UBND TỈNH QUẢNG NGÃI ĐOÀN ĐẠI BIỂU QUỐC HỘI
SỞ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TỈNH QUẢNG NGÃI
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC VÀ PHÁT TRIỂN CÔNG NGHỆ Tên đề tài:
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT CÁC
GIẢI PHÁP GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI
CÁC HUYỆN MIỀN NÚI TỈNH QUẢNG NGÃI Chủ nhiệm đề tài: TS. Võ Tuấn Nhân
tính ổn định, phát huy không được giữ vững hoặc hiệu quả thấp. Do vậy, cần
phải có sự đánh giá khoa học, khách quan về hiệu quả các chương trình, dự án
đầu tư cho miền núi, đánh giá việc tổ chức thực hiện sao cho đảm bảo tính hiệu
quả và bền vững của chương trình, dự án được triển khai thực hiện trên địa bàn
miền núi.
Tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế - xã hội ở
các huyện miền núi Quảng Ngãi có nhiều kết quả, nhưng chuyển biến chưa
mạnh, chưa đáp ứng mong đợi của nhân dân và yêu cầu của quản lý. Cơ chế
chính sách cho phát triển kinh tế - xã hội miền núi đã có, nhưng trong giai đoạn
hiện nay cần tập trung nhiều hơn nữa cho miền núi, nhất là việc nghiên cứu,
triển khai thực hiện Nghị quyết 30a/2008/NQ-CP để giảm nghèo nhanh và bền
vững. Vấn đề này cần phải có nghiên cứu chuyên sâu dưới góc độ khoa học để
đề xuất một số giải pháp đồng bộ, góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện
miền núi phù hợp với tình hình thực tiễn và yêu cầu phát triển miền núi trong sự
phát triển chung của tỉnh.
Từ trước đến nay, hàng năm các cơ quan nhà nước đều có các báo cáo
đánh giá chung tình hình thực hiện các chương trình đầu tư phát triển kinh tế -
xã hội ở các huyện miền núi Quảng Ngãi và đề ra nhiệm vụ thực hiện cho năm
sau. Những báo cáo này phần nào đã phản ảnh thực trạng và giải pháp phát triển
kinh tế - xã hội miền núi. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, chưa có điều kiện
để thực hiện dưới góc độ một đề tài khoa học.
Để đánh giá đúng thực trạng tình hình triển khai thực hiện các chương trình, dự
án, chúng ta cần phải dựa trên các phương pháp khoa học, khách quan để xem xét về
những vấn đề liên quan, đề xuất những giải pháp khả thi để tổ chức thực hiện hiệu quả
hơn, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội khu vực miền núi trong thời gian
đến một cách nhanh và bền vững.
Với những lý do chính yếu nêu trên nói lên sự cần thiết để tiến hành
nghiên cứu đề tài này.
2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu của đề tài là:
Các phương pháp cụ thể tiến hành nghiên cứu cụ thể là:
Thu thập, phân tích tài liệu: Thu thập số liệu thống kê, các tài liệu liên
quan đã có từ các cơ quan Trung ương, ở tỉnh, 06 huyện miền núi trong tỉnh.
Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (Ankét): Sử dụng bảng hỏi được
thiết kế phù hợp cho nội dung cần nghiên cứu (xem Phiếu khảo sát - Phụ lục
01). Số lượng mẫu là 1.000 phiếu, được điều tra tại tất cả 06 huyện miền núi
trong tỉnh. Việc xử lý và phân tích số liệu phiếu điều tra được thực hiện bởi sự
trợ giúp của máy vi tính, bằng phần mềm SPSS-11.5.
Phương pháp phỏng vấn sâu, thảo luận nhóm tập trung: Thực hiện với
các đối tượng chủ yếu là cán bộ các tổ chức Đảng, cơ quan Nhà nước, đoàn thể
cấp xã, cấp huyện, tỉnh và một số công dân tại các huyện miền núi.
Phương pháp quan sát, được vận dụng xuyên suốt trong quá trình nghiên
cứu đề tài.
4. Phạm vi và giới hạn nghiên cứu đề tài
Như tên gọi của đề tài được giao nhiệm vụ là:“Nghiên cứu thực trạng và
đề xuất các giải pháp góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi
tỉnh Quảng ngãi”, và được giới hạn trong mục tiêu, nhiệm vụ nêu trên. Thời
gian và kinh phí đầu tư cho nghiên cứu còn hạn chế. Vì vậy, trong quá trình
nghiên cứu “đánh giá thực trạng” ở đây cũng chỉ đi sâu vào một số lĩnh vực mà
đề tài đặt ra. Các giải pháp đề xuất cũng trong khuôn khổ nhiệm vụ nghiên cứu
của đề tài.
5. Ý nghĩa của đề tài
Kết quả nghiên cứu của đề tài đã bám sát mục tiêu, nhận diện được những
thành công, bất cập trong một số chính sách, chương trình, dự án đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi trong thời gian qua; đề xuất các giải
pháp có tính khả thi góp phần đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội các huyện
miền núi tỉnh Quảng Ngãi giai đoạn 2011 - 2015. Vì vậy, đây là luận cứ khoa
học phục vụ cho sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành quản lý của tỉnh và trong việc
thực hiện chủ trương phát triển kinh tế - xã hội miền núi nhanh và bền vững của
Đảng và Nhà nước.
I. CƠ SỞ LÝ LUẬN, ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ DÂN CƯ
1.1. Một số lý thuyết, quan điểm vận dụng nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi của đề tài, các tác giả tập trung tìm hiểu, vận dụng một số
lý thuyết: “Cấu trúc - chức năng”, “Lý thuyết phát triển”, quan điểm của Đảng
và Nhà nước ta có liên quan để nghiên cứu đề tài.
1.1.1. Vận dụng Lý thuyết cấu trúc - chức năng
Lý thuyết cấu trúc - chức năng gắn liền với tên tuổi của các nhà Xã hội
học nổi tiếng như: H. Spencer, E. Durkheim, T. Parsons, là một trong những lý
thuyết quan trọng được sử dụng rộng rãi trong các phân tích xã hội học. Lý
thuyết này nhấn mạnh đến những đóng góp chức năng của mỗi bộ phận trong xã
hội để duy trì cấu trúc cũ, giúp ta vận dụng xem xét cấu trúc kinh tế - xã hội một
vùng, một khu vực nhất định (mà ở đây là khu vực miền núi tỉnh Quảng Ngãi).
Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức năng giúp ta nhìn nhận: Xã hội là một
hệ thống các thiết chế phụ thuộc lẫn nhau và tham gia tạo nên sự ổn định bền
vững của tổng thể. Để giải thích tồn tại của một thiết chế xã hội, chúng ta phải
tìm hiểu hệ thống xã hội, như một tổng thể, đòi hỏi những nhu cầu của nó phải
được thoả mãn như thế nào. Bởi vì chỉ trong một trạng thái như vậy thì mới bảo
đảm cho các chức năng hoạt động mà xã hội luôn trong trạng thái cân bằng.
Do vậy, khi xem xét về thực trạng và giải pháp triển kinh tế - xã hội miền
núi, chúng ta cần thấy được các chức năng mới xuất hiện và có những chức năng
cũ sẽ bị triệt tiêu vì không có cơ sở để tồn tại dẫn đến sự biến đổi về kinh tế - xã
hội của cộng đồng dân cư khu vực miền núi. Vận dụng lý thuyết cấu trúc - chức
năng phân tích nội dung đề tài “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp
góp phần phát triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi”;
nhằm thấy được cơ cấu mới của cơ cấu xã hội cũng như chức năng bộ phận của
cơ cấu ấy trong phát triển kinh tế - xã hội miền núi. Sự tác động của các bộ phận
mới với các chức năng mới sẽ tạo cơ sở cho sự tồn tại, phát triển của xã hội và
dẫn đến sự biến đổi xã hội của cộng đồng dân cư, trong đó cộng đồng dân cư
khu vực nghiên cứu cũng nằm trong mối quan hệ chung đó.
30a/2008/NQ-CP của Chính phủ về Chương trình giảm nghèo nhanh và bền
vững đối với 61 huyện nghèo, với quan điểm xoá đói giảm nghèo là chủ trương
lớn, nhất quán của Đảng, Nhà nước và là sự nghiệp của toàn dân. Phải huy động
nguồn lực của Nhà nước, của xã hội và của người dân để khai thác có hiệu quả
tiềm năng, lợi thế của từng dịa phương, nhất là sản xuất lâm nghiệp, nông
nghiệp để xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh tế - xã hội bền vững.
Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020, được Đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ XI của Đảng (tháng 01/2011) xác định: Đẩy mạnh giảm
nghèo bền vững, nâng cao thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống và chất
lượng dân số của đồng bào các dân tộc thiểu số.Chú trọng phát triển hạ tầng
kinh tế, xã hội.
Trong Báo cáo chính trị của Ban chấp hành trung ương Đảng khoá X, tại
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng cũng đã xác định nhiệm vụ trong
5 năm tới đối với vùng trung du, miền núi. Phát triển kinh tế - xã hội hài hoà
giữa các vùng, đô thị và nông thôn. Phát huy tiềm năng, thế mạnh của từng vùng
với tầm nhìn dài hạn, tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng theo
quy hoạch, khắc phục tình trạng đầu tư trùng lặp, thiếu liên kết giữa các địa
phương trong vùng; Tăng cường chính sách hỗ trợ phát triển các vùng còn
nhiều khó khăn, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Tỉnh Quảng Ngãi cũng đã có nhiều chủ trương để phát triển kinh tế - xã
hội miền núi. Tỉnh ủy khóa XVII đã ban hành Nghị quyết 05-NQ/TU Về phát
triển kinh tế - xã hội các huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi 2006-2010; Hội đồng
nhân dân tỉnh đã ban hành Nghị quyết số 17/2007/NQ-HĐND ngày 16/7/2007
nhằm cụ thể hoá Nghị quyết trên và Ủy ban nhân dân tỉnh đã xây dựng , ban
hành Quyết định số 295/QĐ-UBND ngày 28/02/2008 Về phê duyệt Quy hoạch
tổng thể phát triển kinh tế - xã hội miền núi của tỉnh đến năm 2010để triển khai
thực hiện.
1.2. Điều kiện tự nhiên và dân cư
1.2.1. Điều kiện tự nhiên
Miền núi tỉnh Quảng Ngãi nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nằm giữa hai
Nhóm đất dốc tụ (D): Diện tích 5.608ha, chiếm 1,73% tổng diện tích; Đất đỏ
vàng biến đổi do trồng lúa nước (FL): Diện tích 3.059ha, chiếm 0,94% tổng diện
tích; Đất mùn trên núi cao (H): Diện tích 114.668,3ha, chiếm 33,44% tổng diện
tích toàn vùng.
- Về nguồn nước: Hệ thống sông suối tỉnh Quảng Ngãi đều được bắt
nguồn từ những vùng núi cao của các huyện miền núi đổ vào các con sông lớn
như Trà Bồng, Trà Khúc, Sông Vệ, Trà Câu… Đặc tính của các con sông này là
ngắn, dốc và lưu lượng dòng chảy lớn, nên thường gây ra lũ lụt vào mùa mưa và
khô hạn vào mùa khô.
- Về tài nguyên rừng: Nhìn chung thực vật rừng khá phong phú, trong
tổng số 560 loài được phát hiện được, có 19 loài quý hiếm được ghi vào Sách đỏ
Việt Nam. Núi rừng Quảng Ngãi là kho tài nguyên phong phú về lâm thổ sản
với nhiều loại gỗ quý như: lim, giổi, sao cát, vênh vênh, chò, trắc, huỳnh đàng,
kiền kiền, gõ. Ngoài gỗ, rừng Quảng Ngãi còn có nhiều loại cây thuốc như sa
nhân, hà thủ ô, thiên niên kiện, ngũ gia bì, sâm; các loại cây có sợi, cây có dầu,
trầm hương, cây lấy nhựa và các loại cây lấy nấm. Cây quế là đặc sản nổi tiếng
với diện tích rộng, sản lượng lớn.Về động vật, có trên 478 loài động vật, trong đó
có 76 loài thú, 308 loài chim, 65 loài bò sát và 29 loài ếch nhái. Có 55 loài quý
hiếm được ghi vào Sách đỏ Việt Nam.
