ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƢỢC
LÊ NGUYỄN HẢI ANH
BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CHI PHÍ SỬ
DỤNG THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ CỦA
MỘT SỐ CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH
THEO CÁC TUYẾN TẠI MỘT SỐ TỈNH
Ở VIỆT NAM NĂM 2014 -2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƢỢC HỌC
Hà Nội – 2017
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA Y DƢỢC
Người thực hiện: LÊ NGUYỄN HẢI ANH
BƢỚC ĐẦU NGHIÊN CỨU CHI PHÍ SỬ
DỤNG THUỐC BẢO HIỂM Y TẾ CỦA
MỘT SỐ CƠ SỞ KHÁM CHỮA BỆNH
THEO CÁC TUYẾN TẠI MỘT SỐ TỈNH Ở
VIỆT NAM NĂM 2014 -2015
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC NGÀNH DƢỢC HỌC
Khóa:
QH.2012.Y
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
Tiếng Việt
BHYT
Bảo hiểm y tế
BYT
Bộ Y tế
BV
Bệnh viện
BVĐK
Bệnh viện đa khoa
GDP
Tổng sản phẩm nội địa
KCB
Khám chữa bệnh
Hình 9. Biểu đồ thể hiện cơ cấu chi phí thuốc BHYT so với chi phí thuốc chung tại
các cơ sở KCB theo tuyến năm 2014-2015...............................................................26
Hình 10. Biểu đồ thể hiện cơ cấu chi phí thuốc BHYT nội trú và ngoại trú trong
tổng chi phí thuốc BHYT tại các cơ sở KCB trong 2 năm 2014 – 2015 ..................27
Hình 11. Cơ cấu chi phí thuốc của 8 nhóm thuốc được sử dụng năm .....................29
Hình 12. Cơ cấu giá trị sử dụng chế phẩm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu và vị
thuốc YHCT tại các BV tuyến tỉnh và BV Hữu Nghị ..............................................32
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1. Sự khác nhau giữa BHYT xã hội và BHYT tư nhân ....................................3
Bảng 2. Thuốc có trong danh mục các nước theo nhóm thuốc của Việt Nam .........10
Bảng 3. Sự phát triển của các hình thức kinh doanh thuốc, 2010-2014 ...................13
Bảng 4. Tỷ lệ gia tăng chi phí thuốc BHYT/đầu thẻ từ năm 2009 – 2015 ...............15
Bảng 5. Số lượng mẫu báo cáo ở từng đơn vị ..........................................................19
Bảng 6. Chỉ số nghiên cứu trong phân tích số liệu về chi phí KCB, chi phí ............20
Bảng 7. Số lượt bệnh nhân tham gia KCB BHYT tại các cơ sở KCB theo tuyến ...21
Bảng 8. Tổng hợp chi phí thuốc trong năm 2014-2015 tại các cơ sở KCB theo phân
tuyến chuyên môn kỹ thuật .......................................................................................23
Bảng 9. Chi phí thuốc BHYT bình quân tại các BV tuyến tỉnh và huyện năm
2014 – 2015 ...............................................................................................................28
Bảng 10. Nhóm thuốc có giá trị sử dụng nhiều nhất ................................................30
Bảng 11. Cơ cấu thuốc theo phân loại tân dược-chế phẩm YHCT-vị thuốc ............31
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC HÌNH
DANH MỤC BẢNG
3.1.1. Số lượt bệnh nhân tham gia KCB BHYT .......................................................21
3.1.2. Tỷ lệ chi phí KCB BHYT/chi phí KCB chung ...............................................21
3.1.3. Tỷ lệ chi phí thuốc/tổng chi phí KCB chung ..................................................22
3.1.4 Tỷ lệ chi phí thuốc BHYT/tổng chi phí KCB BHYT ......................................24
3.1.5. Tỷ lệ chi phí thuốc BHYT/chi phí thuốc chung ..............................................25
3.2. Cơ cấu chi phí thuốc BHYT theo nhóm tác dụng dƣợc lý trong các cơ sở
KCB theo tuyến năm 2014 – 2015..........................................................................27
3.2.1. Cơ cấu chi phí thuốc BHYT sử dụng cho bệnh nhân nội, ngoại trú ...............27
