BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ THÁI BÌNH
KH¶O S¸T THùC TR¹NG Sö DôNG THUèC B¶O HIÓM Y TÕ
NGO¹I TRó T¹I BÖNH VIÖN §A KHOA BØM S¥N
TØNH THANH HãA N¡M 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI - 2015
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
VŨ THÁI BÌNH
KH¶O S¸T THùC TR¹NG Sö DôNG THUèC B¶O HIÓM Y TÕ
NGO¹I TRó T¹I BÖNH VIÖN §A KHOA BØM S¥N
TØNH THANH HãA N¡M 2014
LUẬN VĂN DƯỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
Chuyên ngành: Tổ chức quản lý Dược
Mã số: CK 60 72 04 12
Hướng dẫn khoa học: TS. Đỗ Xuân Thắng
HÀ NỘI - 2015
1.2. Kê đơn thuốc và các tiêu chí đánh giá.......................................... 11
1.2.1. Kê đơn thuốc ............................................................................ 11
1.2.2. Khái niệm về kê đơn thuốc tốt .................................................. 13
1.2.3. Bộ chỉ số đo lường sử dụng thuốc ngoại trú .............................. 14
1.3. Một số văn bản quản lý của Bộ y tế trong lĩnh vực dược liên quan đến
kê đơn thuốc và sử dụng thuốc ....................................................... 17
1.4. Vài nét về Bệnh viện đa khoa Bỉm Sơn. .......................................... 25
1.4.1. Cơ cấu tổ chức .......................................................................... 26
1.4.2. Cơ cấu nhân lực bệnh viện. ....................................................... 26
1.4.3. Hội đồng thuốc và điều trị. ....................................................... 27
1.4.4. Khoa Dược Bệnh viện Đa khoa Bỉm Sơn.................................. 28
1.4.5. Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện đa khoa Bỉm Sơn năm 2014.... 29
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........... 31
2.1. Đối tượng nghiên cứu ...................................................................... 31
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu ............................................................... 31
2.1.2. Thời gian, địa điểm nghiên cứu: ............................................... 31
2.2. Phương pháp nghiên cứu ................................................................. 31
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: ................................................................. 31
2.2.2. Cỡ mẫu nghiên cứu ................................................................... 33
2.2.3. Phương pháp phân tích và sử lý số liệu ..................................... 33
2.3. Các chỉ tiêu nghiên cứu ................................................................... 34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ..................................................... 37
3.1. Phân tích danh mục thuốc BHYT ngoại trú sử dụng tại Bệnh viện Đa
khoa Bỉm sơn năm 2014 ................................................................. 37
3.1.1. So sánh giá trị sử dụng thuốc ngoại trú so với toàn bệnh viện
năm 2014 ................................................................................. 37
3.1.2. So sánh giá trị thuốc ngoại nhập và thuốc nội ........................... 37
3.1.3. Cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý ................... 38
4.2.2. Tỷ lệ số lượng thuốc trung bình thuốc trong một đơn ............... 53
4.2.3. Tỷ lệ giá trị tiền thuốc trung bình trong một đơn....................... 54
4.2.4. Cơ cấu số lượng thuốc được kê trong một đơn .......................... 54
4.2.5. Tỷ lệ đơn thuốc có kháng sinh, Corticoid và Vitamin. .............. 55
4.2.6. Tỷ lệ thuốc được kê nằm trong danh mục thuốc thiết yếu. ........ 55
4.2.7. Tỷ lệ thuốc tiêm được kê đơn ................................................... 55
4.2.8. Tỷ lệ đơn thuốc kê không theo chẩn đoán ................................. 56
KẾT LUẬN ................................................................................................. 57
KIẾN NGHỊ................................................................................................ 60
TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt
WHO
INRUD
Tiếng Anh
Tiếng Việt
World Health Organization
Tổ chức y tế Thế giới
Interationl Network for the
Hiệp hội sử dụng thuốc hợp
Rational Use of Drugs
Danh mục thuốc bệnh viện
DLS
Dược lâm sàng
DSĐH
Dược sỹ đại học
DSTH
Dược sỹ trung học
YHCT
Y học cổ truyền
DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1: Bộ chỉ số đo lường sử dụng thuốc của WHO................................ 16
Bảng 1.2: Cơ cấu nhân lực bệnh viện ........................................................... 26
Bảng 1.3: Cơ cấu tổ chức của Hội đồng thuốc và điều trị ............................. 27
Bảng 1.4. Mô hình bệnh tật tại Bệnh viện đa khoa Bỉm Sơn, năm 2014 ...... 30
Bảng 3.1. So sánh giá trị sử dụng thuốc ngoại trú BHYT so với toàn bệnh viện .... 37
Bảng 3.2. So sánh giá trị thuốc ngoại nhập và thuốc nội............................... 37
Bảng 3.3. cơ cấu thuốc sử dụng theo nhóm tác dụng dược lý ....................... 38
Bảng 3.4. Giá trị tiền thuốc phân tích theo phương pháp ABC ..................... 40
Bảng 3.5. Phân loại thuốc theo tác dụng dược lý ......................................... 41
con người. Việc quyết định lựa chọn thuốc, đường dùng, cách dùng, liều
dùng, thời điểm dùng thuốc phụ thuộc vào người thầy thuốc người trực tiếp
thăm khám và chẩn đoán bệnh; bệnh nhân là người thực hiện đầy đủ và đúng
theo phác đồ điều trị của thầy thuốc.
Để chỉ định sử dụng thuốc cho bệnh nhân an toàn, hợp lý và có hiệu
quả, vai trò của người thầy thuốc là hết sức quan trọng. Nó đòi hỏi người thầy
thuốc phải có trình độ chuyên môn giỏi, vững vàng và phải có đạo đức nghề
nghiệp. Tuy nhiên trước tác động của cơ chế thị trường việc sử dụng thuốc
chưa hiệu quả và không hợp lý trong quá trình cung ứng và sử dụng đang là
vấn đề cần báo động, cùng với sự xuất hiện của hàng loạt các loại thuốc mới
và sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống y – dược tư nhân đã làm cho việc quản
lý kê đơn và sử dụng thuốc ngày càng trở lên khó khăn hơn.
Trong những năm qua dưới sự chỉ đạo của Đảng và nhà nước nghành y
tế nước ta đã có nhiều nỗ lực trong việc chăm sóc sức khỏe nhân dân. Thị
trường thuốc đã đáp ứng đủ thuốc cho nhu cầu khám chữa bệnh, tình hình
cung ứng, quản lý sử dụng thuốc trong điều trị đã được chấn chỉnh, công tác
dược bệnh viện ngày càng tiến bộ và hoàn thiện.
Bệnh viện Đa khoa thị xã Bỉm Sơn là Bệnh viện công lập dưới sự quản
lý trực tiếp của Sở y tế Thanh Hóa, nằm ở phía bắc tỉnh Thanh Hóa với nhiệm
vụ chăm sóc sức khỏe cho nhân dân thị xã Bỉm Sơn và một số huyện lân cận.
Hàng năm Bệnh viện đã thực hiện tốt công tác khám, chữa bệnh cho hàng c
nghìn lượt người bao gồm các đối tượng bệnh nhân khác nhau như Bệnh nhân
Bảo hiểm y tế, bệnh nhân viện phí, chính sách và dịch vụ. Để đảm bảo hoạt
động sử thuốc đạt hiệu quả cao đặc biệt là trong công tác khám bệnh ngoại
trú. HĐT & ĐTBV, Khoa Dược luôn bám sát các thông tư, hướng dẫn của Bộ
1
y tế nhằm nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và công tác sử dụng thuốc an
toàn, hợp lý. Tuy nhiên thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú bảo hiểm y tế còn
lệ người dân trên 1 giường bệnh vẫn chưa được cải thiện. việc cung ứng
thuốc phục vụ nhu cầu điều trị được các công ty dược chủ yếu tập trung vào
thị trường bệnh viện công thông qua đấu thầu. Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc
kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng chiếm 37,7% giảm nhẹ so với
năm 2009 ( 38,4% ). Tỷ lệ sử dụng vitamin, dịch truyền và corticoid trong cơ
cấu sử dụng thuốc giảm so với cùng kỳ năm 2009. Vitamin giảm từ 6,5% (
năm 2009) xuống còn 4,7% ( năm 2010). Đây là tín hiệu đáng mừng trong
công tác sử dụng thuốc hợp lý tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc biệt tuyến
tỉnh, huyện chưa thực hiện tốt sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi phí không
cần thiết cho người bệnh, tăng tình trạng kháng kháng sinh.