- Về tài nguyên khoáng sản: Đá xây dựng có ở nhiều nơi, nhất là ở Trà
Bồng; Nước khoáng Thạch Bích ở Trà Bồng; Wolfram ở Minh Long; vàng,
đồng, kẽm có ở Trà Bồng, Sơn Hà, Ba Tơ
Khu vực miền núi Quảng Ngãi có nhiều địa danh có thể khai thác phục vụ
du lịch như núi Cà Đam huyện Trà Bồng, Hồ chứa nước Nước Trong, Khu căn
cứ địa cách mạng Ba Tơ và di tích quốc gia Trường Thành…
1.2.2. Dân cư - Dân tộc
Khu vực miền núi có diện tích chiếm 3.245 Km
2
, dân cư hiện nay có
xã hội giữa các dân tộc đã có từ lâu đời. Nhưng mỗi tộc người đều có những đặc
điểm riêng.
Về kinh tế, quan hệ mua bán, trao đổi giữa các dân tộc thực hiện bằng
nhiều hình thức, đã được xác lập từ lâu đời. Đồng bào trao đổi với nhau các
công cụ lao động như dao, rựa, những sản vật từ săn bắt, hái lượm được hoặc
những đặc sản như quế, trầu, cau, chè Mối quan hệ giao lưu kinh tế đó diễn ra
không chỉ trong nội bộ tộc người mà còn diễn ra giữa các tộc người cận cư, đặc
biệt là với người Kinh để trao đổi, mua bán các sản phẩm và nhu yếu phẩm cần
thiết cho cuộc sống.
Về ngôn ngữ, mỗi dân tộc ở miền núi Quảng Ngãi thường không chỉ nói
ngôn ngữ mẹ đẻ, mà còn biết tiếng nói các dân tộc láng giềng. Vì cùng chung hệ
ngôn ngữ Môn - Khơme nên các dân tộc Hrê, Cor, Ca Dong rất dễ dàng hiểu
tiếng nói của nhau. Hiện nay, sự giao lưu văn hóa, mối quan hệ giữa các dân tộc
miền núi Quảng Ngãi ngày càng được củng cố và phát triển về mọi mặt, phù
hợp với xu thế thời đại và phù hợp với nguyện vọng chính đáng của bà con các
dân tộc miền núi trên con đường hội nhập đi lên xây dựng cuộc sống mới.
II. THỰC TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI CÁC HUYỆN MIỀN NÚI
TỈNH QUẢNG NGÃI
1.1. Khái quát chung về thực trạng kinh tế - xã hội
Nhìn chung, kinh tế các huyện miền núi đang trong quá trình thoát ra tình
trạng tự cấp tự túc, từng bước tiếp cận thị trường.
Tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006 - 2010 chậm, tăng 13,66%,
trong đó N-L-TS tăng 10,25%; CN-XDCB tăng 22,39%; Dịch vụ tăng 18,97%.
Tổng giá trị sản xuất toàn vùng (theo giá 1994) năm 2006 đạt 688.904 triệu
đồng, năm 2010 ước đạt 1.068.552 triệu đồng.
Về cơ cấu kinh tế đã có sự chuyển dịch theo hướng tích cực, tỷ trọng
ngành N-L-TS giảm dần. Tỷ trọng CN-TTCN tăng chậm. Dịch vụ chiếm tỷ
trọng thấp nhưng cáo xu hướng tăng dần.
Tổng thu ngân sách của vùng ngày một gia tăng, năm 2010 đạt 27,831 tỷ
đồng, tuy nhiên còn rất nhỏ. Mức thu này chưa thể có tích lũy từ nội bộ nền kinh
1.2. Thực trạng về các ngành kinh tế
1.2.1. Nông nghiệp - Lâm nghiệp - Thủy sản
+ Sản xuất Nông nghiệp
- Về trồng trọt:
Cây lúa: Từ năm 2001 đến nay, tuy diện tích có tăng có giảm, nhưng
năng suất bình quân trong vùng tăng đều: từ 26,6 tạ/ha (2001), 31,2 tạ/ha (2005)
lên 40,2 (2010) làm cho sản lượng tăng lên.
Cây ngô: Sản xuất ngô có nhiều tiến bộ cả về mở rộng diện tích thâm
canh tăng năng suất. Diện tích ngô lai đang thay thế dần các giống ngô cũ năng
suất thấp. Phương thức trồng ngô thâm canh cũng đang thay thế dần trồng ngô
quảng canh. Năng suất bình quân trong vùng tăng từ: 18,8 tạ/ha (2001), 21,8
tạ/ha (2005) lên 28,7 tạ/ha (2010).
Cây sắn: Cùng với sự phát triển của hai nhà máy chế biến tinh bột sắn của
tỉnh kéo theo vùng nguyên liệu phát triển không ngừng. Năng suất bình quân
trong vùng tăng từ: 85,8 tạ/ha (2001), 107,9 tạ/ha (2005) lên 134,1 tạ/ha (2010).
Việc phát triển cây sắn hiện nay cần có giải pháp quy hoạch hợp lý và canh tác
khoa học để không dẫn đến phá rừng và huỷ hoại môi trường.
Ngoài ra, trong vùng còn có khoai lang, rau đậu các loại: Diện tích có
lúc giảm lúc tăng, nhưng sản lượng và năng suất các năm đều tăng do áp dụng
các tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất.
Cây công nghiệp ngắn ngày: Trong vùng có trồng các loại cây công
nghiệp ngắn ngày như: mía, lạc, vừng… Diện tích mía có tăng có giảm qua các
năm, năng suất bình quân trong vùng không ổn định từ: 372,2 tấn/ha (2001),
449,9 tấn/ha (2005) giảm còn 336,6 tấn/ha (2010). Diện tích và sản lượng cây
lạc tuy có tăng có giảm, nhưng năng suất lại ngày càng tăng. Năm 2001 diện tích
1.340 ha, sản lượng 1.643 tấn, năng suất chỉ đạt 12,3 tạ/ha. Đế năm 2008 diện
tích giảm xuống còn 872 ha, nhưng nhờ năng suất tăng lên 15,7 tạ/ha nên sản
lượng đạt 1.358 tấn. Diện tích trồng cây vừng tuy có tăng có giảm, nhưng năng
suất và sản lượng hàng năm đều tăng. Năm 2001 diện tích 29,0 ha đến 2002 diện
tích tăng lên 74,0 ha, nhưng năm 2008 diện tích lại giảm xuống còn 63,0 ha.
Ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản của vùng miền núi quá nhỏ bé, sản
lượng và giá trị sản phẩm không đáng kể, chủ yếu chỉ đáp ứng một phần nhu cầu
nội vùng. Năm 2008, tổng sản lượng thủy sản toàn vùng đạt 210 tấn. Tiềm năng
khai thác không lớn.
1.2.2. Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp, Xây dựng
Trong những năm qua, ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Xây
dựng đã có sự phát triển đáng kể. Hầu hết các cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công
nghiệp và xây dựng đều nhỏ bé và tập trung ở các thị trấn, trung tâm huyện lỵ và
các trung tâm cụm xã. Tuy nhiên, ngành công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
vẫn chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong cơ cấu giá trị sản xuất của vùng. Năm 2008,
trên toàn địa bàn 06 huyện miền núi có tổng số 1.605 cơ sở thì hầu hết đều thuộc
loại hình hộ kinh doanh cá thể và tư nhân (1.600 cơ sở), chỉ có 02 cơ sở sản xuất
thuộc loại hình nhà nước, 03 cơ sở tập thể.
1.2.3. Thương mại - Dịch vụ và Du lịch
Những sản phẩm hàng hóa của vùng trao đổi với bên ngoài chủ yếu là gỗ
và sản phẩm chế biến từ gỗ, cây mía, cây quế và một số lâm sản khác. Còn các
sản phẩm nhập vào trong vùng là nguyên vật liệu xây dựng, nhiên liệu, phân
bón, lương thực và đồ dùng phục vụ sinh hoạt hàng ngày.
Về dịch vụ có tốc độ tăng trưởng khá, ngày càng chiếm tỷ trọng đáng kể
trong cơ cấu kinh tế. Các hoạt động dịch vụ vận tải, ngân hàng phát triển, có tác
dụng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Tuy nhiên, vận tải trong vùng
chủ yếu là đường bộ, phương tiện chính là xe ô tô và chưa đáp ứng được nhu
cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa trong vùng.
Du lịch trên địa bàn chưa được đầu tư phát triển, cơ sở hạ tầng còn quá
khó khăn, khâu dịch vụ chưa phát triển.
1.3. Thực trạng về xã hội và an ninh quốc phòng
Công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cộng đồng cho đồng bào dân tộc
trong vùng từng bước khắc phục tình trạng xuống cấp về cơ sở vật chất, đội ngũ
cán bộ y tế được tăng cường. Các chương trình y tế đều đạt kế hoạch đề ra, góp
phần hạ thấp tỷ lệ các bệnh như sốt rét, bướu cổ Tuy nhiên, tỷ lệ mắc bệnh và
53.978 triệu đồng, cấp nước cho khoảng 9.997 hộ, nâng tổng số hộ được cung
cấp nước sinh hoạt hợp vệ sinh đến năm 2010 chiếm khoảng 76,83% dân số toàn
vùng.
Về bưu chính viễn thông: Nhìn chung đã đáp ứng được yêu cầu cơ bản
của dịch vụ bưu chính viễn thông trong vùng. Toàn vùng có 15.167 máy điện
thoại cố định, bình quân 7,63 máy/100 dân, tổng số thuê bao Internet là 786 thuê
bao.
Về văn hóa thông tin: Đến nay, trong vùng đã có 6 đài truyền thanh - phát
lại truyền hình, tập trung vào tuyên truyền đường lối chủ trương chính sách của
Đảng, pháp luật của Nhà nước, nhiệm vụ chính trị địa phương. Hệ thống văn
hóa thông tin mới chỉ đáp ứng được ở khu vực trung tâm huyện và các trung tâm
cụm xã, còn đối với các khu vực vùng sâu, vùng xa chưa được đầu tư nhiều để
đảm bảo yêu cầu thiết yếu.
Cơ sở vật chất phục vụ cho công tác thể dục thể thao chưa phát triển.
Toàn vùng hiện có 17 sân vận động, vận động viên chủ yếu chỉ tập trung từ các
xã, thị trấn khi có phong trào thi đấu.
Hệ thống thoát nước và vệ sinh môi trường chưa được chú trọng đầu tư.
Phương thức sản xuất lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn nhiều khó khăn, ảnh hưởng
không ít đến đời sống của nhân dân, là mầm mống gây ra các dịch bệnh.
Tóm lại, cả sáu huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi đều là những huyện
nghèo và có sự phát triển không đồng đều theo vùng lãnh thổ và theo lĩnh vực
sản xuất.
Theo vùng lãnh thổ, có huyện có điều kiện phát triển mạnh như Ba Tơ,
Sơn Hà, Trà Bồng; có huyện kinh tế khó phát triển hơn như: Tây Trà, Sơn Tây,
Minh Long. Có huyện cơ sở hạ tầng khá như: Ba Tơ, Sơn Hà; có huyện cơ sở hạ
tầng yếu kém như Tây Trà, Sơn Tây.
Theo lĩnh vực sản xuất, có huyện có hướng phát triển công nghiệp vì
nguyên liệu dồi dào như: Ba Tơ, Sơn Hà, Trà Bồng, nhưng cũng có huyện ít có
lợi thế phát triển công nghiệp mà chỉ phát triển tiểu thủ công nghiệp, làng nghề,
như Tây Trà, Sơn Tây.
trồng, vật nuôi năng suất cao, chất lượng tốt đã dần thay thế những tập quán sản
xuất lạc hậu; diện tích khai hoang ruộng lúa nước và năng lực tưới tiêu tăng lên
giúp ổn định một phần lương thực. Góp phần cải thiện đời sống của đồng bào
trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế và sức khỏe cộng đồng: Về cơ
bản trên địa bàn không còn hộ đói kinh niên, tốc độ giảm nghèo hàng năm khá,
từ 65% (trước khi có Chương trình) xuống còn 23,84% (cuối năm 2005), bình
quân giảm 4-5%/năm. Hầu hết các xã đều có trường tiểu học và THCS kiên cố,
thu hút trên 95% số trẻ em tiểu học, trên 75 % trẻ em THCS trong độ tuổi đến
trường; nhiều địa phương đã hoàn thành phổ cập giáo dục THCS; có trạm y tế
đã ngăn chặn cơ bản các dịch bệnh; đời sống văn hoá được nâng cao một bước,
văn hoá truyền thống của các dân tộc được tôn trọng, giữ gìn và phát huy. Các
dự án quy hoạch sắp xếp lại dân cư đã góp phần ổn định đời sống, giúp đồng
bào được tiếp cận các hạ tầng kỹ thuật, dịch vụ xã hội.
