1
LỜI CẢM ƠN!
Trên thực tế không có sự thành công nào mà không gắn liền với những sự hỗ trợ, giúp
đỡ dù ít hay nhiều, dù trực tiếp hay gián tiếp của người khác. Trong suốt thời gian từ
khi bắt đầu học tập ở giảng đường đại học đến nay, tác giả đã nhận được rất nhiều sự
quan tâm, giúp đỡ của quý Thầy Cô, gia đình và bạn bè. Với lòng biết ơn sâu sắc nhất,
tác giả xin gửi đến quý Thầy Cô ở Khoa Xã Hội Học – Trường Đại Học Khoa học xã
hội và Nhân văn đã cùng với tri thức và tâm huyết của mình để truyền đạt vốn kiến
thức quý báu cho tác giả trong suốt thời gian học tập tại trường. Và đặc biệt, trong
học kỳ này, Khoa đã tổ chức cho lớp xã hội học k16 được đi thực tập tại Cà Mau, qua
đó thu thập được nhiều kiến thức và kinh nghiệm cho tác giả và kết quả đề viết báo
cáo khoa học. Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ths. Phạm Thị Tú Anh đã tận tâm
hướng dẫn tác giả qua từng buổi học chuyên đề như những buổi nói chuyện, thảo luận
về đề tài mà tác giả đang nghiên cứu “Vấn đề tham gia sử dụng BHYT của nhóm
Doanh nhân tại Cà Mau hiện nay- Thực trạng và nguyên nhân”. Nếu không có những
lời hướng dẫn, dạy bảo của cô thì có lẽ bài báo cáo này của tác giả rất khó có thể
hoàn thiện được. Một lần nữa, tác giả xin chân thành cảm ơn cô!
Bài báo cáo được thực hiện trong khoảng thời gian gần 6 tuần. Bước đầu đi vào thực
tế, tìm hiểu về lĩnh vực an sinh xã hội, trong đó có BHYT, kiến thức của tác giả còn
hạn chế và còn nhiều bỡ ngỡ. Do vậy, không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả rất
mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý Thầy Cô và các bạn học
cùng lớp để kiến thức của tác giả trong lĩnh vực này được hoàn thiện hơn.
2
Lời cam đoan
Tác giả xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của tác giả.
Các thông tin, số liệu, kết quả nêu trong báo cáo là trung thực và chưa từng
được người khác công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
3
MỤC LỤC
4
I. MỞ ĐẦU
một nhóm tạo nên nguồn thu nhập lớn cho nền kinh tế quốc dân (nguồn: Vai
trò của doanh nghiệp trong việc thực hiện an sinh xã hội :
www.snv.binhdinh.gov.vn). Vậy những nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng
này, trong khi bảo hiểm y tế là một dịch vụ an sinh xã hội khá hữu ích.
Nhận diện vấn đề trên tác giả chọn đề tài “Vấn đề tham gia sử dụng BHYT
của nhóm Doanh nhân tại Cà Mau hiện nay- Thực trạng và nguyên nhân”.
Vì quy mô nghiên cứu khá rộng nên tác giả đã chọn một nhóm dân nhỏ để tìm
hiểu rõ nét hơn về tình hình sử dụng BHYT của nhóm dân cư doanh nhân, tuy
là đề tài đề cập là nhóm doanh nhân nhưng trong quá trình khảo sát tại địa
phương, đã đưa ra 3 nhóm đối tượng trong nhóm doanh nhân, bao gồm: doanh
nhân, tiểu thương, lao động khác. Vì vậy trong đề tài này tác giả xin đề cập thực
trạng chung của 3 nhóm trên.
2. ĐỐI TƯỢNG, KHÁCH THỂ, PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng: Vấn đề tham gia sử dụng BHYT
Khách thể: doanh nhân, tiểu thương, lao động khác tại tỉnh Cà Mau
Phạm vi: Phạm vi nghiên cứu được tiến hành ở 3 huyện và 1 thành phố : Huyện
Trần Văn Thời, Huyện Cái Nước, Huyện Thới Bình, Thành Phố Cà Mau – tỉnh
Cà Mau.
