TIỂU LUẬN: Tín dụng: cơ sở lí luận và thực tiễn ở Việt Nam pot - Pdf 12


TIỂU LUẬN:

Tín dụng: cơ sở lí luận và
thực tiễn ở Việt Nam

I. Đặt vấn đề hiện nay
1. Tính cấp thiết
Hiện nay, Việt Nam đang tiến hành công nghiệp hoá- hiện đại
hoá đất nước, muốn vậy cần có nền kinh tế tăng trưởng và phát triển
cao. Trong đó nhu cầu về vốn là hết sức cần thiết, được coi là yếu tố
hàng đầu, là tiền đề phát triển kinh tế.Đại hội đại biểu toàn quốc
giữa nhiệm kỳ khoá VII của đảng đã đề ra: “để công nghiệp hoá-

Danh từ tín dụng dùng để chỉ một số hành vi kinh tế rất phức
tạp như: bán chịu hàng hoá, cho vay, chiết khấu, bảo hành,ký thác,
phát hành giấy bạc.
Trong mỗi một hành vi tín dụng có hai bên cam kết với nhau
như sau:
- Một bên thì trao ngay một số tài hoá hay tiền tệ
- Còn một bên kia cam kết sẽ hoàn lại những đối khoản của sổ
tài hoá trong một thời gian nhất định và theo một số điều kiện nhất
định nào đó.
Nhà kinh tế pháp, ông Louis Baudin, đã định nghĩa tín dụng
như là “ Một sự trao đổi tài hoá hiện tại lấy một tài hóa tương lai”.
ở đây yếu tố thời gian đã xen lẫn vào và cũng vì có sự xen lẫn đó cho
nên có thể có sự bất trắc, rủi ro xảy ra và cần có sự tín nhiệm của hai
bên đương sự đối với nhau. Hai bên đương sự dựa vào sự tín nhiệm,
sử dụng sự tín nhiệm của nhau vì vậy mới có danh từ thuật ngữ tín
dụng. Những hành vi tín dụng có thể do bất cứ ai thực hiện. Chẳng
hạn hai người thường có thể cho nhau vay tiền. Tuy nhiên ngày nay
khi nói tới tín dụng người ta nói ngay tới các ngân hàng vì các cơ
quan này chuyên làm các việc như cho vay, bảo lảnh, chiết khấu, kí
thác và phát hành giấy bạc. 1.2. Cơ sở ra đời của tín dụng
Khi có sự phân công lao động xã hội và sự xuất hiện của sở
hữu tư nhân về tư liệu sản xuất thì tín dụng ra đời. Sở hữu tư nhân về
tư liệu sản xuất dẫn đến sở hữu tư nhân về sản phẩm làm ra. Xã hội
có sự phân hoá giàu nghèo. Những người nghèo khi gặp khó khăn

tín dụng dưới hình thức vay ngân hàng, phát hành trái phiếu, mua
chịu hàng hoá. Khối lượng vốn tín dụng ngày ngày càng lớn, các
hình thức tín dụng ngày càng đa dạng (tín dụng nhà nước,ngân hàng,
thuê mua, nặng lãi ).
1.3. Bản chất của tín dụng
Tín dụng rất phong phú và đa dạng về hình thức. Bản chất của
tín dụng thể hiện ở các phương diện sau: Một là người sở hữu một số
tiền hoặc hàng hoá chuyển giao cho người khác sử dụng một thời
gian nhất định. Lúc này, vốn được chuyển từ người cho vay sang
người vay. Hai là, sau khi nhận được vốn tín dụng, người đi vay
được quyền sử dụng để thõa mãn một hay một số mục đích nhất định.
Ba là, đến thời hạn do hai bên thỏa thuận, người vay hoàn trả lại cho
người cho vay một giá trị lớn hơn vốn ban đầu, tiền tăng thêm được
gọi là phần lãi.
Các Mác đã viết về bản chất của tín dụng như sau: “ Tiền
chẳng qua chỉ rời khỏi tay người sơ hữu một thời gian và chẳng qua
chỉ tạm thời chuyển từ tay người tư hữu sang tay nhà tư bản hoạt
động, cho nên tiền không phải bỏ ra để thanh toán, cũng không phải
tự đem bán đi mà cho vay, tiền chỉ đem nhượng lại với một điều kiện
là nó sẽ quay về điểm xuất phát sau một kì hạn nhất định”. Đồng thời
CácMác cũng vạch ra yêu cầu của việc tiền quay trở về điểm xuất
phát là: “vẫn giữ được nguyên vẹn giá trị của nó và đồng thời lại lớn
lên trong quá trình vận động”. Đến nay các nhà kinh tế đã có nhiều
định nghĩa khác nhau về tín dụng nhưng đều phản ánh một bên là đi
vay và một bên là cho vay, nó dựa trên cơ sở của lòng tin. Lòng tin
được thể hiện trên khía cạnh: người cho vay tin tưởng người đi vay
sử dụng đúng mục đích, có hiệu quả và là quan hệ có thời hạn, có
hoàn trả. Đây là bản chất của tín dụng.
những người tích luỹ, tạo nên quá trình tập trung vốn được thực hiện

