Hoàn thiện chất lượng sản phẩm gia vị mang thương hiệu Chinsu trên thị trường Hà Nội - Pdf 12

Đề án môn học
Lời nói đầu

Trong bối cảnh xu thế thời đại ngày nay để tăng cờng sự hội nhập với nền kinh tế
trong nớc cũng nh sự phát triển của các nớc trong khu vực và trên thế giới. Việc đổi
mới nhận thức trong cách làm, cách tiếp cận với mô hình quản lý chất lợng sản
phẩm nhằm tạo đợc chỗ đứng trong tâm trí khác hàng đồng thời từ đó phát triển thị
trờng ra các khu vực khác. Đó là một vấn đề sống còn với bất kỳ một doanh nghiệp
nào, nhất là trong giai đoạn tăng trởng mạnh mẽ của nền kinh tế nớc ta và sắp tới
là hội nhâp AFTA và WTO. Đó là những bớc đi cơ bản và cần thiết của đất nớc dể
sánh ngang với các nớc trong khu vực và trên thế giới. Nhng bên cạnh đó có những
câu hỏi đặt ra cho các doanh nghiệp trong nớc đó là : chất lợng hay là chết . Bởi
lẽ khi đất nớc hội nhập với thế giới thì toàn thế giới sẽ là một sân chơi và luật chơi
công bằng. Sự cạnh tranh gay gắt là không tránh khỏi và không đợc phép khoan
nhợng với bất kỳ đối thủ nào
Tuy nhiên sự chuyển mình của hệ thống quản lý chất lợng trong các doanh
nghiệp Việt Nam thời gian qua mặc dù đ có nhiều tiến bộ nhã ng cha đáp ứng đợc
nhu cầu của thị trờng trong nớc và quốc tế. Việc quản lý chất lợng sản phẩm ở các
doanh nghiệp Việt Nam gặp tơng đối nhiều khó khăn và thách thức .
Để thấy rõ hơn vai trò của chất lợng sản phẩm trong hoạt động kinh doanh em đã
đi sâu vào một sản phẩm cụ thể của một doanh nghiệp cụ thể . Do đó đề tài mà em
chọn để trình bày trong đề án này là: Hoàn thiện chất lợng sản phẩm gia vị
mang nhãn hiệu Chinsu trên thị trờng Hà Nội
Đề án này của em gồm những phần cụ thể sau :
I. Chất lợng sản phẩm và vai trò của nó trong hoạt động kinh doanh
II. Công ty Masan và sản phẩm gia vị Chinsu trên thị trờng Hà Nội
III. Đánh giá của khách hàng Hà Nội về chất lợng sản các sản phẩm gia vị
mang nh n hiệu Chinsu của công ty Masanã
Sinh viên: Lê Thái Bình Dơng Lớp Marketing 44B
1
Đề án môn học

Theo tiêu chuẩn công nghiệp Nhật Bản thì quản lý chất lợng sản phẩm là hệ
thống phơng pháp tạo điều kiện sản xuất tiết kiệm những hàng hoá có chất lợng
thoả m n nhu cầu ngã ời tiêu dùng .
Theo tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO, một hệ thống tiếp thu sáng tạo các
luồng t tởng, kinh nghiệm thực hành hiện đại dựa trên cách tiếp nhận khoa học,
logic đ khái niệm nhã sau: quản lý chất lợng sản phẩm là tập hợp những hoạt động
của chức năng quản lý chung, xác định chính sách chất lợng, mục đích trách nhiệm
và thực hiện chúng thông qua các biện pháp nh lập kế hoạch chất lợng, đảm bảo
và cải tiến chất lợng trong khuôn khổ của hệ thống chất lợng .
Sinh viên: Lê Thái Bình Dơng Lớp Marketing 44B
3
Đề án môn học
Để có thể sản xuất ra những sản phẩm có chất lợng và đảm bảo chất lợng trong
quá trình lu thông trên thị trờng thì doanh nghiệp phải xây dựng cho mình một mô
hình quản lý chất lợng thích hợp và chặt chẽ. Quản lý chất lợng sản phẩm đợc nhìn
nhận một cách toàn diện trên cơ sở quản lý chất lợng công việc ở từng giai đoạn,
từng ngời từ khâu Marketing, thiết kế, sản xuất, phân phối đến dịch vụ sau bán
hàng. Quá trình đó đợc mô tả dới dạng sơ đồ hay còn gọi là mô hình quản lý chất l-
ợng.
Khi doanh nghiệp quyết định đa sản phẩm ra thị trờng thì rủi ro và những rào cản
là rất lớn . Bởi những đối thủ cạnh tranh có sẵn trên thị trờng , để có đợc thị trờng t-
ơng đối doanh nghiệp phải tạo ra sản phẩm khác biệt và có chất lợng hơn hẳn đối
thủ cạnh tranh . Có nh vậy doanh nghiệp mới tồn tại đợc trên thị trờng cạnh tranh
khắc nghiệt nh ngày nay. Trong bối cảnh nh vậy chất lợng sản phẩm là một công
cụ hữu hiệu để cạnh tranh trên thị trờng. Những sản phẩm thực sự có chất lợng sẽ
đợc ngời tiêu dùng chấp nhận v ỏnh giỏ cao. ú cng l mc tiờu m
doanh nghip hng ti. Mun vy doanh nghip phi cú nhng
sn phm ỏp ng c nhu cu v mong mun ca khỏch hng.
Trong ú cht lng sn phm phi t lờn hng u. Cht lng
sn phm phi c xỏc nh t khõu thit k sn xut v cung