Những tồn tại, hạn chế:
- Về tổ chức thực hiện: Chưa sát thực tế nên dẫn đến nhiều biến động về
số xã thuộc Chương trình: Số xã thuộc diện đầu tư đã tăng dần từ 21 đến 57 xã.
Chưa có chính sách khuyến khích các địa phương thoát khỏi Chương trình.Chỉ
có 14/57 xã hoàn thành mục tiêu, đạt tỷ lệ rất thấp 24,56%. Mặt khác, do không
có sự đánh giá khách quan và tâm lý không muốn thoát khỏi Chương trình.
Công tác quản lý, chỉ đạo các dự án chưa được tập trung. Sự phối hợp giữa Ban
chỉ đạo và các Sở, ngành chưa được chặt chẽ, đồng bộ. Công tác tuyên truyền
phổ biến chưa được quan tâm đúng mức. Nhiệm vụ giám sát thiếu chặt chẽ, kém
hiệu lực. Thực hiện đầu tư còn dàn trãi, chưa đồng bộ. Nội dung thiếu mục tiêu
cụ thể cho từng vùng đầu tư. Dự án quy hoạch bố trí lại dân cư chỉ mới thực
hiện được việc hỗ trợ dãn dân, công tác quy hoạch dân cư chỉ dừng ở bước lập
dự án quy hoạch Trong xây dựng CSHT, cơ cấu đầu tư còn nặng về các công
trình giao thông (chiếm 42,90%); trong khi vốn đầu tư cho thủy lợi (33,75%),
nước sinh hoạt (7,39%), điện (3,6%), trường học (11,35%) và khai hoang
(0,68%) là chưa hợp lý.
- Về quản lý các nguồn vốn đầu tư: Chương trình do UBND các huyện
b. Đánh giá kết quả thực hiện
Những kết quả đạt được:
Chương trình đã đạt được phần lớn các nội dung; về cơ bản, không còn
tình trạng hộ đói thường xuyên; tỷ lệ hộ nghèo của các xã, thôn ĐBKK đã giảm
từ 71,56% đầu năm 2006 xuống còn 44,24% vào giữa năm 2010 (giảm 27,32%,
bình quân mỗi năm giảm khoảng 5,5%).
- Một số chỉ tiêu đạt kế hoạch: Tỷ lệ xã có công trình thủy lợi nhỏ đảm
bảo phục vụ cho sản xuất đạt 93,33% (MT 80%); Tỷ lệ thôn bản có điện ở các
cụm dân cư đạt 88,81% (MT 80%); Tỷ lệ học sinh tiểu học trong độ tuổi được
đến trường là 99,53% (MT 95%); Tỷ lệ học sinh THCS trong độ tuổi được đến
trường là 91,17% (MT 75%); Tỷ lệ hộ có hố xí hợp vệ sinh đạt 52,33% (MT
50%); Tỷ lệ người dân có nhu cầu trợ giúp pháp lý được giúp đỡ pháp luật miễn
phí là 100 % (MT 95%).
- Về phát triển sản xuất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Sản xuất nông nghiệp
đã có bước phát triển đáng kể nhờ áp dụng giống cây trồng, vật nuôi mới và ứng
dụng khoa học, kỹ thuật vào sản xuất, năng suất cây trồng, vật nuôi tăng lên.
Đồng bào các dân tộc thiểu số đã từng bước thay thế dần tập quán sản xuất lạc
hậu. Tỷ lệ hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trên 3,5 triệu đồng/năm của
vùng tăng từ 26,71% năm 2006 lên 44,59% vào năm 2010.
- Về hoàn thiện cơ sở hạ tầng: Hệ thống cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các địa
bàn ĐBKK đã được quy hoạch và triển khai thực hiện đầu tư từ nguồn vốn của
CT 135-II, cùng với nguồn lực từ các chương trình, dự án khác đã cơ bản phục
vụ được phần lớn những yêu cầu cấp thiết nhất trong sản xuất và sinh hoạt của
người dân tại các địa bàn này.
- Đời sống văn hoá, xã hội đã có bước chuyển biến tích cực. Tỷ lệ học
sinh tiểu học và học sinh trung học cơ sở trong độ tuổi đến trường đều cao; số
hộ được sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh, số hộ được sử dụng điện đều tăng
và đạt mục tiêu của Chương trình.
- Về nâng cao năng lực: Trình độ, năng lực quản lý CT 135-II cũng như
các chương trình, chính sách khác của cán bộ cấp xã và thôn được nâng lên một
cấp tỉnh, huyện trong quá trình tham mưu và tổ chức chỉ đạo thực hiện Chương
trình có lúc, có việc thiếu đồng bộ, chưa kịp thời. Công tác quản lý, tổ chức triển
khai thực hiện của cán bộ xã nhiều nơi còn lúng túng, gặp nhiều khó khăn.
II. MỘT SỐ CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ ĐẤT SẢN SUẤT, ĐẤT Ở,
NHÀ Ở VÀ NƯỚC SINH HOẠT CHO HỘ ĐỒNG BÀO DÂN TỘC
THIỂU SỐ NGHÈO, ĐỜI SỐNG KHÓ KHĂN
(CHƯƠNG TRÌNH 134)
2.1. Nội dung, thời gian, phạm vi chương trình
- Nội dungchương trình: Giao đất sản xuất nương rẫy, đất ruộng lúa; Giao
đất ở tối thiểu cho hộ đồng bào; Hỗ trợ nhân dân xây dựng nhà ở theo phương
châm: Nhân dân tự làm, nhà nước hỗ trợ và cộng đồng giúp đỡ; Hỗ trợ giải
quyết nước sinh hoạt tập trung, phân tán.
