưa khám phá được nhu cầu của khách hàng, họ chỉ biết sản xuất và
sản xuất sản phẩm với chất lượng cao mà không quan tâm đến sự thoả mãn
của khách hàng. Ngược lại quan điểm marketing hiện đại bao giơ cũng tập
trung vào khách hàng nhất định gọi là thị trường mục tiêu, biết cách phối hợp
các yếu tố marketing cũng như giữa hoạt động marketing và hoạt động khác
của doanh nghiệp để tạo cho các doanh nghiệp phục vụ tốt nhất sự thoả mãn
khách hàng và đặc biệt việc tăng lợi nhuận của doanh nghiệp dựa trên cơ sở
việc tăng mức độ thoả mãn nhu cầu của khách hàng.
5.1. Các cấp độ cạnh tranh.
Ta có thể phân biệt 4 mức độ cạnh tranh căn cứ vào mức độ thay thế
của sản phẩm:
* Cạnh tranh nhãn hiệu Công ty có thể xem những Công ty khác có bán
sản phẩm và dịch vụ tương tự cho cùng một số khách hàng với giá tương tự là
các đối thủ cạnh tranh của mình. Chẳng hạn như Công ty Nhựa cao cấp Hàng
không có thể xem đối thủ cạnh tranh chủ yếu của mình là những Công ty
Nhựa Song Long, Công ty Nhựa Tiền Phong và những Công ty sản xuất đồ
Nhựa với chất lượng cao giá phù hợp. Công ty không thấy mình cạnh tranh
với một số nhà sản xuất đồ Nhựa với chất lượng thấp hơn mà giá ngang bằng
với Công ty.
* Cạnh tranh này: Công ty có thể xem một cách rộng hơn tất cả những
Công ty sản xuất cùng một loại hay một lớp sản phẩm đều là đối thủ cạnh
tranh của mình. Trường hợp này Công ty sẽ thấy mình đang cạnh tranh với tất
cả các Công ty sản xuất sản phẩm Nhựa.
* Cạnh tranh công dụng: Công ty còn có thể xem một cách rộng hơn
nữa là tất cả các Công ty sản xuất ra những sản phẩm thực hiện một dịch vụ là
đối thủ cạnh tranh của mình.
* Cạnh tranh chung: Có thể xét theo nghĩa rộng hơn nữa là tất cả công

tạo ra vị thế cạnh tranh bởi nhan viên marketing có giỏi, có năng động sáng

tạo thì các chiến lược marketing được lập ra mới có hiệu quả và đặc biệt có
thể hơn đối thủ cạnh tranh.
III. Marketing công nghiệp và chiến lược sản phẩm cho khách hàng công
nghiệp
1. Khái quát về khách hàng công nghiệp và marketing công nghiệp:
Có thể nói có nhiều loại khách hàng công nghiệp khác có loại khách
hàng công nghiệp là các Công ty sản xuất văn phòng phẩm, Công ty chế biến
thực phẩm
Mỗi loại khách hàng này cần phải có một hình thức marketing khác
nhau. Ví dụ đối với Công ty chế biến thực phẩm hoạt động marketing hướng
vào sản phẩm với độ an toàn vệ sinh và sự sạch sẽ, đối với công ty sản xuất
văn phòng phẩm ngoài chất lượng sản phẩm hoạt động marketing còn thiếu về
độ thẩm mỹ, hình dáng kích thước của sản phẩm cũng như công dụng của sản
phẩm.
Marketing công nghiệp: bao gồm các hoạt động marketing khong trực
tiếp tới kháchhàng, những người mua hàng hoá và dịch vụ cho sự tiêu dùng cá
nhân của họ.
Khách hàng công nghiệp là các tổ chức các doanh nghiệp các lĩnh vực
phục lợi ích công cộng, thâm chí cơ quan tư nhân.
Bảng 1: Nhóm khách hàng của marketing công nghiệp.
Người cung cấp Sản phẩm hoặc dịch vụ Khách hàng
- Các nhà máy công cụ Sản phẩm c
ơ khí công
nghiệp
Cơ sở sản xuất
Các công ty bảo hiểm Bảo hiểm tài sản , thân thể