theo là pháp lệnh đo lường do hội đồng nhà nước ban hành 16
tháng 7 năm 1990 và pháp lệnh chất lượng hàng hoá được công bố
ngày 2 tháng 1 năm 1991. Đó là những văn bản quan trọng thể hiện
quan điểm nhận thức của lãnh đạo nhà nước về chất lượng sản
phẩm. Từ đó ta thấy được chất lượng sản phẩm đã trở thành vấn
đề mang tính vĩ mô và các doanh nghiệp cũng cần có thái độ
nghiêm túc về vấn đề này. Đặc biệt cuối năm 1999 đầu năm 2000
với việc đổi mới sâu sắc văn bản pháp lệnh nhà nước về chất lượng
hàng hoá đã đánh dấu bước ngoặt trong công tác quản lý chất
lượng sản phẩm. Văn bản này đã có hiệu luwc thi hành từ 01 tháng
Sinh viªn: Lª Th¸i B×nh D¬ng Líp Marketing 44B
5
§Ò ¸n m«n häc
07 năm 2000. Điều đó tạo điều kiện cho việc đổi mới hoạt động
quản lý chất lượng sản phẩm trong giai đoạn mới.
Những cải tiến bước đầu về quản lý chất lượng sản phẩm đã
được triển khai từ những cơ quan nhà nước đến các cơ sở kinh
doanh. Điều đó đã đem lại những sắc thái mới, tạo ra sự phong phú
đa dạng cho thị trường và tạo điều kiện thuận lợi cho sự chuyển
biến về nhận thức của các nhà lãnh đạo, các cấp quản lý và các
nhân viên trong các doanh nghiệp về công tác quản lý chất lượng
sản phẩm
Không một nhà lãnh đạo doanh nghiệp nào còn nghi ngờ về yếu tố
cạnh tranh của chất lượng sản phẩm. Đó là sự sống còn của doanh
nghiệp. Đặc biệt với các doanh nghiệp muốn vươn ra thị trường
quốc tế. Để cạnh tranh về chất lượng với các doanh nghiệp nước
ngoài quả là khó khăn khi mà các doanh nghiệp nước ngoài có trình
độ khoa học và kỷ luật lao động rất cao. Nhưng điều đó không có
nghĩa là không làm được. Trong thời gian vừa qua cùng với những
đổi mới quan trọng về công tác quản lý vĩ mô, hệ thống quản lý chất