Trong thời gian tới, cần tăng cường chỉ đạo, kiểm tra, giám sát hoạt
động của hội đồng thuốc và điều trị, công tác bình bệnh án, phân tích sử dụng
thuốc trong các ca lâm sàng nhằm hạn chế việc lạm dụng kháng sinh và
vitamin, nâng cao chất lượng điều trị. Tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng
số tiền sử dụng thuốc cao, một phần cho thấy mô hình bệnh tật tại Việt Nam
có tỷ lệ các bệnh nhiễm khuẩn cao, mặt khác có thể đánh giá tình trạng lạm
dụng kháng sinh còn khá phổ biến. Theo báo cáo của BMI ( Business
Monitor International ), năm 2008 Việt nam đã chi khoảng 1,1 tỷ USD cho
dược phẩm. Trong năm 2009, con số này tăng lên khoảng 1,2 tỷ USD do chi
3
phí mua thuốc để phòng chống các dịch bệnh tăng lên. Vào năm 2013, chi
phí này sẽ tăng lên khoảng 1,7 tỷ USD. Giá trị thị trường thuốc kê đơn ước
đạt 1,45 tỷ USD vào năm 2013, chiếm khoảng 73,2% thị trường dược phẩm.
thuốc không kê đơn sẽ đạt khoảng 529 triệu USD, chiếm khoảng 26,8% [8].
Theo báo cáo chung tổng quan ngành y tế năm 2012, nhìn chung hệ
thống sản xuất, cung ứng thuốc đã đảm bảo cung ứng đủ thuốc thiết yếu đáp
ứng đủ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của nhân dân, sản xuất thuốc trong nước
hiện đáp ứng 47% nhu cầu về thuốc của người dân về giá trị sử dụng. Mạng
vaccin (9), thuốc đông y (27). Trong một nghiên cứu về cung ứng steroid tại
các nhà thuốc ở Hà Nội, 98% nhà thuốc nghiên cứu đều bán hoặc là
prednisolon hoặc là dexamethaxon và chỉ có duy nhất một lần khách hàng
được hỏi về đơn thuốc.
Đơn thuốc là căn cứ để dược sĩ cung cấp thuốc, theo đó bệnh nhân sử
dụng điều trị bệnh. Những sai sót trong kê đơn sẽ gây ra nhiều hậu quả đáng
tiếc cho bệnh nhân. Có tới 80 - 90% thầy thuốc nghĩ rằng mỗi triệu chứng ở
bệnh nhân cần phải điều trị bằng một loại thuốc riêng biệt nên đã kê đơn
nhiều loại thuốc. Đôi khi thầy thuốc kê đơn chịu áp lực của cả bệnh nhân lẫn
gia đình họ muốn dùng nhiều thuốc để chóng khỏi bệnh. Ngoài ra, người thầy
thuốc mắc thói quen kê đơn không đúng thường có xu hướng chịu áp lực về
kê đơn không đúng của đồng nghiệp, các công ty dược phẩm giàu quyền lực.
Khi uống thuốc, ngoài tác dụng chữa bệnh, thuốc còn có khả năng gây ra
những phản ứng làm xáo trộn cơ thể, đây là những tác dụng không mong
muốn hay còn gọi là tác dụng phụ của thuốc.
