Lời nói đầu
Trong nền kinh tế vẫn hành theo cơ chế thị trờng, việc sản xuất hàng hóa
phải tuân thủ theo quy luật của kinh tế thị trờng. Một quy luật rất cơ bản là quy
luật cạnh tranh. ở đó các doanh nghiệp muốn tồn tại, mở rộng và chiếm lĩnh thị tr-
ờng phả thắng lợi trong cạnh tranh. Và chất lợng sản phẩm ngày nay đã là một
trong những vũ khí cạnh tranh quan trọng nhất của các doanh nghiệp.
Ngày nay nhân loại đang chứng kiến những thay đổi lớn. Đó là cuộc cách
mạng khoa học - kỹ thuật diễn ra một cách mạnh mẽ và nhanh chóng. Nó ảnh h-
ởng tới tất cả các lĩnh vực đặc biệt là đối với công nghiệp. Sự phát triển mạnh mẽ
của các cuộc cách mạng ấy kéo theo một cuộc cách mạng mới - cuộc cách mạng
chất lợng đó là điều không còn phải nghi ngờ gì nữa. Và nh thế chất lợng sản
phẩm càng trở nên là một vũ khí cạnh tranh quan trọng quyết định sự thành bại
của doanh nghiệp trên thị trờng.
Đối với Công ty Bánh kẹo Hải Hàchất lợng sản phẩm quyết định đến đời
sống và sự tồn tại của Công ty cho nên không ngừng đảm bảo và nâng cao chất l-
ợng sản phẩm là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Xuất phát từ thực tế đó trong thời
gian thực tập tại Công ty Bánh kẹo Hải Hà em chọn đề tài:
Một số giải pháp nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao chất l ợng sản
phẩm ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà .
Nhằm góp phần nhỏ bé của mình tìm ra những quan điểm, phơng hớng và
biện pháp cơ bản nhằm đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm ở công ty.
Đề tài này đi sâu vào nghiên cứu chất lợng sản phẩm của Công ty Bánh kẹo
Hải Hà, từ đó đề xuất các biện pháp đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm.
Với nghĩa nh vậy chuyên đề bao gồm các nội dung cơ bản sau đây:
Chơng I: Những lý luận chung về chất lợng và quản lý chất lợng sản phẩm.
Chơng II: Thực trạng đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm ở Công ty
Bánh kẹo Hải Hà trong thời gian qua.
Chơng III: Phơng hớng và biện pháp nhằm góp phần đảm bảo và nâng cao
chất lợng sản phẩm ở Công ty Bánh kẹo Hải Hà.
1
Chơng I: Những lý luận chung về chất lợng và quản
2
Nh vậy hai trờng phái chất lợng trên đều có nhợc điểm, nếu theo trờng phái
thứ nhất thì khi xem xét về chất lợng sản phẩm họ chỉ chú ý tới các đặc tính nội tại
của sản phẩm mà không chú ý tới yêu cầu của khách hàng. Nếu theo trờng phái
thứ hai thì họ chỉ chú ý tới sự phù hợp của chất lợng sản phẩm mà bỏ qua những
đặc tính vố có của sản phẩm.
Ngoài hai trờng phái trên còn có một định nghĩa về chất lợng sản phẩm rút
ra từ hệ thống quản lý chất lợng ISO 9000 đợc đa số chấp nhận và phổ biến trên
thế giới: Chất lợng là mức độ tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu .
Đây có thể nói là một quan niệm hiện đại về chất lợng sản phẩm. Chất lợng sản
phẩm là tập hợp những thuộc tính nhằm thoả mãn nhu cầu phù hợp với công dụng
của nó, nhng nó không bao gồm hết mọi thuộc tính của sản phẩm mà chỉ bao gồm
những thuộc tính làm cho sản phẩm có khả năng thoả mãn đợc những nhu cầu
nhất định, phù hợp với công dụng của nó. Tập hợp các thuộc tính của sản phẩm
trong chất lợng sản phẩm không phải là một sự cộng đơn thuần mà trong đó các
thuộc tính có tác động tơng hộ với nhau. Sự thay đổi thành phần, cấu tạo và mối
quan hệ trong tập hợp các huộc tính sẽ tạo ra các chất lợng khác nhau.
Ví dụ yêu cầu đối với thực phẩm là:
+ Hàm lợng chất dinh dỡng.
+ Hàm lợng vệ sinh: Hàm lợng chất độc cho phép.
Nếu hàm lợng chất dinh dỡng vẫn cao nhng hàm lợng chất độc vợt quá cho
phép thì lập tức chất lợng sản phẩm này bằng 0 (tức là không đạt tiêu chuẩn chất l-
ợng).