TT Tên doanh nghiệp Sản phẩm chính
Số lao
động
Nhận thức về
ISO-9000
1 XN dệt len Sài Gòn Quần áo len dệt 400 không
2 Công ty Thiên Tân Chăn len mỏng 80 không
3 HTX may Tiến Bộ Quần áo may sẵn 200 Rất ít
4 Nhà máy dệt Tân Tiến Khăn ăn, khăn mặt 60 rất ít
5 XN thảm len Đống Đa Thảm len, may mặc 510 không
6 Công ty TNHH Ngọc
Phương
Quần áo may sẵn 125 rất ít
7 Công ty TNHH Đại
Phong
May mặc 217 không
8 Trung tâm may Kiến An Con giống nhồi bông 417 rất ít
9 Công ty HERPO Quần áo may sẵn 170 không
Sinh viªn: Lª Th¸i B×nh D¬ng Líp Marketing 44B
7
§Ò ¸n m«n häc
10 Công ty TNHH Hiệp
Hưng
Thêu len, may sẵn 600 không
11 Công ty TNHH Nam
Thanh
Hàng dệt len 200 không
Từ bảng kết quả điều tra ban đầu ta thấy nhận thức của các
doanh nghiệp về vấn đề chất lượng sản phẩm là quá ít. Đó là một
khiếm khuyết lớn sẽ dẫn đến hậu quả khôn lường nếu không sửa

tiềm lực tài chính khá mạnh và nguồn nhân lực có chất lượng.
Masan là nơi hội tụ khá đầy đủ các ‘’anh hào’’ của các tập đoàn đa
quốc gia. Thanh nam châm thu hút nhân tài của Masan không phải
là mức lương hậu hĩ, vượt trội mà là một chí hướng mang tính
‘’mầu cờ sắc áo’’. Sự hợp tác để xây dựng một tập đoàn Việt nam
lớn mạnh có khả năng cạnh tranh nagng ngửa với các tập đoàng
nước ngoài trong tương lai. Ông Nguyễn Đăng Quang chủ tịch tập
đoàn Masan nói :’’Có một thứ rất quan trọng mà các công ty đa
quốc gia đóng góp cho nền kinh tế Việt Nam đó là phương pháp và
môi trường làm việc công nghiệp’’. Masan thu hút được đội ngũ
những người chuyên nghiệp vì người Việt Nam ngoài nhà cửa, tiền
lương họ còn mong muốn một chút gì đó mang tính mầu cờ sắc áo.
Sản phẩm chính của công ty là các loại gia vị, thực phẩm ăn nhẹ
như xúc xích, mì ăn liền. Ngoài ra công ty còn kinh doanh nhiều mặt
hàng khác nữa. Nhưng ở đề án này em chỉ trình bày riêng về mặt
hàng gia vị mang nhãn hiệu Chinsu của công ty Masan. Thương
hiệu Chinsu đã trở nên quen thuộc với người tiêu dùng trên thị
trường Hà Nội. các sản phẩm gia vị bao gồm nước mắm, tương ớt,
nước tương đã được nhiều gia đình sử dụng trong các bữa ăn hàng
ngày như một phần không thể thiếu. Công ty Masan đã chinh phục
được người tiêu dùng trên thị trường Hà Nội bằng chất lượng sản
Sinh viªn: Lª Th¸i B×nh D¬ng Líp Marketing 44B
9
§Ò ¸n m«n häc
phẩm và cung cách phục vụ. Công ty luôn đặt lợi ích cuả khách
hàng lên trên hết, ban lãnh đạo công ty cùng đội ngũ công nhân
viên luôn lao động hết mình vì lợi ích của công ty và khách hàng vì
công ty luôn ý thức rằng chỉ có giữ chân được khách hàng thì mới
đứng vững được trên thị trường, mà muốn giữ chân khách hàng thì
phải tạo ra những sản phẩm có chất lượng ổn định và đồng đều. Đó