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2005 - 2008.
- Phạm vi thực hiện: 67 xã, 329 thôn thuộc 9 huyện (trọng tâm là 6 huyện
miền núi). Số hộ thụ hưởng là: 13.907 hộ, được điều chỉnh lên 29.019 hộ.
2.2. Đánh giá kết quả
Những kết quả đạt được: Chương trình bước đầu đã giải quyết cơ bản
tình trạng khó khăn về đất ở, nhà ở và nước sinh hoạt: Khai thác được tiềm
năng đất đai, lao động và cải thiện đời sống người dân; đảm bảo một bộ phận
đồng bào có điều kiện phát triển sản xuất, tạo cơ hội phấn đấu, nâng cao ý thức
trách nhiệm và nghĩa vụ để vươn lên thoát nghèo. Quy chế dân chủ được phát
huy: Việc hỗ trợ một số chính sách được công khai dân chủ từ khâu lập và phân
bổ kế hoạch, đến khâu giám sát thực hiện; công tác xã hội hóa trong việc kiểm
tra, giám sát đã được hình thành và rõ nét hơn trong mỗi người dân. Nhiều địa
phương đã chủ động thực hiện tốt các phương thức quản lý dự án: Nhiều xã
thực hiện tốt trách nhiệm ký kết hợp đồng xây nhà cho dân (trường hợp hộ dân
có nhu cầu) và đã làm tốt vai trò chủ đầu tư xây dựng công trình nước sinh hoạt
tập trung. Nhận thức của người dân địa phương về chính sách của nhà nước
được nâng lên. Ý thức tương trợ giúp đỡ trong cộng động cũng được nâng cao.
trồng bổ sung và trồng mới; Trồng 2 triệu ha rừng phòng hộ rừng đặc dụng và
trồng 3 triệu ha rừng sản xuất.
- Thời gian thực hiện: Từ năm 1998 - 2010.
- Phạm vi thực hiện trên địa bàn tỉnh: Trên địa bàn 10 huyện, với quy
hoạch tiềm năng đất trồng rừng đã phê duyệt đến năm 2010 là 46.000 ha (trong
đó: 6 huyện miền núi là 35.100 ha, chiếm 76,30% diện tích).
3.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ
chế, chính sách thực hiện Dự án: Được thực hiện từ Trung ương, đến địa
phương kịp thời và rõ ràng, giúp các cấp chính quyền làm cơ sở triển khai thực
hiện. Công tác chỉ đạo, điều hành: Việc tổ chức, hoạt động của Ban chỉ đạo,
Ban quản lý Dự án 661 được sự chỉ đạo thống nhất và xuyên suốt từ Chính phủ
đến các cấp chính quyền địa phương. Việc đầu tư NSNN, huy động vốn: Việc
đầu tư NSNN và thu hút được nhiều nguồn vốn khác để thực hiện dự án là nỗ
lực lớn nhằm phủ xanh đất trống đồi trọc, cải thiện môi trường, xóa đói giảm
nghèo cho người dân tham gia nghề rừng. Việc thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ
cụ thể của Dự án: Đến nay, tỉnh cơ bản thực hiện bằng và vượt so với kế hoạch
được giao: Trồng mới và chăm sóc rừng phòng hộ: 21.132 ha/19.550 ha, đạt
108%; Quản lý bảo vệ rừng: 554.265/382.100 ha, đạt 145,1%; Khoanh nuôi tái
sinh rừng: 73.271/82.724 ha, đạt 88,6%. Diện tích thành rừng là 66.529 ha. Hiệu
quả về kinh tế - xã hội, môi trường của Dự án: Từ năm 1998 - 2009, diện tích có
rừng tăng từ 126.602 ha lên 234.799 ha, độ che phủ tăng từ 24,6% lên 41,68%.
Kết quả Quy hoạch lại 3 loại rừng tạo điều kiện quản lý chặt chẽ rừng phòng hộ,
giao cho các BQL rừng phòng hộ và chính quyền địa phương quản lý. Dự án đã
đưa gần 80.000 ha đất trống đồi núi trọc để trồng rừng, giao khoán hàng trăm
nghìn lượt ha bảo vệ và khoanh nuôi rừng, tạo việc làm cho gần 10.000 hộ, hình
thành trong cộng đồng dân cư miền núi biết làm nghề rừng, giữ rừng và xóa bỏ
dần tập quán du canh du cư phát rừng làm nương rẫy. Qua điều tra cho thấy
người dân đánh giá cao việc thực hiện chương trình, với 86,1% ý kiến cho là có
hiệu quả.
Đường huyện: 500 km, đạt tiêu chuẩn cấp IV, V. Phấn đấu đến năm 2010
nhựa hóa, cứng hóa bình quân ít nhất 70% tuyến; Đường xã, phường, thị trấn
(đường xã): 750 km, đạt tiêu chuẩn đường GTNT loại A, B. Phấn đấu đến năm
2010 cứng hóa mặt đường BTXM bình quân ít nhất 60% tuyến; Đường thôn,
khối phố (Đường thôn): 250 km, đạt tiệu chuẩn GTNT loại A, B. Từng bước
cứng hóa mặt đường BTXM, gạch hoặc cấp phối các tuyến đường thôn, đường
ra đồng ruộng. Riêng đường nội phố, bê tông hóa 100% các đường hẻm nội
thành.
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010.
- Phạm vi Đề án: 13/14 huyện, thành phố (ngoại trừ huyện Lý Sơn).
4.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Đề án triển khai phù hợp với chủ trương và yêu
cầu thực tiễn. Công tác chỉ đạo được tập trung thực hiệnChính quyền các cấp đã
tích cực chỉ đạo và tổ chức thực hiện. Các cơ chế, chính sách được quán triệt sâu
rộng trong quần chúng nhân dân, nhất là chủ trương huy động, quản lý và sử
dụng các khoản đóng góp tự nguyện của nhân dân để xây dựng kết cấu hạ tầng ở
xã, phường, thị trấn.