3.2.2. Cơ cấu giá trị sử dụng thuốc BHYT theo một số nhóm tác dụng dược lý tại
các tuyến BV .............................................................................................................28
3.2.3. Nhóm thuốc có giá trị sử dụng nhiều nhất tại các cơ sở KCB ........................30
3.2.4. Giá trị sử dụng chế phẩm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu – vị thuốc YHCT
tại các cơ sở KCB theo tuyến ....................................................................................31
3.3. Bàn luận ............................................................................................................33
3.3.1. Vấn đề sử dụng chi phí thuốc BHYT tại các cơ sở KCB................................33
3.3.2. Cơ cấu chi phí thuốc BHYT theo nhóm tác dụng ...........................................36
3.3.3. Cơ cấu sử dụng chế phẩm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, vị thuốc YHCT
...................................................................................................................................38
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................40
4.1. Kết luận .............................................................................................................40
4.2. Kiến nghị ...........................................................................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
Chăm sóc sức khỏe cho mọi người là mối quan tâm hàng đầu của mỗi quốc
gia và nhiều tổ chức xã hội trên toàn thế giới bởi con người vừa là mục tiêu cũng
vừa là động lực của sự phát triển kinh tế xã hội ở mỗi nước. Để bảo vệ và nâng cao
sức khỏe, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân Việt Nam, Chính
1
thuốc và sử dụng thuốc chưa hợp lý. Theo thống kê của BHXH Việt Nam, tỷ trọng
chi cho thuốc từ quỹ BHYT đang giảm dần, tuy nhiên tỷ lệ này vẫn còn cao hơn so
với các nước trong khu vực như Thái Lan, Philippin. Chính vì vậy mà tỷ trọng chi
cho KCB, dịch vụ kỹ thuật, vật tư y tế còn thấp dẫn đến quỹ BHYT hoạt động chưa
hiệu quả trong việc đáp ứng nhu cầu KCB cho người bệnh. Do đó, bước đầu khảo
sát chi phí sử dụng thuốc BHYT là hết sức cần thiết, góp phần nâng cao hiệu quả
quản lý và chất lượng sử dụng thuốc BHYT.
Xuất phát từ thực tế trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Bƣớc đầu nghiên
cứu chi phí sử dụng thuốc BHYT của một số cơ sở khám chữa bệnh theo các
tuyến tại một số tỉnh ở Việt Nam năm 2014-2015” với các mục tiêu:
1. Khảo sát và so sánh chi phí sử dụng thuốc BHYT theo các tuyến của các
cơ sở khám chữa bệnh thuộc 6 tỉnh Phú Thọ, Hà Nam, Thanh Hóa, Thừa Thiên
Huế, Đăk Lăk và Cần Thơ và bệnh viện Hữu Nghị tại Hà Nội trong năm 2014 2015
2. Phân tích nguyên nhân thay đổi chi phí sử dụng thuốc BHYT giữa các
tuyến của các cơ sở khám chữa bệnh theo các năm thuộc 6 tỉnh trên
(Đề tài này là một phần của đề tài cấp Bộ về đánh giá tình hình thực hiện
thông tư ban hành danh mục thuốc thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT,
việc xây dựng danh mục thuốc tại các cơ sở KCB và quy trình đề xuất sửa đổi bổ
sung vào danh mục thuốc BHYT quốc gia)
2
CHƢƠNG 1 - TỔNG QUAN
1.1.
Khái quát chung về BHYT
hiểm.
Mức hưởng
Theo nhu cầu chi phí KCB
thực tế. Không phụ thuộc
mức đóng.
Theo số tiền mà cá nhân đã
đóng góp khi tham gia bảo
hiểm (đóng nhiều hưởng
nhiều, đóng ít hưởng ít)
Vai trò của nhà nước
Có sự bảo trợ của nhà nước
Thường không có sự hỗ trợ
tài chính từ phía nhà nước
Hình thức tham gia
Bắt buộc
Tự nguyện
Mục tiêu hoạt động
Vì chính sách xã hội. Không
kinh doanh vì lợi nhuận
phối thu nhập giữa mọi người.