T

chức, nhu cầu của thị trường hàng công nghiệp thứ phát, phát sinh và liên
quan đến sự ảnh hưởng mua đa dạng.
Khách hàng công nghiệp mua một cách chính thống và có các chính
sách về thủ tục mua cụ thể chi tiết với những người mua chuyên nghiệp.
Trong thị trường công nghiệp, vai trò của sự chuyên môn hoá rất quan
trọng, trong thị trường công nghiệp các hoạt động hỗ trợ sản phẩm, dịch vụ,
trợ giúp kỹ thuật, phụ tùng thay thế cũng được coi là rất cần thiết. Hoạt động
bán hàng cá nhân được coi trọng hơn thị trường hàng tiêu dùng, phân phối vật
chất đóng vai trò quan trọng: kịp thời, đầy đủ.
Trong thị trường công nghiệp, khách hàng bao gồm:
 Các doanh nghiệp: Những doanh nghiệp thường mua sản phẩm về để
áp dụng vào việc sản xuất, có khi họ mua sản phẩm về để lắp ghép vào sản
phẩm của họ tạo nên một sản phẩm hoàn chỉnh.
+ Các nhà sản xuất thiết bị gốc (công ty máy tính, cơ khí)
+ Khách hàng là người sử dụng (công ty thương mại, xí nghiệp sản
xuất)
+ Nhà phân phối công nghiệp
 Các tổ chức chính phủ: Mua sản phẩm để dùng hoặc đề đi cứu trợ,
viện trợ.
Mua sản phẩm để phục vụ cho các lợi ích công cộng.

 Các viện nghiên cứu, trường học: Đây là các khách hàng công nghiệp
mua sản phẩm về để dùng vào việc nghiên cứu và đào tạo.
2. Sản phẩm công nghiệp và tầm quan trọng của chiến lược sản
phẩm trong marketing công nghiệp.
Một sông ty có sản phẩm tồi thì dù có chính sách marketing và chiến
lược sản phẩm tốt đến mấy thì việc hiệu quả kinh doanh đạt được cũng rất
thấp.
Nếu sản phẩm của công ty đạt chất lượng cao kết hợp với các hoạt động
marketing phù hợp việc đạt kết quả kinh doanh sẽ rất cao, doanh thu sẽ tăng


Chương II
Ngành nhựa và công ty nhựa cao cấp hàng không
I. Tổng quan về ngành nhựa
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Ngành nhựa Việt Nam được hình thành từ năm 1959 với sự ra đời của
nhà máy nhựa thiếu niên tiền phong và được phát triển mạnh ở các tỉnh phía
Nam trước năm 1975. Trong thời gian đầu, do hoạt động trong cơ chế cũ,
nguyên liệu thiếu, máy móc lạc hậu nên mức sản xuất thấp, chỉ số tiêu thụ
nhựa khoảng 0,4kg/người. Vào những năm thập kỷ 90, ngành nhựa đã bắt đầu
phát triển nhanh chóng, mức chỉ số bình quân tiêu dùng nhựa trên đầu người
là 15kg/người/năm. Hiện nay, ngành nhựa đang trên đà tăng trưởng và phát
triển, được sự quan tâm của chính phủ để ngày càng đổi mới và tiến bộ hơn.
2. Thực trạng ngành nhựa
Ngành nhựa là lĩnh vực mới, quy trình sản xuất không phức tạp lắm,
việc gia nhập ngành không mấy khó khăn. Với số vốn không lớn lắm đã có thể
tham gia cung cấp sản phẩm nhựa, các nhà sản xuất tư nhân có thể nhảy vào
khá dễ dàng với số lượng tương đối nhiều. Thị phần mà mỗi doanh nghiệp tư
nhân chiếm được không lớn nhưng tập hợp chung vào thì cũng chiếm tỷ lệ %
đáng kể. Bù lại, nhu cầu sản phẩm cho các ngành công nghiệp và sản phẩm
nhựa phục vụ cho tiêu dùng rất lớn và đang có chiều hướng ngày càng tăng.
Đó là một điểm thuận lợi cho các doanh nghiệp sản xuất trong ngành nhựa.
Các công ty ngành nhựa có một thị trường rộng lớn và nhiều tiềm năng
nên nếu có sự nhạy bén và năng động trong kinh tế thị trường thì sẽ thu được
những thành công trong sản xuất kinh doanh, ngày càng mở được năng lực sản
xuất của mình đáp ứng thị trường trong nước, không để hàng ngoại nhập cạnh
tranh.
Vấn đề khó khăn đối với ngành nhựa nước ta là thiếu nguyên liệu sản
xuất, hầu hết các nguyên liệu đều nhập từ nước ngoài. Thời bao cấp các doanh
nghiệp thực sự gặp khó khăn trong việc tìm mua nguyên liệu sản xuất. Nhưng