Những chỉ tiêu, những thuộc tính của sản phẩm là những đặc tính về công
nghệ, nhng cũng có thể là các đặc tính về kinh tế, xã hội khác. Các đặc tính này
rất phong phú và đa dạng nh:
- Các tính chất các định tính năng, tác dụng và công nghệ của sản phẩm đó.
- Những tính chất thẩm mỹ: Hình dáng, kiểu cách, mầu sắc.
- Độ tin cậy của sản phẩm.
- Tuổi đời của sản phẩm.
Ngoài ra theo hệ thông chất lợng ISO 9000 ngời ta lại phân ra các loại chất
lợng sau đây:
- Chất lợng thiết kế của sản phẩm là giá trị riêng của các thuộc tính đợc phác
thảo trên cơ sở nghiên cứu trắc nghiệm của sản xuúat và tiêu dùng. Đồng thời có so
4
sánh với hàng tơng tự của nhiều nớc. Chất lợng thiết kế đợc hình thành ở giai đoạn
đầu của các quá trình hình thành chất lợng sản phẩm.
- Chất lợng phê chuẩn: Là giá trị riêng của những thuộc tính của sản phẩm
đợc thừa nhận, đợc phê chuẩn trong qúa trình quản lí chất lợng sản phẩm. Chất l-
ợng phê chuẩn có ý nghĩa pháp lệnh buộc phải thực hiện nghiêm chỉnh trong quá
trình quản lí chất lợng sản phẩm.
- Chất lợng thực tế: Chỉ mức độ thực tế đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của sản
phẩm. Bao gồm chất lợng thực tế trong sản xuất và chất lợng thực tế trong sử
dụng.
- Chất lợng cho phép: Là dung sai cho phép giữa chất lợng thực tế và chất l-
ợng phê chuẩn. Chất lợng cho phép phụ thuộc vào điều kiện kỹ thuật của từng b-
ớc, phụ thuộc vào trình độ lành nghề của nhân công. Khi chất lợng thực tế của sản
phẩm vợt quá dung sai cho phép thì hàng hóa sẽ bị xếp vào loại phế phẩm.
- Chất lợng tối u: Biểu thị khả năng thoả mãn toàn diễn nhu cầu của thị tr-
ờng trong những điều kiện xác định với những chi phí xã hội thấp nhất.Thờng ng-
ời ta phải giải quyết đợc mối quan hệ giữa chi phí và chất lợng sao cho chi phí
thấp nhất mà chất lợng vẫn đảm bảo.
Biểu đồ số 1. Chi phí
Chú thích:
(a): Đờng cong giá bán sản phẩm. a
(b): Đờng cong giá thành sản phẩm. b
Q1:Chất lợng thấp, giá thành thấp.
Q2: ứng với khoảng cách lớn nhất giữa
hai đờng cong là mức chất lợng có
lợi nhuận lớn nhất. Q1 Q2 Q3 Chất lợng
công ty. Tất cả các cá nhân, tổ chức sử dụng những loại sản phẩm trên đều là
khách hàng của công ty. Quản lí chất lợng có nhiệm vụ nâng cao chất lợng của tất
cả các loại sản phẩm của tất cả các loại sản phẩm trên để thoả mãn nhu cầu của tất
cả mọi loại khách hàng một cách tiết kiệm nhất.
- Quản lí chất lợng là vấn đề kinh doanh có ý nghĩa chiến lợc chứ không
phải chỉ là vấn đề công nghệ, kỹ thuật đơn thuần. Quản lí chất lợng là một bộ phận
6
quan trọng trong kế hoạch kinh doanh của công ty và cần phải thực hiện trong
toàn bộ các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh,từ điều tra nghiên cứu nhu
cầu thị trờng, thiết kế sản phẩm, thiết kế quy trình đến theo dỏi, kiểm tra giám sát
quá trình sản xuất và cung ứng,tiêu thụ sản phẩm của công ty. Quản lý chất lợng
phải tiến hành ở mọi cấp bao gồm:
+ Quản lý chiến lợc chất lợng.
+ Quản lý tác nghiệp chất lợng.
+ Lực lợng lao động và quản lí chất lợng.
- Nhng chi phí cho chất lợng sản phẩm trớc kia đợc hiểu là toàn bộ những
lãng phí đi kèm với phế phẩm phải bỏ đi và những chi phí có liên quan đến sửa
chữa lại những sản phẩm không đạt tiêu chuẩn. Ngày nay chi phí cho chất lợng
kém là toàn bộ những chi phí có thể loại bỏ khi tất cả các vấn đề trong hệ
thốngquản lí chất lợng đợc thực hiện tối u.