Đề tài chỉ giới hạn tìm hiểu về vấn đề sử dụng BHYT của nhóm doanh nhân,
tiểu thương, lao động khác tại tỉnh Cà Mau-Thực trạng và giải pháp để đảm bảo
việc sử dụng BHYT của nhóm dân cư này hiện nay.
Do hạn chế về thời gian và kinh nghiệm nên chưa thể nghiên cứu sâu vào nhiều
khía cạnh của vấn đề ASXH mà chỉ có thể nghiên cứu một mảng nhỏ là BHYT
và thực trạng của nó. Với mong muốn đề tài này sẽ được mở rộng hơn trong
tương lai.
3. MỤC ĐÍCH
Tìm hiểu về thực trạng tham gia sử dụng bảo hiểm y tế của nhóm doanh nhân,
tiểu thương, lao động khác tại Cà Mau hiện nay đang diễn ra như thế nào.
6
Những nguyên nhân dẫn đến thực trạng đó. Từ đây có thể đề xuất những
7
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số phương pháp liên ngành khác như: Phương
pháp phân tích tổng hợp, phương pháp diễn dịch, quy nạp…để trình bày nghiên
cứu và giải thích cho những số liệu mà nghiên cứu đưa ra.
6. LÍ THUYẾT NGHIÊN CỨU
Với đề tài này tác giả sử dụng lý thuyêt cấu trúc-chức năng làm lý thuyết
nghiên cứu. Lý thuyết cấu trúc-chức năng là lý thuyết mô tả các cấu trúc xã hội
ứng với các chức năng tương ứng với loại hình cấu trúc đó. Trong đề tài này tác
giả dử dụng lý thuyết này để phân tích nguyên nhân và chức năng của thực
trạng tham gia BHYT của nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao động khác. Chỉ ra
được cấu trúc xã hội là BHYT có những chức năng lợi ích gì đối với người dân
hiện nay. Giải thích được BHYT hình thành và bản chất của nó là như thế nào,
từ đó nó đem đến lợi ích gì cho người sử dụng. Dùng lí thuyết này xem xét liệu
rằng BHYT tồn tại có đóng góp vào sự ổn định và bền vững của một xã hội hay
không. Từ đó biết rằng BHYT tồn tại là nhờ vào chức năng riêng biệt đảm bảo
an sinh xã hội của nó.
7. CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Câu hỏi 1: Hiện nay thực trạng tham gia BHYT của nhóm doanh nhân tiểu
thương, lao động khác ở Cà Mau đang diễn ra như thế nào?
Câu hỏi 2: Những nguyên nhân nào dẫn tới những thực trạng đó?
8. KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
8.1. Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm được áp dụng trong lĩnh vực chăm
sóc sức khỏe, khụng vỡ mục đích lợi nhuận, do Nhà nước tổ chức thực
hiện và các đối tượng có trách nhiệm tham gia theo quy định của Luật
này. (Điều 2 luật BHYT )
8.2. Quỹ bảo hiểm y tế là quỹ tài chính được hình thành từ nguồn đóng bảo
hiểm y tế và các nguồn thu hợp pháp khác, được sử dụng để chi trả chi
phí khám bệnh, chữa bệnh cho người tham gia bảo hiểm y tế, chi phí
quản lý bộ máy của tổ chức bảo hiểm y tế và những khoản chi phí hợp
pháp khác liên quan đến bảo hiểm y tế. (Điều 33 luật BHYT )
2009-2012, có 14 tỉnh tỷ lệ tham gia BHYT tăng chậm (dưới 5%) và có 6 tỉnh
tỷ lệ tham gia BHYT giảm từ 1-7% (Bà Rịa–Vũng Tàu, Bình Dương, Đắk, Lắk,
Gia Lai, Vĩnh Long, trong đó Bến Tre giảm nhiều nhất khoảng 7%). Một số đối
tượng bắt buộc phải tham gia BHYT nhưng tỷ lệ đạt thấp đó là: người lao động
trong các doanh nghiệp đạt 54%, trong đó tư nhân chỉ đạt 20-30%, người thuộc
hộ cận nghèo được Nhà nước hỗ trợ 50% kinh phí mua BHYT và tăng lên 70%
từ tháng 6/2012 nhưng đến cuối năm 2012 chỉ đạt khoảng 25%, có nơi tỷ lệ
chỉ đạt từ 2-5%. Báo cáo đã chỉ ra được nguyên nhân và trách nhiệm đối với
những tồn tại trên là do hiệu quả công tác tuyên truyền còn thấp, các cấp chính
quyền chưa quan tâm đầy đủ việc triển khai chính sách, pháp luật BHYT, giá cả
dịch vụ y tế, đa số các tỉnh có tỷ lệ thấp là các tỉnh thuần nông, điều kiện kinh tế
ở mức trung bình. Bên cạnh đó việc quản lý, sử dụng quỹ và cấp, đổi thẻ BHYT
cũng đươc đề cập trong báo cáo.