BHYT nâng cao tính cộng đồng và gắn bó giữa các thành viên trong xã hội.
Như vậy BHYT ra đời không những giúp cho người tham gia BHYT khắc
phục khó khăn về kinh tế khi rủi ro ốm đau xảy ra, mà còn giảm bớt gánh nặng cho
ngân sách Nhà nước, góp phần đổi mới cơ chế quản lý, nâng cao chất lượng và công
bằng trong KCB.
1.1.3. Sơ lƣợc lịch sử ra đời BHYT
Trong cuộc sống cũng như trong sản xuất, con người luôn có nguy cơ gặp
phải rủi ro vì những nguyên nhân khác nhau như bão lụt, hạn hán, ốm đau, bệnh tật,
tai nạn... Mỗi khi gặp phải rủi ro thường gây nên những hậu quả khó lường làm ảnh
hưởng đến đời sống, sản xuất và sức khỏe của con người. Bởi vậy ngay từ khi xã
4
hội loài người xuất hiện thì nhu cầu an toàn đối với con người cũng xuất hiện [17].
Để đối phó với rủi ro và khắc phục hậu quả tổn thất, con người đã tìm ra nhiều cách
thức khác nhau để phòng vệ [17], do đó ý tưởng đầu tiên về bảo hiểm được hình
thành. Tuy nhiên phải đến thế kỉ XIX các loại bảo hiểm mới thực sự trở nên phong
phú đa dạng do sự xuất hiện của nhiều rủi ro, tai nạn, ốm đau, bệnh tật, bệnh nghề
nghiệp kéo theo sự ra đời và phát triển của các công ty bảo hiểm tại các nước tư bản
phát triển như Anh, Pháp, Mỹ, Đức trong đó có loại hình BHYT [22].
Luật BHYT bắt buộc đầu tiên được ban hành tại Đức vào năm 1883 dưới
thời thủ tướng Bismark, mở đầu cho sự phát triển của một trong những loại hình
bảo hiểm thuốc hệ thống các chính sách an sinh xã hội lớn trên toàn thế giới [36]. Ở
châu Âu, một số nước phát triển đã tổ chức xây dựng và hình thành nên quỹ BHYT
dựa vào mô hình của Đức như Áo (1888), Hungary (1891), Đan Mạch (1892), Thụy
Điển (1891), Bỉ (1894), Tây Ban Nha (1929) [23]. Ở châu Á, Nhật Bản là quốc gia
ban hành Luật BHYT sớm nhất vào năm 1922 [16]. Chính sách BHYT xã hội cũng
đã được nhiều nước trong khu vực này thực hiện thành công như Hàn Quốc, Thái
Quyết định 958/BYT-QĐ ngày 11/09/1992
-
Thông tư 11/BYT-TT ngày 17/09/1992
-
Thông tư 12/TTLB: Bộ Y tế - Tài chính - Bộ Lao động, Thương binh và Xã
hội ngày 18/09/1992
-
Và một số thông tư, chỉ thị khác.
Các văn bản pháp quy trên đã đánh dấu sự ra đời của BHYT tại Việt Nam.
1.1.5. Tỷ lệ bao phủ BHYT tại Việt Nam
Sau hơn 20 năm thực hiện chính sách BHYT, có thể khẳng định rằng số
người tham gia BHYT ngày càng nhiều hơn trong các nhóm dân cư, trong cộng
đồng xã hội. Nếu năm 1993 (sau một năm thực hiện chính sách BHYT ở Việt Nam)
số người tham gia BHYT chiếm khoảng 5,3% dân số thì đến tháng 6 năm 2016 con
số này tăng lên đến 79%.