Quản lý chất lợng bao gồm 4 nội dung cơ bản sau:
- Hoạch định chất lợng: Là các hoạt động tập trung vào việc lập mục tiêu
chất lợng và qui định các quá trình tác nghiệp cần thiết và các nguồn lực có liên
quan để thực hiện các mục tiêu chất lợng.
- Kiểm soát chất lợng : Là các hoạt động tập trung vào thực hiện các yêu cầu
chất lợng .
- Đảm bảo chất lợng : Là các hoạt động tập trung vào cung cấp lòng tin rằng
các yêu cầu sẽ đợc thực hiện.
- Cải tiến chất lợng: Là các hoạt động tập trung vào nâng cao khả năng thực
hiện các yêu cầu.
Khâu thứ hai trong chuỗi xích này là thoả mãn các yêu cầu của ngời tiêu
dùng. Tất nhiên sản phẩm không đợc có khuyết tật hay hỏng hóc song chỉ điều đó
thôi thì cha đủ, phải cần đảm bảo chất lợng của bản thiết kế, bằng cách áp dụng
mọi biện pháp để sản phẩm đáp ứng hoàn toàn, mục tiêu và chức năng của nó là
chính mà điều ngời tiêu dùng mong đợi ở đó. Nói cách khác sản phẩm phải có chỉ
tiêu chất lợng thực tế.
Khi khách hàng tính sử dụng sản phẩm trong một thời gian dài thì điều kiện
đầu tiên là bán đợc sản phẩm đó là tuổi thọ cần thiết. Tuy nhiên để hàng hóa bị
8
hỏng bất ngờ thì phải tổ chức dịch vụ cung ứng linh hoạt các phụ tùng ở bất kỳ nơi
nào. Điều kiện tối cần thiết là sự bảo dỡng bổ sung phải có hiệu quả và thành thạo.
Không nên ngừng cung cấp phụ tùng sau thời gian kể từ khi sản xuất sản phẩm.
Để đảm bảo có hiệu quả chất lợng, lãnh đạo cấp trên phải xác định một
chính sách đúng đắn bao trùm đợc những bộ phận sau đây: Nghiên cứu khoa học,
kế hoạch, thiết kế, sản xuất, tiêu thụ và bảo dỡng. Không thể có sự đảm bảo chất l-
ợng hoàn toàn nếu thiếu sự tham gia của từng ngời, bao gồm tất cả các cán bộ của
công ty, của những ngời sản xuất và những ngời bán buôn, vào qua trình đó. Sự
đảm bảo chất lợng đợc tổ chức tốt, ở đó ngời ta làm theo khẩu hiệu: đảm bảo chất
lợng sản phẩm là sự nghiệp của chúng ta .
Đó là đảm bảo chất lợng sản phẩm, còn cải tiến và nâng cao chất lợng sản
phẩm là gì ? Chúng ta có thể hiểu nâng cao chất lợng là không ngừng đảm bảo
chất lợng sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của ngời
tiêu dùng.
Nh vậy đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm là hai mặt không thể tách
rời nhau, đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm cũng có nghĩa là nâng cao chất
lợng và ngợc lại, nâng cao chất lợng sản phẩm cũng bao hàm việc đảm bảo chất l-
ợng, giữa chúng không thể có mặt giới hạn phân định rõ rệt. Với ý nghĩa đó đảm
bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm là nhiệm vụ hàng đầu của các doanh nghiệp
hiện nay. Vì đảm bảo chất lợng sản phẩm là nội dung quan trọng và là cơ sở của
quản lí chất lợng sản phẩm tổng hợp. Thực chất của quản lí tổng hợp chất lợng là
Thứ nhất là luồng thông tin ngợc chiều, từ phòng KCS đến bộ phận sản
xuất của doanh nghiệp phải mất nhiều thời gian và số liệu thu đợc phân loại theo
các lô sẩn phẩm. Không bao giờ cũng dễ dàng sử dụng đợc nhng số liệu đó trong
sản xuất khi áp dụng nhng biện pháp tạm thời hoặc khi ngăn ngừa các khuyết tật
lặp lại. Thờng thì số liệu đó là vô ích.Trái với điều đó, nếu một công nhân sản
xuất chịu trách nhiệm về một sản phẩm cụ thể, thực hiện tự kiểm tra thì mối liên
hệ tức thời và sự thực hiện linh hoạt tác động hiệu chính đều đợc đảm bảo. Cách
tiếp cận đó cho phép giảm lợng sản phẩm khuyết tật đi rất nhiều.