Vì thế vấn đề an toàn sử dụng thuốc là trách nhiệm đặt ra cho cả bác sĩ,
dược sĩ, điều dưỡng, cơ quan quản lý dược, hãng bào chế và bản thân người
bệnh. Trong một nghiên cứu đánh giá chất lượng kê đơn trong điều trị tại
khoa tiêu hóa của một bệnh viện tuyến thành phố cho thấy: số thuốc ít nhất
được kê trong một đơn là 3, số thuốc nhiều nhất trong một đơn là 8, đơn có
số tương tác lớn nhất là 3. Trong đơn có tương tác, để số tương tác tăng từ 1 5
2 cần trung bình 0,9 thuốc trên một đơn nhưng để số tương tác tăng từ 2 - 3
chỉ cần tăng trung bình 0,4 thuốc trên một đơn. Do đó, có thể nói rằng số
tương tác tăng theo cấp số nhân so với số thuốc kê. Mặc dù bác sĩ kê đơn là
nhằm mục đích chăm sóc điều trị bệnh nhân nhưng thực tế không có loại
thuốc nào khi cho dùng lại không có rủi ro của nó. Thách thức chủ yếu của
công tác an toàn sử dụng thuốc là làm sao giảm thiểu đến mức tối đa những
tác dụng đối nghịch của thuốc.
viện Hữu Nghị từ năm 2004 đến năm 2010, tổng tiền thuốc sử dụng chiếm tỷ
lệ từ 29,4% (năm 2010) đến 41,2% (năm 2007) trong tổng kinh phí bệnh viện.
Các báo cáo của Bộ y tế qua các năm cho thấy tiền mua thuốc của các bệnh
viện tăng cả về số lượng và tỷ trọng so với tổng kinh phí các bệnh viện
[5],[14]. Theo báo cáo kết quả công tác khám chữa bệnh năm 2009, 2010 của
Cục quản lý khám chữa bệnh - Bộ Y tế, tổng giá trị tiền thuốc sử dụng trong
bệnh viện chiếm tỷ trọng 47,9% (năm 2009) và 58,7% (năm 2010) tổng giá trị
tiền viện phí hàng năm trong bệnh viện [4],[11],[18],[21],[25].
Sử dụng kháng sinh luôn là vấn đề được quan tâm trong sử dụng thuốc
an toàn, hợp lý. Theo kết quả nghiên cứu tại các bệnh viện, kinh phí mua
thuốc kháng sinh luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng giá trị tiền thuốc sử
dụng. Kết quả khảo sát của Bộ Y tế tại một số bệnh viện cho thấy, từ năm
2007 đến năm 2009, kinh phí mua thuốc kháng sinh chiếm tỷ lệ không đổi, từ
32,3% đến 32,4% trong tổng giá trị tiền thuốc sử dụng.
Nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm 2009 trên 38 bệnh
viện đa khoa (7 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 14 bệnh viện tuyến tỉnh
và 17 bệnh viện huyện/ quận) đại diện cho 6 vùng trên cả nước cũng cho kết
quả tương tự với tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng sinh ở 3 tuyến bệnh viện trung
bình là 32,5%, trong đó cao nhất là ở các bệnh viện tuyến huyện (43,1%) và
thấp nhất tại các bệnh viện tuyến trung ương (25,7%)[20].
Cũng trong năm 2009, theo một thống kê của Bộ Y tế từ các báo cáo về
tình hình sử dụng thuốc của một số bệnh viện, tỷ lệ giá trị tiền thuốc kháng
7
sinh trung bình tại các bệnh viện chuyên khoa trung ương (21 bệnh viện) là
28%, tại các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh (15 bệnh viện) là 34% và tại
các bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh (52 bệnh viện) là 43%. Tại một số bệnh viện
chuyên khoa tuyến trung ương có đến hơn 50% giá trị tiền thuốc sử dụng
phân bổ cho nhóm kháng sinh. Tại bệnh viện Da Liễu Trung Ương, nhóm
năm 2010 cho thấy, trong tổng số 30 hoạt chất có giá trị thanh toán lớn nhất,
có các thuốc bổ trợ là L-Ornithin L-Aspartat, Ginkgo Biloba và Arginin.
Trong đó, hoạt chất L-Ornithin L-Aspartat nằm trong số 5 hoạt chất chiếm tỷ
lệ lớn nhất về giá trị thanh toán. Đồng thời, hoạt chất này cũng là một trong
những hoạt chất chiếm giá trị nhập khẩu lớn nhất thuộc nhóm tiêu hóa có xuất
xứ từ Ấn Độ và Hàn Quốc năm 2008 [24],[28].