90
76,52
80
65
70
5,3
10
0
1993 1998 2003 2004 2005 2007 2008 2009 2010 2011 2012 2013 2014 2015 Jun-16
Nguồn: Số liệu thống kê từ BHXH Việt Nam
Hình 1. Tỷ lệ bao phủ BHYT từ năm 1993 đến tháng 6 năm 2016
Số liệu phản ánh tại hình 1 cho thấy:
-
Từ năm 1993 – 2015 số người tham gia BHYT tăng đều hằng năm. Năm
2005, sau khi Nghị định số 63/2005/NĐ-CP Ban hành điều lệ BHYT có hiệu
lực ngày 01/07/2005 thay thế Nghị định số 58/1998/NĐ-CP, bổ sung một số
6
đối tượng mới tham gia BHYT bắt buộc như người lao động trong các doanh
nghiệp ngoài nhà nước có dưới 10 lao động, người lao động trong mọi tổ
chức được thành lập và hoạt động hợp pháp, người thuộc hộ nghèo và đồng
bào dân tộc thiểu số, do đó số người tham gia BHYT tăng lên rõ rệt từ 28,4%
năm 2005 đến 42% năm 2007.
-
Sau khi Luật BHYT số 25/2008/QH12 có hiệu lực ngày 01/07/2009, mở rộng
thêm đối tượng thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc: trẻ em dưới 6 tuổi,
người thuộc hộ cận nghèo được hỗ trợ mức phí BHYT từ ngân sách Nhà
nước, quy định cụ thể phạm vi quyền lợi được BHYT, mở rộng việc thanh
toán các kỹ thuật và thuốc sử dụng trong điều trị…. Với sự thay đổi tích cực
ánh nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khỏe của người dân ngày càng được quan
tâm. Năm 2005, con số này là 9,85 USD/người/năm, đến năm 2010 là 22,25
USD/người/năm và năm 2014 là 34,48 USD/người/năm [13].
Số liệu thống kê của BHXH Việt Nam về chi phí thuốc BHYT trên đầu thẻ
từ năm 2009 – 2015 được thể hiện trong hình 2.
Đơn vị: nghìn VNĐ
329,35
336,14
2012
2013
356
274,1
224,94
187,31
2008
2009
2010
2011
2014
hành Quyết định Số 05/2008/QĐ-BYT ngày 01/02/2008 Về việc ban hành Danh
mục thuốc chữa bệnh chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB, chữa bệnh với 750 thuốc
tân dược, 95 chế phẩm YHCT và 237 vị thuốc YHCT [8]. Năm 2011, BYT ban
hành Thông tư số 31/2011/TT-BYT ngày 11/07/2011 Ban hành và hướng dẫn thực
hiện Danh mục thuốc chủ yếu sử dụng tại các cơ sở KCB, chữa bệnh được quỹ
BHYT thanh toán với 900 thuốc tân dược [9]. Và gần nhất là thông tư 40/TT-BYT
ngày 17/11/2014 của Bộ trưởng BYT ban hành và hướng dẫn thực hiện Danh mục
thuốc tân dược thuộc phạm vi thanh toán của quỹ BHYT với 845 hoạt chất và 1064
thuốc tân dược [12].
1.2.2. So sánh danh mục thuốc BHYT tại Việt Nam với một số nƣớc trên thế
giới
Việt Nam cũng như một số nước trên thế giới, phát triển BHYT phải đối mặt
với sự leo thang của chi phí y tế ngày một tăng. Theo dữ liệu của Nhóm Ngân Hàng
Thế Giới (The World Bank Group), chi phí dành cho y tế bình quân đầu người tại
Úc năm 1995 là 1.591 USD/người/năm tăng lên đến 6.031 USD/người/năm năm
2014. Thái Lan, năm 1995 là 100 USD/người/năm nhưng đến năm 2014 chi phí này
tăng lên đến 228 USD/người/năm. Tại Hàn Quốc, năm 1995 là 453 USD/người/năm
đến năm 2014 tăng vọt lên đến 2.060 USD/người/năm. Tại Việt Nam, chi phí y tế
bình quân đầu người cũng tăng khoảng 10 lần trong vòng 20 năm từ 14
USD/người/năm năm 1995 đến 142 USD/người/năm năm 2014 [40]. Việc sử dụng
các thuốc mới và kỹ thuật cao làm tăng chi phí của cá nhân người bệnh và chi phí
cho hệ thống y tế cũng như quỹ BHYT. Do đó, Nhà nước cần phải kiểm soát thị
trường thuốc và công nghệ y tế thông qua luật pháp hay quy chế.