Thứ hai liên quan tới rất nhiều sẩn phẩm mà chất lợng sản phẩm không thể
chỉ đảm bảo đợc nhờ kiểm tra chất lợng nhiều hàng hoá và vật liệu phức tạp, gốm
những thành phần khác nhau, chỉ có thể biết đợc trong quá trình sử dụng. Khi
doang nghiệp có xu hớng quản lý chất lợng tính theo tỷ lệ phần triệu, dựa trên sự
tiến hành thử nghiệm phá huỷ, những thử nghiệm vận hành trong những điều kiện
10
khó khăn, thì kiểm tra thờng không kinh tế và không thể tự nó đảm bảo mức chất
lợng cần thiết.
Và cuối cùng, cần chú ý rằng việc phát hiện các khuyết tật nhờ kiểm tra
thực ra không tạo điều kiện cho đảm bảo chất lợng thực tế. Khi phát hiện các
khuyệt tật nhà sản xuất chỉ có thể tiến hành các hiệu chỉnh, sửa lại sản phẩm hoặc
vứt bỏ nó. Trong bất kỳ trờng hợp nào năng xuất lao động cũng giảm và chi phí
cũng tăng. Ngoài ra, những sẩn phẩm bị làm lại hoặc sửa lại có xác suất hỏng lớn,
điều này trái hẳn với việc đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm.
Chừng nào còn có khả năng xuất hiện khuyết tật thì về nguyên tắc tất cả các
sẩn phẩm đều phải đơc kiểm tra. Một sự kiểm tra nh vậy có thể có dạng kiểm tra
sản phẩm đem giao, trớc khi sản phẩm đó rơi vào tay ngời đặt hàng, hoặc dạng
kiểm tra các lô hàng sản phẩm trong quá trình chế tạo, hoặc tự kiểm tra, hoặc sự
kiểm tra do phong KCS tiến hành. Nhiều doanh nghiệp giao sản phẩm của mình
mà không tiến hành kiểm tra thích hợp trong khi biết rõ ràng đang ở giai đoạn tiền
quản lý chất lợng
b.2.2. Đảm bảo chất lợng dựa trên quản lý quá trình sản xuất.
những điều kiện khác nhau. Nh vậy đảm bảo chất lợng và độ tin cậy đã có sặn
trong quá trình triển khai và chuẩn bị sản xuất các dạng sản phẩm mới.
Quản lí chất lợng không phủ nhận hoàn toàn ý nghĩa của kiểm tra. Tuy
nhiên cần nói chính xác rằng cho dù sản phẩm có kiểm tra cẩn thận thế nào đi nữa
bao giờ cũng tồn tại xác suất các kiểm tra có thể quên đi một cái gì đó và những lô
sản phẩm vẫn chứa một tỷ lệ sản phẩm khuyết tật nào đó.. Chỉ dựa vào kiểm tra là
không kinh tế, cần phải nhấn mạnh vào quá trình sản xuất, mặc dù trình độ sản
xuất hiện đại không loại trừ sự cần thiết phải kiểm tra. Về nguyên tắc trong khi
một quá trình công nghệ nào đó còn sản xuất những sản phẩm khuyết tật thì tất cả
các sản phẩm đều phải kiểm tra trớc khi xuất xởng. Chắc chắn việc kiểm tra tất cả
các đơn vị sản phẩm tự nó không có nghĩa là đảm bảo chất lợng.
Tơng tự nh vậy, dù cho việc đảm bảo ở khâu triển khai sản phẩm mới có đợc
tổ chức tốt nh thế nào đi chăng nữa, thì doanh nghiệp vẫn phải thực hiện quản lí
chặt chẽ quá trình sản xuất.
Khi xem xét vấn đề chất lợng sản phẩm, đảm bảo và nâng cao chất lợng sản
phẩm ta cần chú tới các vấn đề sau:
- Nghịch lí của chất lợng: Đối với trắng là đen, nhng khi hỏi cái gì không
trắng, ngời ta thờng trả lời là đen. Song câu trả lời chính xác phải là tất cả các màu
không phải là trắng. Do đó những màu không đen không chỉ là màu trắng mà là tất
cả các màu trừ màu đen. Trên cơ sở đó ta phân biệt hai khái niệm số lợng và chất
12
lợng. Chất lợng không phải là sự đối lập với số lợng. Nên quản lí chất lợng không
có nghĩa giảm số lợng xuống để tăng chất lợng lên.