nhanh chóng và có hiệu quả đã tạo khả năng cung ứng vốn cho nền
kinh tế, đặc biệt là nguồn vốn dài hạn các doanh nghiệp, các nhà đầu
tư nhờ nguồn vốn tín dụng có thể nhanh chóng mở rộng sản xuất,
thực hiện các dự án đầu tư tạo những bước nhảy vọt về năng lực sản
xuất do tiếp cận được với phương tiện máy móc hiện đại, từ đó thúc
đẩy sản xuất phát triển.
- Tín dụng góp phần điều chỉnh ổn định và tăng trưởng kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường, các nhà đầu tư thường chỉ tập
trung vốn đầu tư vào các lĩnh vực có lợi nhuận cao, trong khi đó, nền
kinh tế đòi hỏi phải có sự phát triển cân đối, đồng bộ giữa các ngành
và các vùng, yêu cầu phải có những ngành then chốt, mũi nhọn để
tạo đà cho nền kinh tế phát triển nhanh chóng.
Tín dụng thông qua cung cấp vốn, đặc biệt là vốn trung và dài
hạn đầy đủ, kịp thời với lãi suất và điều kiện cho vay ưu đãi, có vai
trò quan trọng trong việcgóp phần đảm bảo vốn đầu tư cho cơ sở hạ
tầng, hình thành các ngành then chốt, mũi nhọn và các vùng kinh tế
trọng điểm góp phần hình thành cơ cấu kinh tế tối ưu. Chẳng hạn,
với ưu đãi về vốn, lãi suất, thời hạn và điều kiện vay vốn với nông
nghiệp , nông thôn để xây dựng cơ sở vật chất, kết cấu hạ tầng, tín
dụng góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp.
Tín dụng còn là phương tiện để nhà nước thực hiện chính sách
tiền tệ thích hợp để ổn định nền kinh tế khi nền kinh tế có dấu hiệu
bất ổn. Chẳng hạn như khi nền kinh tế phát triển chậm, sản xuất đình
trệ, nhà nước thực hiện chính sách tiền tệ “nới lỏng”, ngân hàng
trung ương thực hiện mua các chứng khoán của các ngân hàng

bị và tiếp cận với những thành tựu khoa học kĩ thuật mới cũng như
trình độ quản lý tiên tiến trên thế giới. Việc cấp tín dụng của các
nước không chỉ mở rộng và phát triển quan hệ ngoại thương, mà còn
tạo điều kiện thúc đẩy phát triển kinh tế ở các nước nhập khẩu. Tín

dụng đã tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư quốc tế trực tiếp – một
hình thức hợp tác kinh tế ở mức độ cao hơn.
1.5. Một số hình thức tín dụng chủ yếu
- Tín dụng thương mại: Là quan hệ tín dụng giữa các nhà
doanh nghệp với nhau và được biểu hiện dưới hình thức mua bán
chịu hàng hoá. Người bán chuyển hàng hoá cho người mua, người
mua được sử dụng hàng hoá trong một thời gian nhất định. Đến hạn
nhất định người mua phải trả tiền cho người bán thông thường bao
gồm cả lãi suất. Trong trường hợp này người mua không được hưởng
chiết khấu bán hàng. Cơ sở pháp lí để xác định nợ trong quan hệ tín
dụng thương mại là các giấy nợ.
Do có tín dụng thương mại nên đã đáp ứng được nhu cầu vốn
cho các doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn trong thời hạn ngắn, giúp
cho các doanh nghiệp tiêu thụ được hàng hoá, các chủ doanh nghiệp
khai thác được nguồn vốn đáp ứng kịp thời cho sản xuất kinh doanh.
Tuy nhiên tín dụng thương mại cũng có những hạn chế nhất
định. Thứ nhất là hạn chế về quy mô tín dụng. Nếu người cần vốn có
nhu cầu cao thì người bán không thể đáp ứng được. Thứ hai là hạn
chế về thời hạn cho vay, thời hạn cho vay thường là ngắn. Ba là hạn
chế về số lượng người tham gia. Chỉ có một số doanh nghiệp nhất
định tham gia vào hình thức này. Đó là những doanh nghiệp cần hàng
hoá dự trữ để đưa vào sản xuất ngay, những doanh nghiệp cần tiêu

động vốn rộng lớn gồm cả trong nước và nước ngoài. Hình thức huy
động vốn rất phong phú. Có thể dưói hình thức cho vay trực tiếp
nước ngoài bằng công trái, bằng tiền, bằng vàng, bằng ngoại tệ dưới
hình thức là phiếu, tín phiếu, trái phiếu của chính phủ tín dụng ngắn
hạn, tín dụng dài hạn. Tín dụng nhà nước vừa mang tính lợi ích kinh
tế vừa mang tính cưỡng chế chính trị xã hội.
- Tín dụng không chính thống: là quan hệ tín dụng giữa cá
nhân với nhau không đặt dưới quan hệ pháp luật