Những tồn tại, hạn chế: Nguồn vốn bố trí và huy động thấp so với nhu
cầu nên khó hoàn thành kế hoạch: Nguồn vốn ngân sách bố trí đầu tư mặt
đường nhựa, đường BTXM còn rất thấp so với kế hoạch. Do đó, đến năm 2009,
tổng số Km trong toàn tỉnh được nhựa hoá, cứng hoá đạt thấp: Đường huyện đạt
41,14%; Đường xã đạt 35,11% so với kế hoạch. Từ năm 2008, tỉnh giao kế
hoạch vốn vay tín dụng ưu đãi cho UBND các huyện và khấu trừ vào vốn
XDCB hàng năm. Theo Đề án, đầu tư đường xã thì vốn Ngân sách tỉnh bố trí
(50% ở xã đồng bằng; 80% ở xã miền núi), còn lại ngân sách cấp huyện, cấp xã
và các nguồn huy động của xã. Tuy nhiên, nguồn lực đầu tư tại cấp huyện gặp
khó khăn về vốn ngân sách của huyện, xã và huy động trong dân.
Đề án tập trung phần lớn dự án thực hiện trên địa bàn các huyện miền núi
(chiếm 20/33 dự án giai đoạn 2009-2010) nhưng chủ yếu thực hiện từ các
nguồn: ngân sách tỉnh, Chương trình 30a, Trái phiếu Chính phủ, Giao thông
các nguồn vốn từ các chương trình khác triển khai trên địa bàn, nên đã huy động
được nguồn vốn lớn để thực hiện đạt và vượt mục tiêu Đề án.
Những tồn tại, hạn chế: Phương án cân đối nguồn vốn để thực hiện mục
tiêu chưa khả thi. Việc huy động nguồn vốn đóng góp của nhân dân vùng hưởng
lợi ở các huyện miền núi là rất khó, do đời sống nhân dân còn nghèo, nguồn vốn
góp của các địa phương cũng hạn chế. Vì vậy, khả năng cân đối ngân sách chưa
đáp ứng được yêu cầu để thực hiện theo chương trình. Bộ máy thực hiện chưa
đảm bảo yêu cầu. Do thiếu cán bộ chuyên môn thủy lợi và không có bộ phận
chuyên trách đầu tư XDCB nên các hồ sơ thủ tục, lập hồ sơ thiết kế chậm và cơ
chế quản lý tài chính còn lúng túng. Sự phối hợp giữa các Sở, ngành chưa chặt
chẽ. Cơ chế kiểm tra, giám sát chưa được thực hiện thường xuyên, nghiêm túc.
VI. CHƯƠNG TRÌNH KHUYẾN NÔNG, KHUYẾN NGƯ
Chương trình Khuyến nông, khuyến ngư được thực hiện theo Nghị định
số 56/2005/NĐ-CP ngày 26/4/2005 của Chính phủ về Khuyến nông, khuyến ngư.
6.1. Nội dung, thời gian và phạm vi chương trình
- Nội dung: Thông tin, tuyên truyền; Bồi dưỡng, tập huấn và đào tạo; Xây
dựng mô hình và chuyển giao khoa học công nghệ; Tư vấn và dịch vụ; Hợp tác
quốc tế về khuyến nông, khuyến ngư.
- Thời gian thực hiện: Từ năm 2006 - 2010.
- Phạm vi chương trình: Áp dụng trên toàn tỉnh.
6.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Hệ thồng công tác KN - KN được phân cấp từ
tỉnh đến cơ sở. Cấp cơ sở có hình thành mạng lưới Trạm khuyến nông và
khuyến nông viên cơ sở. Thu hút được nhiều tổ chức nước ngoài tài trợ cho các
chương trình, dự án KN - KN với nguồn kinh phí đầu tư đáng kể trong điều kiện
nguồn ngân sách nhà nước còn hạn chế; góp phần giúp cho người dân tiếp cận
được tiến bộ kỹ thuật công nghệ để triển khai sản xuất nhằm cải thiện đời sống.
Việc triển khai các mô hình sản xuất góp phần tạo cho nông dân tiếp thu
được khoa học kỹ thuật, áp dụng vào sản xuất. Nâng cao năng suất lao động,
đẩy mạnh thâm canh nhằm tạo nguồn nguyên liệu phục vụ cho công nghiệp chế
7.1. Nội dung một số dự án
- Dự án Y tế nông thôn: thực hiện theo Quyết định số 644/QĐ-TTg ngày
30/5/2001 của Thủ tướng Chính phủ.
+ Mục tiêu: Dự án hỗ trợ nâng cao năng lực khám chữa bệnh ở nông thôn.
+ Thời gian thực hiện: Từ năm 2003- 2008.
+ Quy mô dự án thực hiện trên địa bàn 8 huyện, gồm 11 công trình.
Nguồn vốn từ vốn vay của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB).
- Đề án xây dựng, cải tạo, nâng cấp bệnh viện đa khoa huyện và bệnh
viện đa khoa khu vực liên huyện sử dụng trái phiếu Chính phủ và các nguồn
vốn khác giai đoạn 2008 – 2010, theo Quyết định của thủ tướng và tỉnh Quảng
Ngãi.
+ Mục tiêu của Đề án: Đầu tư xây dựng, cải tạo, nâng cấp về CSHT, mua
sắm trang thiết bị và nâng cao năng lực chuyên môn cho độ ngũ cán bộ y tế của
một số Bệnh viện đa khoa tuyến huyện nhằm đưa các dịch vụ kỹ thuật y tế gần
dân. Tạo điều kiện thuận lợi cho người nghèo, người dân vùng núi, vùng sâu,
vùng xa được tiếp cận các dịch vụ y tế có chất lượng ngày một tốt hơn, đồng
thời giảm tình trạng quá tải cho các bệnh viện tuyến trên.
+ Thời gian thực hiện: Từ 2008 - 2010.
+ Quy mô dự án trên địa bàn tỉnh: Có các dự án, gồm: Bệnh viện ĐKKV
Sơn Hà; Bệnh viện đa khoa (BVĐK) huyện Minh Long; BVĐK Sơn Tịnh;
BVĐK Tư Nghĩa; BVĐK Mộ Đức; BVĐK Đặng Thùy Trâm.