Cũng theo kết quả nghiên cứu của Vũ Thị Thu Hương và cộng sự năm
2009, các nhóm thuốc tiêu hóa có giá trị sử dụng lớn tại tất cả các BV khảo
sát, trong đó các thuốc hỗ trợ điều trị bệnh gan mật (L-Ornithin L-Aspartat và
Arginin) chiếm tỷ lệ cao. Tại 1 bệnh viện đa khoa tuyến trung ương, 3 thuốc
chứa L-Ornithin L-Aspartat 500 mg, dạng tiêm có giá trị sử dụng là 21 tỷ,
chiếm tỷ trọng 25,3% nhóm thuốc tiêu hóa. Ngoài ra, tại các bệnh viện tuyến
TW và tuyến tỉnh, nhóm thuốc giải độc và dùng trong các trường hợp ngộ độc
cũng chiếm tỷ lệ cao về giá trị và phần lớn giá trị của nhóm thuốc này tập
trung vào các hoạt chất có giá thành cao, hiệu quả điều trị không rõ ràng là
Glutathion và Alfoscerate.
Một thực tế cho thấy, hiện nay các thuốc sản xuất trong nước vẫn
chiếm tỷ lệ thấp trong danh mục thuốc và giá trị tiền thuốc sử dụng. Các kết
quả khảo sát tại 1 số BV đa khoa và chuyên khoa ở 3 tuyến BV đều cho thấy,
các thuốc sản xuất trong nước chỉ chiếm 25,5%-43,3% số khoản mục thuốc và
7%-51% tổng giá trị sử dụng, trong đó thấp nhất là các BV tuyến TW. Bên
cạnh đó, trong các thuốc nhập khẩu, các BV ưu tiên sử dụng các thuốc nhập
khẩu từ các nước như Ấn Độ, Hàn Quốc. Năm 2008, thuốc thành phẩm nhập
khẩu từ 2 quốc gia này chiếm trên 1/5 tổng kim ngạch nhập khẩu thuốc thành
9
phẩm vào thị trường Việt Nam, trong đó tập trung chủ yếu là các nhóm thuốc
kháng khuẩn, chuyển hóa và tiêu hóa mà nhiều doang nghiệp trong nước đang
tiến hành sản xuất.
Khái niệm
Đơn thuốc là tài liệu pháp lý của việc chỉ định dùng thuốc và bán thuốc, là
sự hướng dẫn của người kê đơn dành cho người bán thuốc và sử dụng thuốc.
Nội dung của một đơn thuốc phải có đầy đủ:
- Tên, địa chỉ, số điện thoại của người kê đơn.
- Ngày, tháng, năm.
- Tên thuốc, hàm lượng.
- Dạng thuốc, tổng số thuốc.
- Hướng dẫn, cảnh báo về thuốc.
- Tên, địa chỉ, tuổi bệnh nhân.
- Chữ ký của người kê đơn.
Ngoài ra có thể bổ sung thêm các thông tin khác như: loại bảo hiểm y tế
của bệnh nhân.
Cách ghi nội dung của một đơn thuốc
- Kê đơn thuốc vào mẫu đơn, mẫu sổ quy định kèm theo Quy chế này.
- Ghi đủ các mục in trong đơn; chữ viết rõ ràng, dễ đọc, chính xác.
- Địa chỉ người bệnh phải ghi chính xác số nhà, đường phố hoặc thôn, xã;
- Với trẻ dưới 72 tháng tuổi: ghi số tháng tuổi và ghi tên bố hoặc mẹ;
- Viết tên thuốc theo tên chung quốc tế (INN, generic name) hoặc nếu
ghi tên biệt dược phải ghi tên chung quốc tế trong ngoặc đơn (trừ trường hợp
thuốc có nhiều hoạt chất);
- Ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của mỗi thuốc;
- Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết hoa.
- Số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc viết bằng
số và thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một chữ số.