Qua báo cáo đã cho thấy tình hình chung của việc thực hiện các chủ trương
chính sách và những kết quả đã đạt được, tuy nhiên luôn đi kèm những hạn chế
của quá trình thực hiện các chủ trương chính sách về pháp luật BHYT.
[2] Với đề tài: “Thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện ở thành phố Hà
Tĩnh” trên tạp chí Khoa Học và Phát Triển 2013 tập 11 , số 1: 115 -124, của tác
giả Chu Thị Kim Loan và Nguyễn Hồng Ban. Qua đề tài các tác giả đã tìm hiểu
được thực trạng tham gia bảo hiểm y tế (BHYT) tự nguyện của người dân trên
địa bàn thành phố Hà Tĩnh, từ đó đề xuất một số giải pháp thúc đẩy sự tham gia
của họ. Nghiên cứu tiến hành điều tra 200 hộ gia đình ở 4 xã/phường của thành
phố Hà Tĩnh vào giữa năm 2012. Kết quả điều tra cho thấy: Số lượng người
tham gia BHYT tự nguyện có xu hướng tăng lên nhưng vẫn chiếm một tỷ lệ
khiêm tốn trong tổng số người tham gia bảo hiểm y tế; Tỷ lệ người dân sử dụng
thẻ BHYT tự nguyện khi khám chữa bệnh (KCB) là khá cao; Người dân vẫn
gặp những phiền hà khi KCB bằng thẻ BHYT tự nguyện, đặc biệt là hiện tượng
phải chờ đợi lâu, nhân viên y tế chưa nhiệt tình. Kết hợp với ý kiến của người
10
được phỏng vấn, nghiên cứu đề xuất một số giải pháp để thúc đẩy người dân
từng tỉnh trong nước nên chưa thấy rõ được thưc trạng sử dụng của các vùng
các tỉnh khác nhau như thế nào.
Từ việc tổng quan các nghiên cứu, báo cáo trên tác giả mong tìm ra hướng đi
mới cho đề tài nghiên cứu của tác giả, thông qua tìm hiểu thực trạng an sinh xã
hội tại tỉnh Cà Mau tác giả đã chọn một mảng nhỏ trong an sinh xã hội là
BHYT mong sẽ để phân tích nhằm tìm ra những nhu cầu của người dân nơi
đây, để họ có thể được đảm bảo an sinh xã hội thực sự một cách bền vững. Vì
vậy hướng nghiên cứu của đề tài là nhằm tìm ra những quy luật chung của việc
tham gia và sử dụng BHYT của nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao động khác
và những nguyên nhân sâu xa của thực trạng đó. Từ đó có thể giúp nhà nghiên
cứu đề xuất những khuyến nghị giúp các nhà quản lí, lãnh đạo đưa ra những
giải pháp hữu hiệu nhất đối với nhóm tiểu thương nói riêng và người dân Cà
Mau nói chung về thực trạng tham gia sử dụng BHYT.
III. NỘI DUNG
1. Thực trạng tham gia và sử dụng BHYT của nhóm doanh nhân, tiểu thương,
lao động khác ở Cà Mau hiện nay
1.1. Nhận thức và sự quan tâm của người dân về BHYT
Trước hết muốn tìm hiểu về thực trạng tham gia BHYT của nhóm tiểu thương
cần phải tìm hiểu về nhận thức của họ để biết được vấn đề BHYT họ có hiểu
biết nhiều hay ít, có biết tới BHYT hay không và có thực sự quan tâm tới nó
hay không. Từ đó tác giả mới đi sâu nghiên cứu thực trạng tham gia sử dụng
BHYT của nhóm này.