Ví dụ: Nếu mỗi năm mỗi công ty chỉ sản xuất 50 chiếc Ti Vi màu với chi
phí một triệu đô la, một máy thì không thể bán đợc vì chi phí thực tế cho một
chiếc tivi màu hiện đang tiêu thụ chỉ là 200 USD. Nh vậy sản xuất ra những loại
sản phẩm qua cao về chất lợng với một số lợng quá ít ỏi sẽ làm kinh doanh trở nên
thua lỗ mà thua lỗ thì không thể tiếp tục đầu t để nâng cao chất lợng sản phẩm.
Ngợc lại nếu sản xuất kinh doanh có lãi thì có thể hạ giá bán một cách đáng kể mà
công ty vẫn thu đợc lợi nhuận. Do vậy các doanh nghiệp nên coi chất lợng là
- Đối với sản phẩm là máy móc thiết bị có thể sử dụng các chỉ tiêu cơ bản:
Độ bền, độ tin cậy, những chỉ tiêu mà dùng để xác định chất lợng sản phẩm có giá
trị lâu năm.
Độ bền (tuổi thọ) là thời gian sử dụng của nó cho đến thời kỳ h hỏng hoàn
toàn. Nó đợc tính bằng thời gian phục vụ. ( Tuổi thọ trung bình, thời hạn phục vụ
trung bình).
Độ an toàn tin cậy của sản phẩm là khả năng sử dụng trong điều kiện bình
thờng vận giữ nguyên các đặc tính sử dụng của nó. Các chỉ tiêu phản ánh nh: Xác
suất làm việc không hỏng hóc, khối lợng công việc trung bình đến lúc xuất hiện
hỏng hóc.
Các chỉ tiêu công nghệ của sản phẩm, đặc trng cho tính chất của sản phẩm
tạo ra sự phân phối tối u của các chi phí vật liệu, phơng tiện các chi phí về lao
động và thời gian trong một quá trình chuẩn bị công nghệ, chế tạo và vận hành.
Các chỉ tiêu về thông nhất hóa: Đặc trng cho mức độ sử dụng các bộ phận đ-
ợc tiêu chuẩn hóa, thống nhất hóa và riêng biệt cũng nh mức độ thống nhất hóa với
các sản phẩm khác.
Tiêu chuẩn thẩm mỹ: Tiêu chuẩn này cần đợc coi trọng, nó làm tăng vẻ đẹp
bề ngoài, đặc trng cho sự truyền cảm: màu sơn, trang trí thời trang, dáng dấp của
sản phẩm, tiện lợi cho tiêu dùng. Song cần lu ý là tiêu chuẩn thẩm mỹ chỉ có gí trị
làm tăng chất lợng khi sản phẩm đã đảm bảo các tiêu chuẩn kỹ thuật. Tiêu chuẩn
thẩm mỹ đóng vai trò to lớn trong việc đánh giá sản phẩm là máy móc thiết bị và
cả hàng tiêu dùng. Vì vận dụng đúng đắn hợp lí nguyên tắc của thẩm mỹ sản xuất
14
là bộ phận khăng khít của tổ chức lao động có khoa học. Nó tác động tiêu cực đến
công nhân, thúc đẩy tăng năng suất lao động.
Chỉ tiêu kinh tế: Chi phí nghiên cứu thiết kế chế tạo sản phẩm và kết quả thu
đợc cũng nh hiệu quả kinh tế.
Đối với các nguyên liệu thờng dùng các chỉ tiêu sau đây để phản ánh chất l-
ợng sản phẩm:
- Chỉ tiêu đặc trng cho tính năng cơ học, lý học, hoá học (độ cứng độ uốn
III. Những nhân tố ảnh hởng để chất lợng sản phẩm.
1. Nhu cầu thị trờng.
Đây là nhân tố ảnh hởng rất lớn đến cải tiến và nâng cao chất lợng sản
phẩm. Chất lợng sản phẩm bị ràng buộc chi phối bởi nhu cầu thị trờng. Tất cả các
đặc tính của sản phẩm sản xuất ra là nhằm đáp ứng nhu cầu của con ngời. Sự đa
dạng của nhu cầu và xu hớng vận động của nó quyết định đến phơng hớng hoàn
thiện chất lợng sản phẩm.
Thị trờng là nơi đặt ra các yêu cầu về chất lợng sản phẩm, là nơi đánh giá
chất lợng sản phẩm. Sản phẩm đa đến tay ngời tiêu dùng phải đảm bảo mức chất l-
ợng hợp lí mà ngời tiêu dùng có thể chấp nhận đợc.