Sau gần 40 năm phát triển, ngành nhựa Việt Nam có khoảng 650 doanh
nghiệp sản xuất kinh doanh mặt hàng nhựa trong đó miền Nam chiếm 70%,
miền Bắc chiếm 22%, miền Trung chiếm 8%, tỷ lệ tăng trưởng là 25% một
năm. Theo đà phát triển của kinh tế thị trường ngành nhựa cũng phát triển rất
mạnh, có nhiều liên doanh với nước ngoài và các cơ sở sản xuất trong nước
liên tục đổi mới thiết bị, công nghệ.
Tiềm năng tiêu thụ sản phẩm nhựa là rất lớn, biểu hiện qua mức tiêu thụ
bình quân đầu người nhỏ so với các nước có cùng điều kiện. Về sản phẩm
nhựa gia dụng theo đánh giá chung thì thị trường nội địa còn rất rộng do các
sản phẩm này mới chỉ sử dụng ở các thành phố lớn, thị xã, còn các địa phương
xa xôi còn ít.
Theo mục tiêu phát triển ngành nhựa đến năm 2005 sản phẩm nhựa Việt
Nam đạt 1,5 triệu tấn, tăng gấp 6 lần hiện nay, thực hiện 4 chương trình lớn:
- Mở rộng chủng loại sản phẩm nhựa.
 Mục tiêu tỷ lệ cơ cấu sản phẩm của ngành năm 2005:
+ Sản phẩm bao bì chiếm 30%
+ Sản phẩm vật liệu xây dựng chiếm 20%
+ Sản phẩm đồ gia dụng chiếm 20%
+ Sản phẩm công nghiệp điện tử, ô tô, xe máy, máy móc chiếm 15%.
+ Sản phẩm khác chiếm 15%.
 Mục tiêu chất lượng sản phẩm nhựa xuất khẩu: Nâng cao chất lượng,
tăng số lượng và mở rộng chủng loại, có khả năng xuất khẩu để thu hút lao
động dồi dào trong nước đồng thời thu ngoại tệ để đầu tư.
 Phát triển sản xuất nguyên liệu nhựa, bán thành phẩm nhựa cơ khí
khuôn mẫu và chế tạo thiết bị gia công nhựa.
Như vậy có thể khẳng định thị trường ngành nhựa là một thị trường
tiềm năng lớn mà ngành nhựa đang trên đà phát triển tăng trưởng, tuy nhiên
sự cạnh tranh sẽ là rất lớn, rất gay gắt giữa các doanh nghiệp trong nước và