Qua khảo sát tại Cà Mau cho thấy người dân nói chung và nhóm tiểu thương
nói riêng đa số đều biết đến BHYT, bởi nó gắn với sức khỏe của chính người
dân.
Bảng 1.1.1: Nhận thức về BHYT của nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao
động khác (Đơn vị: %)
Nhóm đối tượng
Doanh nhân/ tiểu thương/ lao động
12
hoàn toàn không quan tâm; 5 – rất quan tâm) (Đơn vị: %)
Nhóm đối tượng
Doanh nhân/ tiểu thương/ lao động khác
Count Row % Col %
Mức độ quan tâm quỹ bảo hiểm y tế
1
2
3
4
5
32
18
40
72
69
100.0%
100.0%
100.0%
100.0%
100.0%
13.9%
7.8%
17.3%
31.2%
29.9%
13
Total 231 100.0% 100.0%
(Nguồn: Xã hội học k16, kết quả khảo sát tại Cà Mau năm 2013)
Từ bảng số liệu 1.1.2 cũng đã cho ta thấy trong số 231 người trả lời về mức độ
quan tâm tới quỹ BHYT thì có tới 29.9% rất quan tâm tới loại quỹ này, trong
67
231
100.0%
100.0%
100.0%
71.0%%
29.0%
100.0%
(Nguồn: Xã hội học k16, kết quả khảo sát tại Cà Mau năm 2013)
Từ bảng 1.3.1. ta thấy rằng trong số 231 người trả lời thì có tới 164 người trả
lời có tham gia quỹ BHYT, chiếm tới 71%. Trong khi đó có 67 người trả lời là
không tham gia quỹ BHYT, chiếm 29%. Như vậy có thể nói đa số người dân
trong nhóm này đều tham gia sử dụng BHYT nhưng số người không tham gia
sử dụng BHYT vẫn còn chiếm con số khá cao. Nhưng số lượng tham gia sử
dụng BHYT vẫn chiếm số đông người trả lời điều đó cho thấy rằng người dân
trong nhóm này đã có hiểu biết về BHYT và quan tâm tới nó nên tham gia cũng
nhiều hơn.
Tham gia sử dụng BHYT là quyền lợi của người dân Cà Mau nói chung và
nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao động khác nói riêng. Họ tham gia nhiều phải
chăng họ đã nhận thấy mức độ quan trọng và lợi ích của BHYT trong việc
khám chữa bệnh hiện nay.
1.3.2.Số lượng có ý định tham gia BHYT
Bên cạnh những người có tham gia BHYT thì vẫn còn nhóm người tuy hiện tại
chưa tham gia sử dụng BHYT nhưng đang có ý định tham gia đóng quỹ BHYT
để phục vụ cho lợi ích của bản thân khi đi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế.
Nhóm người này phải chăng đã biết được lợi ích của việc tham gia sử dụng
BHYT nên đã có ý định muốn được sử dụng BHYT. Tuy rằng con số có ý định
tham gia chưa cao chỉ mới có 37% trong tổng số 119 người trả lời (xem bảng
1.3.2) nhưng cũng nói lên được rằng nhóm tiểu thương đã ý thức được việc sử
dụng BHYT giúp cho bản thân mình và người thân có một cuộc sống tốt hơn
Cà Mau tham gia BHYT chỉ mới xấp xỉ 50% (nguồn:“Thực hiện mục tiêu bảo
hiểm y tế toàn dân” trên trang web baocamau.vn của tỉnh Cà Mau, năm
2013).
1.3.3.Loại hình quỹ BHYT mà nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao động
khác sử dụng
Qua việc tham gia BHYT thì để hiểu rõ hơn về loại hình quỹ BHYT mà nhóm
này tham gia là gì, để làm rõ tính chất của việc tham gia BHYT chủ yếu là tự
nguyện hay bắt buộc.