Nhằm đảm bảo quyền tiếp cận dịch vụ y tế và thuốc của người dân, việc ban
hành danh mục thuốc BHYT là một trong những yếu tố quan trọng hàng đầu để vận
hành tốt, có hiệu quả hệ thống BHYT. Ở nhiều quốc gia, trung bình có khoảng 600
9
cholesterol
Thuốc mắt, tai mũi họng
Thuốc hỗ trợ sinh sản
Dung dịch thẩm phân
Thuốc tâm thần
Việt Nam
(2015)
24
52
WHO
(2015)
13
20
Thái Lan
(2015)
28
17
Indonesia
(2016)
17
20
18
5
9
38
4
64
6
8
50
105
49
20
9
3
95
64
5
18
0
2
16
28
18
5
7
8
10
23
2
3
41
18
5
9
16
80
0
0
41
32
2
9
21
10
Thuốc đường hô hấp
Dung dịch tiêm truyền
Khoáng chất và vitamin
Tổng
34
24
36
1064
Nguyên tắc xây dựng danh mục thuốc sử dụng trong BV
Danh mục thuốc có vai trò quan trọng trong chu trình quản lý thuốc trong
BV. Vì thế việc xây dựng danh mục thuốc mang lại nhiều lợi ích cho BV như tiết
kiệm chi phí và sử dụng hợp lý nguồn tài chính đồng thời cải thiện chất lượng chăm
sóc y tế tại BV. Do vậy, việc xây dựng danh mục thuốc là nền tảng cho việc quản lý
dược tốt và sử dụng thuốc hợp lý [34]. Danh mục thuốc BV chủ yếu được xây dựng
trên cơ sở danh mục thuốc thiết yếu Việt Nam và WHO hiện hành với các nguyên
tắc sau [11]:
- Đảm bảo phù hợp với mô hình bệnh tật và chi phí về thuốc dùng trong
bệnh viện
- Phù hợp với phân tuyến chuyên môn kĩ thuật
- Căn cứ vào các hướng dẫn hoặc phác đồ điều trị đã được xây dựng và áp
dụng tại BV hoặc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh
- Đáp ứng với các phương pháp mới, kỹ thuật mới trong điều trị
- Phù hợp với phạm vi chuyên môn của BV
11
- Thống nhất danh mục thuốc thiết yếu, danh mục thuốc chủ yếu do BYT
ban hành
- Ưu tiên thuốc sản xuất trong nước.
Xây dựng danh mục thuốc tại BV
Danh mục thuốc BV được xây dựng dựa trên các yếu tố như: mô hình bệnh
tât, phác đồ điều trị được áp dụng, trình độ chuyên môn của nhân viên y tế, các
chính sách về thuốc của Nhà nước, chức năng, nhiệm vụ và kinh phí của BV; nhu
cầu thuốc đã sử dụng trong những năm trước và dự đoán trong thời gian tới. Căn cứ
xây dựng danh mục thuốc BV phải dựa vào danh mục thuốc thiết yếu và danh mục
thuốc chủ yếu do Bộ Y tế ban hành. Danh mục thuốc cũng cần được xây dựng dựa
trên hướng dẫn điều trị chuẩn- đây là căn cứ khoa học để xây dựng danh mục thuốc.
bằng trong cung ứng cho người bệnh, mạng lưới cung ứng thuốc hiện nay, nhất là
thuốc thiết yếu có độ bao phủ rộng khắp, dễ tiếp cận với tỷ lệ sẵn có thuốc thiết yếu
tương đối cao ở các cơ sở y tế cũng như trong cộng đồng, cùng với mạng lưới cung
ứng thuốc của các Doanh nghiệp nhà nước, nhiều Công ty cổ phần, Công ty trách
12
nhiệm hữu hạn và các Doanh nghiệp tư nhân cũng đã hình thành và phát triển, đáp
ứng nhu cầu sử dụng thuốc cho nhân dân. Khả năng tiếp cận thuốc ở Việt Nam ngày
càng được củng cố và hoàn thiện theo hướng thuận tiện hơn (mật độ trung bình đạt
khoảng 2123 người có 1 cơ sở bán lẻ thuốc). Hệ thống cung ứng thuốc phủ rộng
khắp toàn quốc, đảm bảo cung ứng đủ thuốc đến cả các khu vực biển đảo, vùng sâu,
vùng xa [13].