đầu công ty có nền cơ sở hạ tầng thấp kém, có thời gian sản xuất chưa phát
triển, chủ yếu sản xuất thụ động, đơn điệu.
- Ngày 20 tháng 4 năm 1993, xí nghiệp đổi tê thành "Xí nghiệp hoá
nhựa cao cấp - hàng không". Tên giao dịch: AVIATTION HIGH - GRATE
PLASTIC COMPANY. Thời gian này sản xuất bắt đầu phát triển.
- Ngày 21 tháng 7 năm 1994, Xí nghiệp hoá nhựa cao cấp hàng không
đổi tên thành Công ty nhựa cao cấp hàng không, tên gọi này duy trì đến bây
giờ. Công ty có 3 giai đoạnpt:
* Giai đoạn 1989 đến 1991: Giai đoạn này công ty hoạt động dưới sự
bao cấp của Tổng cục - Hàng không dân dụng. Vốn sản xuất được cấp: 1,1 tỷ
đồng. Công ty có một nền sản xuất kém với trang thiết bị lạc hậu, thủ công,
sản phẩm sản xuất chất lượng kém, mẫu mã đơn điệu…
Doanh thu trong thời gian này là 1 tỷ đồng 1 năm, kinh doanh không có
lợi nhuận, chủ yếu cán bộ công nhân viên sống bằng mức lương trợ cấp của
Tổng cục Hàng không.
Doanh số giảm từ 594.264.000 đồng năm 1990 xuống còn 301.892.000
đồng năm 1991.
* Giai đoạn 1992-1998: Đây là giai đoạn phát triển, công ty trở thành
công ty mạnh trong ngành nhựa Việt Nam.
+ 1992-1995: Năm 1992 công ty trở thành thành viên hạch toán độc lập.
Công ty mạnh dạn vay vốn ngân hàng đầu tư trang thiết bị nâng cao sản xuất.
Công ty chủ động tìm kiếm thị trường ngoài ngành chính vì vậy đến năm 1994
doanh thu tăng gấp 3 lần, lợi nhuận gấp 2, thu nhập đầu người tăng 2,5 lần so
với năm 1993.
+ 1996-1998: Doanh thu bình quân tăng 25%, lợi nhuận tăng 30%, bình
quân đầu người tăng 15%. Thời gian này doanh thu ngoài ngành tăng từ 20%
năm 1996 lên 55% năm 1998. Đến năm 1997 doanh thu công ty đạt 11 tỷ
VNĐ.

+ 1998-2002: Tỷ trọng thị trường tiêu thụ ngoài ngành chiếm 60% tổng


đựoc sản xuất ra là những máy móc sản xuất với tốc độ và chất lượng cao,
máy móc sản xuất của ngành nhựa cũng không thể nằm ngoài sự ứng dụng của
ngành cơ khí. Mọi máy móc trang thiết bị ngành nhựa đều được chuyển giao
với chất lượng tốt, công nghệ hiện đại vì thế sản xuất ra được những sản phẩm
đạt chất lượng cao.
2.1.3. Môi trường chính trị - luật pháp
Chính trị ổn định là điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh
doanh, nó tạo ra cảm giác an toàn cho các nhà đầu tư, là điều kiện để phát
triển nền kinh tế.
Việc bổ sung nhiều điều luật, bộ luật vào hệ thống luật pháp là điều nên
làm đối với nước ta, nó tạo điều kiện cho các doanh nghiệp hoạt động kinh
doanh đặc biệt nhờ vào các chính sách nhà nước khuyến khích người dân chỉ
tiêu và sử dụng các sản phẩm trong nước, tất cả mọi điều này là điều kiện cho
công ty nhựa cao cấp hàng không.
2.1.4. Các môi trường khác
Ngoài ba môi trường nói trên, môi trường nhân khẩu học, môi trường tự
nhiên, môi trường văn hoá xã hội luôn có sự ảnh hưởng tới công ty mặc dù nó
không lớn.
Ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế kéo theo sự phát triển của
các khu đô thị, nhiều khu đô thị lớn được mở ra, nhiều khu công nghiệp được
dựng nên, đây chính là những vùng có nhiều khách hàng công nghiệp là nhà
sản xuất bởi vậy môi trường nhân khẩu học cũng có sự ảnh hưởng đến công ty
(vì trong môi trường nhân khẩu học nó bao gồm cả việc phân bố lại lực lượng
sản xuất, phân vùng lãnh thổ, các khu kinh tế).
Việc sản xuất sản phẩm từ các nguyên vật liệu là phế thải được các
công ty nhựa áp dụng thường xuyên vì sự thiếu hụt nguồn nguyên vật liệu thô,
sự gia tăng chi phí từ việc nhập nguyên vật liệu ở nước ngoài.
2.2. Môi trường cạnh tranh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status