16
Theo kết quả điều tra bảng hỏi thì trong 201 người trả lời thì chiếm tới 59.7% là
tham gia BHYT theo hình thức tự nguyện, và 21.4% là bắt buộc, còn lại là
không biết. Có nghĩa là người dân trong nhóm này chủ yếu tham gia BHYT
theo loại hình tự nguyện. Qua đó cho thấy người dân trong nhóm tiểu thương đã
chủ động hơn trong việc tham gia sử dụng BHYT. Nhận xét mà tác giả vừa nêu
trên được trình bày trong bảng sau:
Bảng 1.3.3: Loại hình quỹ BHYT mà nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao
động khác tham gia (Đơn vị: %)
Nhóm đối tượng
Doanh nhân/ tiểu thương/ lao động khác
Count Row % Col %
Loại hình quỹ bảo hiểm y tế
Tự nguyện
Bắt buộc
Không biết
Total
120
43
38
201
100.0%
Nữ
75
89
164
69.4%
72.4%
71.0%
45.7%
54.3%
100.0%
33
34
67
30.6%
27.6%
29.0%
49.3%
50.7%
100%
(Nguồn: Xã hội học k16, kết quả khảo sát tại Cà Mau năm 2013)
Từ bảng 1.4 ta thấy rằng giới tính nam tham gia BHYT ít hơn giới tính nữ, cụ
thể là tỉ lệ giới tính nam tham gia BHYT là 45.7%, nữ là 54.3%, tức là ít hơn
8.6%. Bên cạnh đó giới tính nam không tham gia BHYT chiếm tỉ trọng ít hơn
giới tính nữ, cụ thể là tỉ trọng giới tính nam không tham gia BHYT là 49.3%,
nữ là 50.7%, ít hơn 1.4%. Như vậy cho thấy vì số lượng nữ nhiều hơn nên
không tham gia BHYT cũng nhiều hơn, tuy nhiên nhiều hơn không đáng kể, chỉ
có 1.4%. Trong khi đó nam số lượng nam ít hơn nhưng cũng chiếm tới 49.3%
không tham gia sử dụng BHYT. Từ đó cho thấy nam giới thường không tham
gia BHYT, chủ yểu là nữ giới tham gia sử dụng BHYT.
Như vậy kết quả cũng chứng minh được phần nào nhận định ban đầu của tác
khám chữa
bệnh
100 100.0% 76.9%
Lý do tham gia
quỹ bảo hiểm y
tế vì được cung
cấp
45 100.o% 34.6%
Tham gia quỹ
bảo hiểm y tế
vì lí do khác 11 100.0% 8.5%
Total 130 100.0% 100.0%
(Nguồn: Xã hội học k16, kết quả khảo sát tại Cà Mau năm 2013)
19
Từ bảng 2.1cho thấy lí do tham gia quỹ BHYT vì muốn giảm chi phí khi đi
khám chữa bệnh chiếm tới 76.9%, trong khi đó lí do vì được cung cấp chỉ
chiếm có 34.6%. Điều này chứng tỏ rằng người dân trong nhóm này chủ yếu sử
dụng BHYT vì lợi ích của nó là được giảm chi phí khi đi khám chữa bệnh tại
các cơ sở y tế. Bên cạnh đó một phần là họ được cấp để sử dụng BHYT thay vì
họ mua bởi có thể họ đã thấy được lợi ích của nó hoặc được cấp nên họ cũng sử
dụng ở mức độ nào đó thôi. Nói chung nó phụ thuộc vào mục đích của người sử
dụng BHYT. Tuy nhiên một số người tham gia là bởi vì họ nhận thấy còn lí do
khác nữa, vậy lí do đó là gì thì trong phỏng vấn sâu tác giả sẽ dẫn chứng để bài
nghiên cứu đạt được độ chính xác.
Hộp 1: Lợi ích của việc tham gia BHYT của nhóm doanh nhân, tiểu
thương, lao động khác
[1] PVV: theo anh lợi ích khi tham gia BHYT là gì hả anh?