11
- Nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày bên cạnh;
- Gạch chéo phần đơn còn giấy trắng. Ký, ghi (hoặc đóng dấu) họ tên
- Người bán thuốc phải bán đúng thuốc kê trong đơn; không được tự ý
thay đổi. Trường hợp chất có cùng thành phần dược chất, cùng dạng bào chế,
chỉ khác tên biệt dược thì được quyền thay thế nhưng phải được sự đồng ý
của người mua, và ghi tên thuốc, hàm lượng, số lượng đã thay thế vào đơn.
1.2.2. Khái niệm về kê đơn thuốc tốt
Khái niệm về đơn thuốc tốt
Một đơn thuốc tốt phải đảm bảo đầy đủ các thông tin tiêu chuẩn được
yêu cầu cho đơn thuốc bao gồm:
- Nội dung đơn thuốc.
- Cách ghi nội dung đơn thuốc.
- Cách bố trí các mục trong đơn theo yêu cầu của từng nước.
Nội dung về kê đơn tốt
Kê đơn thuốc là sự chỉ định thuốc cho điều trị.
Kê đơn tốt là sự chỉ định thuốc cho điều trị một cách có lựa chọn dựa
vào quá trình suy luận logic trên những thông tin chính xác và khách quan.
Quá trình này không giống như phản xạ đầu gối, hoặc một thực đơn trong
sách dạy nấu ăn, hay là trước một áp lực thương mại.
Những yêu cầu về kê đơn thuốc tốt
Để kê đơn thuốc tốt người thầy thuốc cần phải tuân theo cách tiếp cận
vấn đề một cách có hệ thống bao gồm:
Tuân theo quá trình điều trị hợp lý như sau:
- Đầu tiên cần xác định một cách thận trọng vấn đề bệnh lý của bệnh
nhân (Chẩn đoán bệnh).
13
- Sau đó, cần xác định mục tiêu điều trị (giúp người thầy thuốc tập
trung vào vấn đề chính, hạn chế các khả năng điều trị ở số lượng nhất định, do
đó giúp cho việc lựa chọn cuối cùng dễ dàng hơn).
Trong chu trình sử dụng thuốc có rất nhiều đối tượng tham gia:
- Hệ thống y tế, cơ sở khám chữa bệnh.
- Người kê đơn
- Nhân viên phân phối, cấp phát.
- Người bệnh và cộng đồng.
Để sử dụng thuốc hợp lý , an toàn các đối tượng tham gia phải có sự
phối hợp chặt chẽ; thực hiện đúng, đầy đủ các quy định trong sử dụng thuốc.
Bộ chỉ số đo lường sử dụng thuốc ngoại trú
Để đơn giản và chuẩn hóa các nghiên cứu sử dụng thuốc, WHO và
INRUD đã đưa ra một hướng dẫn để điều tra sử dụng thuốc trong các cơ sở
chăm sóc sức khỏe.
Hướng dẫn này mô tả chi tiết một tập hợp các chỉ số đáng tin cậy để đo
lường việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân ngoại trú nói chung và phương pháp
tiêu chuẩn để thu thập các dữ liệu cho các chỉ số này. Các điểm chính của
hướng dẫn sử dụng sử dụng được tóm tắt ở bảng 1.1.
Mặc dù không phải toàn diện, các chỉ số cốt lõi cung cấp một công cụ
đơn giản để đánh giá một cách nhanh chóng và đáng tin cậy một vài khía
cạnh của việc sử dụng thuốc. Từ đó phác thảo được một bức tranh khái quát
về các hoạt động sử dụng thuốc hiện tại ở khu vực nghiên cứu so với giá trị
tối ưu cho mỗi chỉ số. Chẳng hạn bằng cách sử dụng chỉ số này, cho thấy ở
Ghana và Nigeria đều sử dụng tương đối nhiều thuốc cho một đơn thuốc (4,3
và 3,8 thuốc /đơn); ở Việt Nam có nhiều nghiên cứu như tại Bệnh viên đa
khoa tỉnh Bắc Giang năm 2011 tỷ lệ 3,4-3,6 thuốc/đơn; tại bệnh viện A tỉnh
Thái Nguyên năm 2013 là 2,4±1,0 thuốc/đơn [14],[19],….
15
Bảng 1.1: Bộ chỉ số đo lường sử dụng thuốc của WHO [32]