Khi mà khách hàng chi một lợng tiền ra để nhận một lợng hàng hóa bao giờ
ngời tiêu dùng cũng quan tâm đến hai vấn đề đó là: Thứ nhất, lợng hàng hóa đó có
giá trị tơng xứng với đồng tiền bỏ ra hay không?. Thứ hai, qua sử dụng liệu có
thoả mãn yêu cầu đặt ra hay không. Do vậy sản phẩm có tiêu thụ đợc hay không
chính là do sản phẩm đó có thể đáp ứng đầy đủ các thuộc tính mà khách hàng yêu
cầu không. Từ đó mà doanh nghiệp muốn đa sản phẩm của mình ra thị trờng đợc
khách hàng chấp nhận thì trớc hết phải gắn chặt với thị trờng, nắm bắt yêu cầu của
ngời tiêu dùng về chất lợng sản phẩm trong từng thời kỳ để ra các phơng hớng về
chất lợng sản phẩm.
Sự cạnh tranh gay gắt trên thị trờng cũng ảnh hởng mạnh mẽ đến chất lợng
sản phẩm, vì chất lợng sản phẩm ngày nay đã trở thành vũ khí cạnh tranh hữu
hiệu. Ai có sản phẩm chất lợng luôn đảm bảo gây đợc lòng tin của khách hàng thì
ngời đó sẽ thắng và sẽ tồn tại phát triển không ngừng và ngợc lại.
Sự tác động của nhu cầu thị trờng đến chất lợng sản phẩm thể hiện càng rõ
trong thời kỳ bao cấp trớc đây. Nền kinh tế bao cấp không tồn tại thị trờng, mọi
công tác sản xuất, tiêu thụ đều theo kế hoạch định trớc, không có sự cạnh tranh.
16
Sản phẩm làm ra chắc chắn là tiêu thụ đợc, không biết tốt hay xấu, cho nên vấn đề
chất lợng không đợc quan tâm đúng mức. Đó là một lí do giải thích tại sao sản
phẩm của ta trong thời kỳ đó vô cùng thấp kém so với các sản phẩm cùng loại
hình thái tỷ trọng giá trị nguyên vật liệu chiếm từ 60 - 80% trong cơ cấu giá thành
sản phẩm. Trong cơ cấu vốn lu động với chức năng là tài sản lu động, giá trị
nguyên vật liệu cũng chiếm 60%. Nh vậy nguyên vật liệu đóng vai trò quan trọng
trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và đặc biệt càng quan trọng
đối với chất lợng sản phẩm.
Nguyên vật liệu ảnh hởng đến chất lợng trên các mặt chủ yếu sau đây:
3.1. ảnh hởng của thành phần hóa học.
Thành phần hoá học của nguyên vật liệu quyết định chất lợng của sản phẩm,
nó là căn cứ để đánh giá chất lợng sản phẩm.
Nó làm căn cứ để đảm bảo giá chất lợng, chẳng hạn qui định trong kem
đánh răng phải có chứa 1% Fluor, khi kiểm tra nếu không đạt tiêu chuẩn đó coi
nh sản phẩm không đạt tiêu chuẩn chất lợng.
3.2. ảnh hởng của độ ẩm nguyên vật liệu.
Là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lợng sản phẩm. Độ ẩm là hàm lợng
nớc có trong nguyên vật liệu (hay sản phẩm). Khi nguyên vật liệu có độ ẩm lớn nó
tạo điều kiện cho vi trùng hoạt động phá hoại sản phẩm, làm tăng cờng quá trình
sinh hoá bản thân sản phẩm dẫn đến làm giảm chất lợng sản phẩm. Khi nguyên
vật liệu có độ ẩm thấp hơn qui định thì cũng làm mất trạng thái tự nhiên của vật
liệu, làm giảm chất lợng sản phẩm.
Trong sản xuất kinh doanh, thành phần hoá học của nguyên vật liệu luôn
luôn biến đổi và phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong quá trình bảo quản, vận
chuyển,chế biến, cho nên chúng ta phải khống chế quá trình biến đổi này theo h-
ớng có lợi. Để đảm bảo chất lợng nguyên vật liệu. Trong trờng hợp, thành phần
hóa học của nguyên vật liệu có thay đổi thì trớc khi đa vào sản xuất phải tái chế để
đảm bảo chất lợng sản phẩm.
3.3. ảnh hởng của cấu tạo nguyên vật liệu:
Có nhiều dạng cấu tạo nguyên vật liệu:
- Dạng kết tinh, vô định hình.
- Dạng cấu tạo đặc, xốp.
-Dạng cấu tạo thô đặc và vi mô.