ĐV: Có chứ, bảo hiểm thì nói chung người nào cũng cần, có nhiều người người ta
không biết chứ còn mình đã biết thì sử dụng bảo hiểm lúc nào cũng có lợi cho mình
hết chứ không có hại thí dụ người không có tiền hàng ngày mua thuốc uống người ta
của việc mua BHYT. Lợi ích đó là được giảm chi phí khi đi khám chữa bệnh.
Đó chính là lí do chủ yếu và hầu như là duy nhất khiến họ tham gia BHYT.
2.3. Nguyên nhân của việc không tham gia BHYT
Trong quá trình khảo sát tại Cà Mau tác giả nhận thấy còn tồn tại nhiều nguyên
nhân khiến người dân trong nhóm này không tham gia sử dụng BHYT.
Hộp 2: Lí do không tham gia BHYT của nhóm doanh nhân, tiểu thương,
lao động khác
[1] H: Lí do tại sao anh không tham gia BHYT ạ?
Đ: Tới vấn đề phục vụ. Nhiều khi khách đông thì nó cũng chậm, BHYT thì tất nhiên
lượng khách nó đông, thành ra chậm. Với lại nó cũng không được như bên ngoài.
Đ: Ví dụ như thuốc của nó chủ yếu là thuốc xí nghiệp, ở đây kêu là thuốc xí nghiệp
giống như những cái xí nghiệp ở trong nước mình á, còn hàng thuốc ngoại thì nó
không có, ví dụ như thường thường ra mấy chỗ khác thì phí nó cao hơn nhưng mà nó
có những cái thuốc ngoại nhập.
H: Dạ chẳng hạn như là thuốc BHYT nó quá nhẹ liều?
Đ: Dạ, nó đôi khi uống nó chậm, với nhiều khi mình uống thuốc ở ngoài quen rồi uống
thuốc đó nó làm như không có tác dụng, thành ra nó cũng khó hết.(Nam, 35 tuổi,
không tham gia BHYT)
[2] PVV : chú hài lòng về thuốc của BHYT không chú ?
ĐTPV: BHYT chỉ cho thuốc thường thôi, còn những thuốc đặc trị thì không có nên
phải ra ngoài mua. Vì thuốc trong BHYT giới hạn mức độ trung bình thoy chứ không
phải thuốc nào cũng có. (Nam, 40 tuổi, đã từng tham gia BHYT)
[3] A: tại sao cô không mua bảo hiểm y tế ạ?
B: một là đợi chờ lâu nè chứ không phải như người ta không có bảo hiểm vô là khám
được liền còn những người có bảo hiểm chờ từ sáng tới chiều chưa khám được, rồi nếu
được thì thuốc cũng hổng bằng thuốc của khám tư ngoài nó vậy đó, tôi cũng còn thắc
21
mắc cái vụ đó đó
B: người ta mua người ta mua cũng có tiền chứ chứ có phải không tiều đâu mà đi
khám đi khám bệnh đâu mà đi chầu trực rồi thuốc men cũng không bằng của người ta.
22
để giải thích cho thực trạng trên. Tác giả đưa ra làm tiền đề để các nghiên cứu khác
có thể khảo sát và giải thích cho sự khác biệt đó.
3. Đề xuất khuyến nghị
Nhìn nhận vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện BHYT tại Cà Mau và nguyện
vọng của người dân trong nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao động khác tác giả
đưa ra những khuyến nghị giúp các nhà chức trách đưa ra những giải pháp thiết
thực gắn với nhu cầu và nguyện vọng của người dân.