- Dự án Hỗ trợ y tế vùng duyên hải Nam Trung bộ:
+ Mục tiêu: Nâng cao chất lượng dịch vụ y tế, cải thiện kỹ năng tiếp cận
và sử dụng dịch vụ y tế của người dân, đặc biệt là người dân nghèo, người dân
tộc thiểu số, phụ nữ và trẻ em.
+ Thời gian thực hiện: Từ 2009 - 2013.
+ Quy mô dự án trên địa bàn tỉnh: Tỉnh Quảng Ngãi có 4 Dự án Bệnh
viện đa khoa. Dự án sử dụng vốn ODA (Ngân hàng phát triển Châu Á) là 51,106
triệu đồng; vốn đối ứng trong nước là 5,678 triệu đồng.
7.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Các dự án đã triển khai xây dựng hoàn thành
giải quyết cơ bản một số vùng nông thôn thiếu nước sinh hoạt, cung cấp đảm
bảo đủ nhu cầu về nước sinh hoạt cho nhân dân. Từng bước cải thiện đời sống,
sức khoẻ cho nhân dân tại các vùng dự án, đặc biệt là giải phóng được một phần
sức lao động cho phụ nữ và trẻ em tham gia công việc gia đình. Các dự án được
đầu tư có quy mô lớn hơn so với các năm trước đây.
Về vệ sinh môi trường đã đạt được mục tiêu của kế hoạch đề ra. Công tác
vệ sinh môi trường nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực về nhận thức và
được cụ thể hóa bằng hành động trong sinh hoạt, sản xuất của nhân dân.
Công tác truyền thông và tập huấn đào tạo cán bộ đạt được khá cao.
Nhận thức về vệ sinh môi trường đã được nâng cao trong nhân dân, các hoạt
động về môi trường đã được nhân dân hưởng ứng và thực hiện.
Đối với vùng miền núi, vùng sâu, vùng xa, dự án có ý nghĩa rất quan trọng
trong cải thiện chất lượng cuộc sống của đồng bào. Người dân được giải phóng
sức lao động nhờ hệ thống cấp nước sinh hoạt tập trung và phân tán đến nơi ở.
Những hạn chế, tồn tại: Công tác khảo sát và thiết kế chưa được thực
hiện tốt làm ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư và việc sử dụng lâu bền công trình.
Tuy nhiên, do chất lượng khảo sát, thiết kế, chất lượng hồ sơ chưa tốt nên còn
một số công trình nước sạch không phát huy hiệu quả. Công tác chuẩn bị đầu tư
còn kéo dài, việc khởi công chậm dẫn đến tiến độ giải ngân hàng năm không đạt
kế hoạch. Chưa thực hiện tốt nội dung phân công phối hợp giữa ba ngành Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn, Y tế, Giáo dục và Đào tạo. Chương trình vệ sinh
môi trường và công tác truyền thông - giáo dục chưa được chú trọng. Hằng năm
chưa bố trí vốn cho Sở Y tế để thực hiện nhiệm vụ quản lý chất lượng nước và
thực hiện chương trình vệ sinh.
Việc phối hợp, lồng ghép và quản lý các nguồn đầu tư xây dựng công
trình nước sạch còn bất cập. Chưa có sự phối hợp, lồng ghép các chương trình
khác với chương trình do Sở NN&PTNT quản lý. Các chương trình 135, 134,
Plan, RUDEP, Đông Tây hội ngộ… triển khai tại các huyện được thực hiện theo
sự quản lý riêng của từng chương trình. Vì vậy, việc tổng hợp tình hình cung
học tranh tre nứa lá: 969 phòng. Giai đoạn 1 (2003-2005): 861 phòng. Giai đoạn
2: 1.030 phòng. Tổng nguồn vốn: 101.481 triệu đồng.
Giai đoạn 2008 - 2012: Số lượng phòng học: 2.224 phòng; Nhà công vụ
cho giáo viên: 537 phòng, tổng diện tích 12.880m
2
. Tổng vốn: 471,650 tỷ
đồng.
9.2. Đánh giá tình hình thực hiện
Những kết quả đạt được: Chương trình đã khắc phục được tình trạng
thiếu trường, lớp học và nhà công vụ cho giáo viên mà bản thân ngân sách địa
phương và đóng góp nhân dân chưa thể thực hiện được. Tạo điều kiện xây dựng
cơ sở vật chất mới để thành lập các trường THCS và trường Mầm non tại các xã
miền núi. Xóa bỏ tình trạng lớp nhô ở cả 3 cấp trong một trường (Mầm non,
Tiểu học, THCS) và nhà ở cho giáo viên, góp phần thu hút được học sinh đến
lớp và giáo viên yên tâm giảng dạy.
Chương trình đã làm cho môi trường giáo dục, hệ thống các trường học
trở thành trung tâm văn hoá - xã hội của các địa phương, góp phần thực hiện
chương trình phổ cập giáo dục tiểu học và phổ cập THCS ở các địa phương đạt
kết quả.
Những tồn tại, hạn chế: Quá trình triển khai chương trình đã bộc lộ
những yếu kém, một số dự án có những thiếu sót trong trình tự thủ tục đầu tư,
công tác quản lý, giám sát thi công, thiết kế, thẩm định thiết kế, chất lượng vật
tư, vật liệu xây dựng không đúng theo thiết kế được duyệt. Nhiều nơi, chủ đầu
tư chưa thực hiện đầy đủ thủ tục về đất đai, bỏ qua các bước đấu thầu và thực
hiện quản lý chất lượng công trình lỏng lẻo nên chất lượng công trình thấp.
Hầu hết các trường đều gặp khó khăn trong thực hiện mục tiêu “chỉnh
trang, chuẩn hóa trường, lớp học”, đầu tư không được đồng bộ các hạng mục
của trường học. Công tác quy hoạch và bố trí đất đai để xây dựng sân trường,
khu sinh hoạt… để đảm bảo chuẩn hóa và kinh phí thực hiện xây dựng các công
trình phụ như: nhà vệ sinh, nhà thí nghiệm, thiết bị… nhiều nơi không thực hiện