Hoạt động của quan hệ không chính thống không chịu sự quản
lí và giám sát của nhà nước, hoạt động trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau.
Lượng vốn vay nhỏ, thời gian vay ngắn, lãi suất vay cao hay thấp tuỳ
thuộc vào mối quan hệ giữa người đi vay và người đi vay. Thủ tục
vay thường đơn giản, tiện lợi, bất cứ lúc nào cũng có sẳn. Chính vì
vậy mà trong nền kinh tế hiện đại loại hình này vẫn tồn tại khá phổ
biến, hình thức hoạt động phong phú, đa dạng.
- Tín dụng thuê mua: là quan hệ tín dụng giữa các doanh
nghiệp thuê tài sản với các tổ chức tín dụng thuê mua như các công
ty thuê mua, các công ty tài chính
Tín dụng thuê mua là kiểu cho thuê tài sản chuyên dụng kèm
theo lời hứa sẽ bán lại về sau, chậm nhất là khi kết thúc hợp đồng
cho người thuê theo giá thoã thuận từ đầu.
2. Thực tiễn tín dụng ở Việt Nam
Nước ta hiện nay hệ thống tín dụng bắt đầu phát triển mạnh.
Trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội đòi hỏi phải có nền kinh tế
phát triển vững mạnh. Vì vậy nhu cầu về vốn ngày càng nhiều, vốn
được coi là yếu tố hàng đầu, là tiền đề phát triển kinh tế.

dụng. Các quan hệ tín dụng được mở rộng. Các hệ thống ngân hàng
và các tổ chức tín dụng có mặt ở hầu hết mọi nơi. Hệ thống ngân
hàng việt nam đã có vai trò quan trọng trong việc huy động và cho
vay vốn tới các thành phần kinh tế.
Thực hiện nhiệm vụ chủ yếu mà thống đốc ngân hàng nhà nước
đã đề ra là triệt để khai thác nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội để đâù
tư phát triển. Nhiều chi nhánh ngân hàng công thương đã đa dạng
hoá các hình thức huy động vốn với lãi suất hấp dẫn theo cơ chế thị
trường. Nguồn vốn huy động của toàn hệ thống luôn duy trì mức tăng
trưởng ổn định. Tính đến tháng 10/2000 tổng vốn huy động tăng 24%
so với đầu năm. Trong đó vốn huy động đồng việt nam tăng 20,5%.

Ngân hàng công thương việt nam, luôn năng động, sáng tạo mở
ra nhiều loại hình cho vay mới, chủ động tìm kiếm các dự án khả thi.
Nâng cao năng lực thẩm định, mở rộng diện đầu tư. Khách hàng là
mọi thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước
ngoài. Hợp tác với các ngân hàng bạn để cho vay hợp vốn, đồng tài
trợ trong lĩnh vực Điện lực, Bưu chính viễn thông, hoạt động xuất
nhập khẩu đáp ứng cao nhất cho nhu cầu vốn cho sản xuất kinh
doanh. Tín dụng của ngân hàng công thương đã tập trung vào các
ngành kinh tế mũi nhọn như các tổng công ty lớn nhà nước, tạo bước
chuyển mới trong cơ cấu tín dụng, dịch vụ và kinh doanh tiền tệ.
Ngoài chức năng chủ yếu là kinh doanh, ngân hàng công
thương vẫn phát triển cho vay theo chính sách và thực hiện các
chương trình kinh tế xã hội của nhà nước giao như cho vay khắc
phục hậu quả bão lụt, cho vay tạo việc làm cho người hồi hương từ
Đức, cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ, cho vay phát triển kinh tế

III. Kết luận.
Hoạt động tín dụng có vai trò hết sức quan trọng trong công
cuộc phát triển kinh tế. Vì vậy việc mở rộng và phát triển tín dụng là
tất yếu khách quan. để tạo nguồn vốnphục vụ đầu tư phát triển,công
nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế, hệ thống ngân hàng Việt Nam
cần tiếp tục hoàn chỉnh đưa vào hoạt động các thị trường tiền tệ (như
thị trường liên ngân hàng; thị trường đấu giá tín phiếu kho bạc); và
cùng với các ngành đưa vào hoạt động thị trường chứng khoán trong
thập kỷ này. Thực hiện chính sách huy động vốn và cho vay vốn tích
cực, mạnh mẽ vừa đảm bảo về khối lượng vừa chú trọng hiệu quả
chất lượng sử dụng vốn đảm bảo khả năng hoàn trả. Về việc huy
động vốn, trước hết, cần khẳng định rằng trong điều kiện thu nhập
bình quân theo đầu người còn thấp như hiện nay, khả năng tiết kiệm
của nhân dân nhìn chung hạn hẹp. Bằng các hình thức huy động tiết
kiệm phong phú với lãi suất khá cao hiện nay, hệ thống ngân hàng đã
thu hút được phần lớn tiền nhàn rỗi trong dân cư ( tiền gửi của khách
hàng tại các tổ chức tín dụng đã chiếm tới 65% tổng phương tiện
thanh toán của nền kinh tế). Để nền kinh tế có tăng trưởng cao, tín


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status