19
4. Trình độ ý thức của ngời lao động.
Trong bất kỳ cơ chế quản lí kinh tế nào, bất kỳ công ty nào, con ngời luôn
luôn là trung tâm của mọi quá trình quản lí. Con ngời luôn là yếu tố quyết định có
ảnh hởng đến mục tiêu đã đề ra. Là nhân tố cơ bản nhất của lực lợng sản xuất. Nếu
nh nguyên vật liệu cấu tạo nên thực thể của sản phẩm có các thuộc tính có ích, thì
việc làm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng và sản xuất là do con ngời quyết định. Dù
cho máy móc thiết bị có hoàn hảo đến đâu, nguyên vật liệu tốt đến đâu đi chăng
nữa mà ngời lao động không có tay nghề cao, không có ý thức lao động tốt thì kết
quả là tạo ra sản phẩm không thể có chất lợng cao đợc. Điều đó cũng khẳng định
rằng, con ngời là trung tâm của quản lí chất lợng.
Nhng chất lợng không chịu ảnh hởng của trình độ lao động mà còn phụ
thuộc rất lớn vào ý thức trách nhiệm và tinh thần hợp tác tham gia của ngời lao
động trong quá trình sản xuất kinh doanh. Hãy tởng tợng xem một ngời có đầy đủ
trình độ tay nghề cần thiết nhng ngời lao động đó làm việc trong tâm trạng thiếu
tập trung, hoặc là làm việc riêng trong quá trình sản xuất dẫn đến thao tác sai một
hoạt động nào đó trong qui trình công nghệ thì sẽ dẫn tới sản phẩm làm ra đó
không đạt tiêu chuẩn chất lợng đề ra. Do vậy và muốn đảm bảo và nâng cao chất l-
ợng sản phẩm trớc hết phải nâng cao chất lợng ngời lao động. Tổ chức lao động,
tạo điều kiện tốt cho môi trờng làm việc, nâng cao trình độ công nhân, khuyết
khích vật chất đối với ngời lao động sẽ là những biện pháp cơ bản đảm bảo và
nâng cao chất lợng sản phẩm.
5. Trình độ quản lí các hoạt động sản xuất kinh doanh.
Các yếu tố sản xuất nh nguyên vật liệu, máy móc, thiết bị dây chuyền sản xuất
và con ngời dù ở trình độ cao bao nhiêu nhng nếu không có sự quản lí, tạo ra sự phân
phối nhịp nhàng giữa các khâu,của bộ phận, các yếu tố của quá trính sản xuất thì
cũng cha chắc tạo ra đợc sản phẩm đầu ra chứ cha nói đến sản phẩm đó có chất lợng
cao. Thậm chí sự quản lí tối tức là vẫn thiếu sự đồng bộ còn làm giảm chất lợng sản
phẩm gây lãng phí nguồn lực lao động, vốn, kỹ thuật. Yếu tố này nó ảnh hởng gián
tiếp tới chất lợng sản phẩm nhng sự ảnh hởng đó là rất lớn. Và cũng vì lẽ đó mà
đảm bảo sử dụng một cách tiết kiệm, hợp lí nhất nguyên vật liệu, sức lao động,
nguồn vố của xã hội, để thoả mãn những yêu cầu của sản phẩm và của nhân dân.
Sản phẩm làm ra không tốt trớc hết gây khó khăn cho doanh nghiệp, sau đó gây
thiệt hại cho ngời tiêu dùng, đôi khi gây nguy hại cho họ, chẳng hạn thuốc men
thực phẩm...
- Trong điều kiện nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần, mở rộng hợp tác
với bên ngoài, nâng cao chất lợng sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho việc thâm
21
nhập thị trờng mới, tăng khả năng cạnh tranh của sản phẩm trên thị trờng quốc tế,
ngăn chặn hàng ngoại nhập, tăng nhanh và mở rộng sản xuất tăng ngành nghề tạo
điều kiện giải quyết các vấn đề xã hội nh: Thất nghiệp cũng nh các vấn đề khác
có liên quan.
- Trong phạm vi một doanh nghiệp việc đảm bảo chất lợng sản phẩm là hoàn
toàn có thể đợc và hoàn toàn có lợi, không phải mất thêm nhiều chi phí. Từ đó làm
tăng lợi nhuận của doanh nghiệp đó là nguồn lãi chân chính nhất.
Nâng cao chất lợng sản phẩm cũng làm thu nhập của công nhân viên tăng
lên mà vẫn ổn định tạo tâm lý gắn bó chặt chẽ với công ty và có ý thức tự giác
phấn đấu không ngừng nâng cao chất lợng sản phẩm bởi vì họ nhật thức đợc lợi
ích trực tiếp từ việc đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm.