Bảng 3. Sự phát triển của các hình thức kinh doanh thuốc, 2010-2014
Các hình thức kinh doanh thuốc
Số lượng CSSX thuốc tân dược đạt
GMP
Số lượng CSSX vacxin, sinh phẩm y
tế đạt GMP
2010
101
2011
109
2012
119
Nguồn: Số liệu thống kê của Cục Quản lý Dược và Viện Kiểm Nghiệm thuốc
TW; Báo cáo tổng kết công tác năm 2014 và kế hoạch 2015 của Cục Quản lý Dược
[15]; Niên giám thống kê y tế các năm.
Chiến lược quốc gia phát triển ngành Dược Việt Nam giai đoạn đến năm
2020 và tầm nhìn đến năm 2030 chú trọng việc phát triển thuốc trong nước, đặc biệt
là thuốc thiết yếu, thuốc generic, thuốc đông y, thuốc từ dược liệu [13]. Số liệu từ
bảng 3 cho thấy số cơ sở sản xuất thuốc tân dược và thuốc từ dược liệu tăng từ năm
2010 đến năm 2014. Số lượng cơ sở sản xuất thuốc tân dược năm 2010 là 101 cơ
sở đạt GMP, đến năm 2014 tăng đến 131 cơ sở. Nếu như năm 2010 chưa có cơ sở
sản xuất thuốc từ dược liệu đạt GMP nào thì đến năm 2014 đã có 24 cơ sở, điều này
thể hiện thuốc đông y, thuốc từ dược liệu ngày càng được chú trọng phát triển hơn.
Số lượng cơ sở xuất nhập khẩu thuốc đạt GSP tăng mạnh, đạt đến 174 cơ sở năm
2014 trong vòng 4 năm. Việt Nam vẫn phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu để đáp ứng
nhu cầu sử dụng của nhân dân [13]. Sau khi thông tư số 43/2010/TT-BYT Quy định
lộ trình thực hiện nguyên tắc, tiêu chuẩn “Thực hành tốt nhà thuốc” GPP, địa bàn và
phạm vi hoạt động của cơ sở bán lẻ thuốc có hiệu lực ngày 01/01/2011, số cơ sở bán
lẻ thuốc giảm rõ rệt từ 43.629 cơ sở năm 2010 xuống 39.172 cơ sở năm 2011. Tuy
13
nhiên đến năm 2013, số cơ sở bán lẻ thuốc lại tăng đến 42.262 cơ sở. Các cơ sở bán
buôn thuốc đạt GDP tăng đáng kể từ chưa có cơ sở nào năm 2010 lên đến 1900 cơ
sở năm 2014. Mạng lưới rộng các cơ sở bán buôn và bán lẻ thuốc góp phần cung
ứng thuốc đầy đủ phục vụ việc chăm sóc sức khỏe nhân dân.
Với mạng lưới cung ứng thuốc đầy đủ giúp cho người dân dễ dàng tiếp cận
với thuốc hơn tuy nhiên vấn đề sử dụng thuốc vẫn còn gặp nhiều bất cập thể hiện ở
việc mức chi tiền thuốc bình quân đầu người liên tục tăng trưởng, năm 2010 là
22,25 USD/người và năm 2014 là 34,48 USD/người [13].
1.4.
2011
2012
2013
2014
2015
2016
Nguồn: Số liệu thống kê từ BHXH Việt Nam
Hình 3. Tỷ lệ chi phí thuốc BHYT/tổng chi KCB BHYT từ năm 2009 – 2015
14
Nguyên nhân của thực trạng này là do chi phí thuốc cũng chịu ảnh hưởng lớn
từ việc tổ chức thực hiện quản lý danh mục thuốc, hình thức và quy trình cung ứng
thuốc, giá thuốc, chỉ định sử dụng thuốc và lựa chọn chủng loại thuốc của các cơ sở
KCB như sử dụng phổ biến các loại thuốc đắt tiền, thuốc kháng sinh, tỷ lệ sử dụng
thuốc biệt dược cao, có tình trạng lạm dụng thuốc có tác dụng hỗ trợ như tuần nào
não, vitamin và khoáng chất, bổ gan trong những trường hợp chưa thực sự cần thiết.