Bên cạnh đó các cơ sở sản xuất nhỏ cũng tăng bình quân từ 20%
đến 30% trong năm qua.
Hai yếu tố chính được các công ty lớn tập trung khai thác và xây
dựng thương hiệu giành thị phần là nâng cao chất lượng và tiếp thị,
kinh doanh có bài bản. Điểm lại sự ra mắt của hạt nêm Knor, Maggi,
Ajingon và mới nhất là Chinsu ta sẽ thấy rõ điều này. Ông Nguyễn
Đăng Quang tổng giám đốc công ty Masan, đơn vị tham gia kinh
doanh nhãn hiệu Chinsu nói :’’ Ba yếu tố để một nhà kinh doanh có
thể tự tin bước vào cuộc cạnh tranh gia vị hiện nay là khẩu vị, công
nghệ và hệ thống phân phối. Nhưng trước hết phải có sản phẩm
thực sự có chất lượng’’. Điều đó cho thấy bản thân lãnh đạo công ty
Masan rất chú trọng đến chất lượng sản phẩm.
Nhìn vào số lượng trên 100 nhãn hiệu gia vị lớn nhỏ ở các địa
phương trên cả nước nhiều người dễ lầm rằng mọi nhu cầu tiêu
dùng đều đã được đáp ứng. Nhưng thực tế theo đánh giá của các
nhà kinh doanh mức tiêu thụ gia vị trong mỗi nghành chỉ ở mức
dưới trung bình. Ví dụ với dân số 80 triệu ngườ tiêu thụ nước tương
của Việt Nam mới chỉ trên 10 triệu lít. Bình quân chưa đến 1chai/ 1
người/ 1 năm. Trong khi đó con số này ở các nước khác là 2 đến 3
chai/1người/1 năm. Trong mỗi nhóm mặt hàng những nhà sản xuất
có thương hiệu vượt trội khẳng định uy tín toàn quốc chưa nhiều
mà chủ yếu thể hiện ở lợi thế địa phương. Do vậy gần đây xuất hiện
xu hướng cạnh tranh đặc sản khá rõ. Như nước mắm Nha Trang
Sinh viªn: Lª Th¸i B×nh D¬ng Líp Marketing 44B
11
§Ò ¸n m«n häc
cung với Phú Quốc, Phan Thiết đang giành lấy thị trường ở các đô
thị lớn. Các công ty ở miền bắc như Long Vân cũng vượt cả ngàn
cây số đưa sản phẩm vào ra mắt người tiêu dùng phía nam mà
chẳng hề e sợ các nhãn hiệu Hưng thịnh, Thanh Hà……..Ngay cả

thì công ty Masan đã thành công khi tung ra nhãn hiệu Chinsu
Với thế mạnh là dòng sản phẩm cao cấp và có cá tính riêng nên
ngững sản phẩm gia vị mang nhãn hiệu Chinsu thường được bán ở
các siêu thị và các cửa hàng chuyên doanh. Nhưng trong những
tháng cuối năm 2001 hệ thống bán lẻ gia tăng mạnh mẽ. Điều đó
đang gây sức ép lên hệ thống phân phối của công ty. Ngay lập tức
công ty đã cho xây dựng ở Thành phố Hồ Chí Minh 25 cửa hàng
tiện nghi với phương thức bán lẻ hoàn toàn mới. Và đến tháng 12
năm 2001 công ty đã khai trương đồng loạt 25 cửa hàng. Kế hoạch
phát triển của công ty Masan được xem là có quy mô lớn về vốn
đầu tư cũng như số lượng cửa hàng. Ban giám đốc công ty dự kiến
sẽ đầu tư cho toàn dự án khoảng 75 tỉ đồng để đến năm 2003 xây
dựng một mạng lưới 300 cửa hàng ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà
Nội. Ông Nguyễn Tử Long phó tổng giám đốc công ty Masan cho
biết : ‘’ Hiện tại để có giá bán cạnh tranh với các siêu thị, các tiệm
tạp hoá hệ thống 25 cửa hàng của chúng tôi chấp nhận lỗ thời gian
đầu cho đến khi việc xây dựng thương hiệu thành công.
Những cửa hàng này hoạt động gần giống siêu thị nhưng mở
cửa từ 6h sáng đến 12h đêm. Cách trưng bày hàng hoá được sắp
xếp theo một trật tự nhất định và hoàn toàn giống nhau. Theo ông
Nguyễn Đăng Quang tổng giám đốc công ty cổ phần đầu tư Masan
thì thiết kế cửa hàng như vậy sẽ mang lại tiện nghi cho khách hàng,
tiết kiệm thới gian mua sắm. Masan không giao hàng tận nơi mà
chủ yếu dùng cung cách phục vụ, chất lượng hàng hoá để lôi kéo
khách hàng. Hiện nay sự phân cấp thị trường đã khá rõ ràng,
Sinh viªn: Lª Th¸i B×nh D¬ng Líp Marketing 44B
13
§Ò ¸n m«n häc
‘’miếng bánh’’ sẽ rơi vào tay kẻ khác nếu không biết phát huy thế
mạnh của mình. Do đó công ty đã tích cực xây dựng hệ thống bán


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status