3.1. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh khi sử dụng BHYT đi khám chữa
bệnh
Theo ý kiến của nhiều người dân trong nhóm doanh nhân, tiểu thương, lao động
khác cần nâng cao chất lượng khám chữa bệnh là điều cần thiết để thu hút họ tham
gia BHYT. Do vậy, trong thời gian tới chính quyền địa phương nên chú trọng cải
thiện chất lượng khám chữa bệnh BHYT cho người dân nơi đây. Đầu tiên cần phải
giáo dục y đức và nâng cao tinh thần, thái độ phục vụ người bệnh của nhân viên
y tế hiện nay. Cần chú trọng hơn nữa thái độ của đội ngũ y bác sĩ đối với bệnh
nhân. Bởi một trong những nguyên nhân quan trọng nhất của việc không tham gia
BHYT là nhân viên y tế quá thờ ơ với những người đi khám chữa bệnh bằng
BHYT. Trình độ và y đức là cái gốc của cán bộ ngành y tế, do vậy mọi cán bộ
y tế phải nhận thức được điều này. Kết quả điều tra cho thấy người dân khá bức
xúc về tinh thần, thái độ phục vụ của nhân viên y tế. Vì vậy phải cải thiện thái độ
đó, từng có câu “lương y như từ mẫu”: Đó là sự tận tâm với người bệnh, coi
người bệnh như người thân của chính mình, gần gũi tìm hiểu, động viên kịp
thời; giúp cho người bệnh yên tâm điều trị, quên đi những đau đớn về bệnh tật.
Đồng thời, người thầy thuốc phải công tâm, không phân biệt đối xử giữa các đối
tượng khám chữa bệnh thông thường hay bằng thẻ BHYT. Có như thế BHYT mới
có thể được mở rộng. Để thực hiện được điều này, các cán bộ quản lý cơ sở y tế
cần có chế độ thưởng phạt công minh và kịp thời; đặc biệt nên thiết lập đường dây
nóng để lắng nghe ý kiến phản hồi của bệnh nhân. Như vậy mới giải quyết được
mối quan hệ giữa bệnh nhân với y, bác sĩ hiện nay. Bên cạnh đó, cải thiện môi
3.3. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục sức khỏe, phổ biến pháp luật về BHYT
Mặc dù kết quả điều tra chưa làm rõ được nguyên nhân là người dân không biết
thông tin về BHYT nên không tham gia. Nhưng tác giả nhận thấy rằng rằng đó
cũng là một trong những nguyên nhân hạn chế của công tác tuyên truyền khiến
người dân không biết nên không tham gia. Vì vậy để người dân biết thì cần đẩy
mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách BHYT đến tất cả các nhóm
đối tượng, ở các cấp, các ngành, đoàn thể, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp,
các tầng lớp dân. Thực hiện tuyên truyền thông qua nhiều hình thức đa dạng,
phong phú: tờ gấp, phương tiện thông tin đại chúng (ti vi, đài, báo), trang
web của cơ quan bảo hiểm, pa nô áp phích tuyên truyền tại các cơ sở khám chữa
bệnh, trung tâm hành chính của tỉnh, thành phố, xã, phường, đơn vị sử dụng lao
động; mở các cuộc thi tìm hiểu về BHYT, kết hợp lồng ghép với các buổi sinh
hoạt của phường, xã, các hội, đoàn thể; mở kênh cung cấp thông tin và giải đáp
thắc mắc cho người tham gia BHYT trên đường điện thoại, đường dây nóng.
Giải pháp trên cũng theo ý kiến của người dân trong nhóm doanh nhân, tiểu
thương, lao động khác kiến nghị : “Về kiến nghị, tuyên truyền cho người dân được
biết thì yêu cầu nên phổ biến rộng rãi hơn, như làm sao mà cho chính quyền địa
phương hiểu rõ và gặp dân chúng, dân chúng gặp nhân viên của công ty nhiều
làm sao bằng chính quyền địa phương. Chính quyền địa phương làm sao mà phổ
biến cho người dân là hay nhất, thuận tiện nhất vì chính quyền địa phương là gần
gũi dân nhất luôn rồi, thành ra chính quyền địa phương gặp dân là dễ nhất, là hay
nhất luôn rồi. Thậm chí là có nhiều người trong chính quyền địa phương không
biết các loại quỹ này đâu, như quỹ Bảo hiểm”. (Nữ, 48 tuổi, có tham gia BHYT)
3.4. Tiểu kết
25
Từ những kiến nghị của người dân kết hợp với thực trạng tham gia BHYT đang
diễn ra tại Cà Mau tác giả đưa ra những giải pháp phù hợp với nhu cầu của người
dân và tình hình địa phương. Mong rằng những giải pháp của tác giả sẽ góp phần
cải thiện được tình hình tham gia BHYT theo hướng tốt hơn và bền vững hơn.
IV. KẾT LUẬN