Bên cạnh đó là thói quen sử dụng thuốc ngoại nhập đắt tiền của người dân cũng như
cán bộ y tế không chỉ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của ngành công nghiêp dược
trong nước mà còn làm tăng chi phí chữa bệnh của người dân [13].
Bảng 4. Tỷ lệ gia tăng chi phí thuốc BHYT/đầu thẻ từ năm 2009 – 2015
Năm
2013
336,14
2%
2015
356,00
5,9%
Nguồn: Số liệu thống kê từ BHXH Việt Nam
Mặc dù chi phí thuốc BHYT/đầu thẻ tăng dần qua từng năm từ 2009 đến
2015 (hình 2) nhưng tỷ lệ gia tăng chi phí thuốc/đầu thẻ giảm mạnh. Nếu như năm
2009, tỷ lệ gia tăng là 22% thì đến năm 2015, tỷ lệ này giảm còn khoảng 6%. Điều
này thể hiện việc sử dụng thuốc BHYT được kiểm soát chặt chẽ hơn.
Theo báo cáo đánh giá Chính sách Thuốc Quốc gia của Cục Quản lý Dược
Việt Nam phối hợp với Viện Chiến lược và Chính sách y tế, hỗ trợ bởi Tổ chức Y tế
thế giới (NMP Assessment Report, Level I and II Survey, WHO, HSPI and DAV)
thì năm 2010 tại các bệnh viện ở Việt Nam có chi phí tiền thuốc so với tổng chi phí
thường xuyên của bệnh viện lên đến 58% [33].
15
80
70
60
Sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc an
toàn, hợp lý, hiệu quả. Kết quả khảo sát của BYT năm 2009 cho thấy: chi phí dành
cho kháng sinh của BV tuyến TW chiếm khoảng 26% trong tổng chi phí cho thuốc.
Tại BVĐK tuyến tỉnh, mức chi trung bình cho kháng sinh cao, khoảng 43% trong
tổng chi cho thuốc [20]. Thuốc kháng sinh chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị tiền
thuốc sử dụng tại BV, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam có tỷ lệ các
bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm dụng kháng sinh
vẫn còn phổ biến.
Bên cạnh nhóm kháng sinh, vitamin và khoáng chất là nhóm thuốc thường
được sử dụng và có nguy cơ lạm dụng cao. Giá trị sử dụng của nhóm này chiếm tỷ
lệ 2,7% tại BV tuyến TW, 2,2% tại BV tuyến tỉnh và 6,3% tại BV tuyến huyện [24].
Nhóm thuốc điều trị tim mạch tại các BV tuyến TW có giá trị chiếm tỷ lệ 10% đứng
thứ 3, tại BV tuyến tỉnh, nhóm thuốc này có tỷ trọng là 12,4% và tại BV tuyến
huyện là 11,9% đứng thứ 2 trong các nhóm thuốc [24]. Nhóm máu và chế phẩm
16
máu và nhóm thuốc ung thư, chống thải ghép thường được sử dụng tại BV tuyến
TW và tuyến tỉnh, không có ở BV tuyến huyện và TYT xã. Theo số liệu thống kê
của BHXH Việt Nam, nhóm thuốc điều trị ung thư chiếm 16% , đứng thứ 2 trong
10 nhóm thuốc có chi phí sử dụng và thanh toán BHYT cao [5].
Nhóm thuốc đông y, thuốc từ dược liệu, vị thuốc YHCT trong những năm
qua đã được Nhà nước chú trọng phát triển. Doanh thu thuốc từ dược liệu sản xuất
trong nước tăng cao, năm 2011 tăng 33%, năm 2010 tăng 25% so với năm trước
[10]. Việc củng cố hoạt động của hệ thống YHCT là nội dung quan trọng trong kế
hoạch hành động của Chính phủ và BYT nhằm thực hiện hiệu quả chính sách quốc
gia về YHCT đến năm 2020 .
Nhìn chung thuốc đang chiếm một tỷ trọng kinh phí tương đối cao trong hệ
thống chăm sóc sức khỏe, đặc biệt tại BV hiện nay mặc dù cơ quan quản lý Nhà