Nâng cao chất lợng sản phẩm là điều kiện kiên quyết đảm bảo khẳ năng
cạnh tranh mở rộng thị trờng của doanh nghiệp, sản phẩm tiêu thụ đợc nhiều hơn,
phát triển sản xuất, tăng doanh thu và lợi nhuận. Thu hồi vốn nhanh do đó doanh
nghiệp tạo đợc uy tín trên thị trờng - đó là tài sản vô hình mà không phải dùng tiền
là mua đợc - tạo điều kiện cho doanh nghiệp đứng vựng trên thị trờng.
Nh vậy nâng cao chất lợng sản phẩm đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội to lớn
cho mọi đối tợng. Với t cách đại diễn cho lợi ích toàn xã hội. Nhà nớc cần tạo mọi
điều kiện thuận lợi khuyến khích các công ty không ngừng nâng cao chất lợng sản
phẩm. Chất lợng sản phẩm phải đợc coi là vấn đề có ý nghĩa chiến lợc trong việc
nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm công nghiệp Việt nam trên toàn thể
giới.
nghiệp đã và đang thực sự bị lôI cuốn vào cuộc cách mạng chất lợng. Chỉ có
không ngừng đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm thì sản phẩm của doanh
nghiệp mới đợc khách hàng tin dùng,uy tín của doanh nghiệp mới đợc nâng lên, từ
đó khả năng cạnh tranh mới đợc nâng lên và duy trì lâu dài.
- Đối với Công ty Bánh kẹo Hải Hà mục tiêu mà công ty đặt ra là mở rộng
thị trờng trong nớc và chuẩn bị tham gia vào thị trờng quốc tế (Nớc ngoài). Để
thực hiện đợc mục tiêu đó sản phẩm của Công ty phải tạo dựng đợc uy tín trên thị
trờng do đó đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm có tầm quan trọng đặc biệt
và phù hợp với từng thời kỳ,từng giai đoạn.
Nói tóm lại, đảm bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm là sự cần thiết khách
quan, nó có ý nghĩa to lớn đặc biệt là trong nền kinh tế thị trờng hiện nay. Đảm
bảo và nâng cao chất lợng sản phẩm là yêu cầu để phát triển kinh tế và là phơng h-
ớng chủ yếu để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và uy tín danh dự Công ty.
23
Chơng II: thực trạng đảm bảo và nâng cao chất l-
ợng sản phẩm tại Công ty bánh kẹo Hải hà trong
thời gian qua
I. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty:
1.Giới thiệu sơ lợc về Công ty
Công ty Bánh kẹo Hải Hà là một doanh nghiệp Nhà nớc thuộc bộ Công
nghiệp chuyên sản xuất kinh doanh các mặt hàng bánh kẹo phục vụ nhu cầu tiêu
dùng hàng ngày của mọi tầng lớp nhân dân.
Trụ sở của Công ty đặt tại:
Số 25 Trơng Định- Quận Hai Bà Trng- Hà Nội
Tên giao dịch: Haiha Confectionery Company
Viết tắt: HaiHaCo
Sau đây là những chặng đờng Công ty đã trải qua:
Giai đoạn từ 1959 1961:
Miền Bắc nớc ta sau ba năm khôi phục kinh tế và hàn gắn vết thơng chiến
tranh (1955 1957) đã có nhiều tiến bộ. Để thực hiện công cuộc xây dựng
thực phẩm Hải Hà.
Năm 1988, do việc sát nhập các nhà máy trực thuộc Bộ nông nghiệp và công
nghiệp thực phẩm quản lý. Thời kì này nhà máy mở rộng và phát triển thêm nhiều
dây chuyền sản xuất mới, dần thực hiện luận chứng kinh tế. Sản phẩm của nhà
máy đợc tiêu thụ rộng rãi trong cả nớc và xuất khẩu sang các nớc Đông Âu. Một
lần nữa nhà máy đổi tên thành Nhà máy xuất kẹo Hải Hà. Tốc độ tăng sản lọng
hàng năm từ 1%-15%, sản xuất từ chỗ thủ công đã dần tiến tới cơ giới hoá
70%-80% với số vốn Nhà nớc giao từ 1-1-1992 là 5454 triệu đồng.
Giai đoạn từ 1992 đến nay
Tháng 1-1992, nhà máy chuyển về trực thuộc Bộ công nghiệp nhẹ quản lý.
Trớc tình hình biến động của thị trờng nhiều doanh nghiệp đã phá sản nhng Hải
Hà vẫn đứng vững và vơn lên.
Tháng 7-1992 Nhà máy xuất khẩu kẹo Hải Hà đợc quyết định đổi tên thành
Công ty bánh kẹo Hải Hà, với tên giao dịch là HAIHACO trực thuộc Bộ công
25