BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN MINH NAM
PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ VÀ
VIỆC THANH TOÁN BẢO HIỂM Y TẾ
NGOẠI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƢỢC HỌC
HÀ NỘI 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
NGUYỄN MINH NAM
PHÂN TÍCH CHI PHÍ ĐIỀU TRỊ VÀ
VIỆC THANH TOÁN BẢO HIỂM Y TẾ
NGOẠI TRÚ TẠI
BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI NĂM 2014
LUẬN VĂN THẠC SĨ DƢỢC HỌC
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN..............................................................................................................i
MỤC LỤC ................................................................................................................. ii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT .....................................................iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ............................................................................. v
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ ................................................................. vii
ĐẶT VẤN ĐỀ ............................................................................................................ 1
Chƣơng 1. TỔNG QUAN .......................................................................................... 3
1.1.
BẢO HIỂM Y TẾ ..................................................................................... 3
1.2.
CHI PHÍ VÀ CÁCH TÍNH CHI PHÍ .................................................. 13
1.3.
GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI .................................... 16
1.4.
CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ...................................................... 18
Chƣơng 2. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU............................ 20
2.1.
ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ................................................................. 20
BÀN LUẬN VỀ CÁC YẾU TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHI PHÍ ĐIỀU
TRỊ NGOẠI TRÚ ............................................................................................... 54
ii
4.3.
BÀN LUẬN VỀ PHƢƠNG THỨC THANH TOÁN BHYT NGOẠI
TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ...................................................................................... 59
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .................................................................................. 63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...........................................................................................i
PHỤ LỤC ................................................................................................................... v
iii
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
BHXH
Bảo hiểm xã hội
BHYT
Bảo hiểm y tế
Bảng 3.9: Cơ cấu chi phí trong điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tim Hà Nội ..... 33
Bảng 3.10: Độ tuổi trung bình của bệnh nhân điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tim
Hà Nội ................................................................................................................. 34
Bảng 3.11: Ảnh hƣởng của các nhóm bệnh đến chi phí xét nghiệm .................. 37
Bảng 3.12: Ảnh hƣởng của các nhóm bệnh đến chi phí chẩn đoán hình ảnh ..... 37
Bảng 3.13: Ảnh hƣởng của các nhóm bệnh đến chi phí thuốc điều trị ............... 38
Bảng 3.14: Ảnh hƣởng của các nhóm bệnh đến tổng chi phí ............................. 38
Bảng 3.15: Chi phí trung bình đối với các nhóm bệnh ngoại trú ........................ 39
Bảng 3.16: Một số chỉ số kê đơn thuốc BHYT ngoại trú tại BV Tim Hà Nội ... 40
Bảng 3.17: Một số tƣơng tác thuốc trong đơn thuốc có ý nghĩa lâm sàng [9, 16] . 41
Bảng 3.18: Một số chỉ số trong cơ cấu danh mục thuốc BHYT ngoại trú.......... 42
Bảng 3.19: Số lƣợng, giá trị của từng thế hệ trong một số nhóm thuốc cùng tác
dụng dƣợc lý ........................................................................................................ 47
Bảng 3.20: Số lƣợng xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh ....................................... 48
Bảng 3.21: Một số chỉ số trong thanh toán BHYT ngoại trú năm 2014 của bệnh
viện Tim Hà Nội .................................................................................................. 49
v
Bảng 3.22: Ví dụ về hệ số đề xuất sử dụng trong phƣơng thức thanh toán theo
nhóm chẩn đoán .................................................................................................. 52
Bảng 4.23: So sánh chi phí một lƣợt điều trị ngoại trú tại bệnh viện Tim Hà Nội
............................................................................................................................. 53
Bảng 4.24: Một số chỉ số về đơn thuốc BHYT ngoại trú của các bệnh viện ...... 55
vi
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
đồng năm 2009[5]. Sau khi Luật BHYT có hiệu lực, tình trạng bội chi có đƣợc
cải thiện: năm 2010 kết dƣ 5.900 tỷ, năm 2011 là 4.400 tỷ và năm 2012 là 5.700
tỷ đồng. Nguyên nhân quỹ BHYT kết dƣ do đối tƣợng đƣợc ngân sách hỗ trợ
tham gia BHYT đƣợc mở rộng, mức đóng BHYT tăng từ 3% lên 4,5% cùng với
lƣơng tối thiểu tăng nhiều trong khi viện phí hầu nhƣ không thay đổi chứ không
phải do các cơ sở KCB nâng cao chất lƣợng, giảm chi phí điều trị[24].
Bệnh viện Tim Hà Nội là bệnh viện chuyên khoa tim mạch tuyến cuối của
Thủ đô Hà Nội và cả nƣớc. Trong thời gian qua, tỉ lệ bệnh nhân đến khám và
điều trị ngoại trú có bảo hiểm y tế tại bệnh viện Tim Hà Nội tăng dần qua các
năm, năm 2014 đạt trên 70.000 lƣợt ngƣời khám, chiếm khoảng 80% số bệnh
nhân khám bệnh. Tuy nhiên cùng với đó tình trạng vƣợt trần quỹ bảo hiểm y tế
ngoại trú tại bệnh viện Tim Hà Nội cũng tăng đột biến, năm 2014 là trên 25 tỷ
1
đồng trong khi nguyên nhân bội chi quỹ BHYT vẫn chƣa đƣợc tìm hiểu và
nghiên cứu một cách rõ ràng[3]. Các bệnh nhân đến khám ngoại trú tại bệnh
viện chủ yếu điều trị các bệnh tim mạch, chuyển hóa mãn tính: bệnh mạch vành,
đái tháo đƣờng, các bệnh sau can thiệp hoặc phẫu thuật tim, suy tim… thƣờng
có các xét nghiệm thƣờng quy và phải điều trị bằng thuốc lâu dài. Thuốc tim
mạch thuộc nhóm thuốc có giá thành cao, vì vậy sử dụng thuốc hợp lý, đặc biệt
là lựa chọn danh mục thuốc vừa đảm bảo yêu cầu điều trị, vừa đảm bảo hiệu quả
kinh tế cũng là một yêu cầu đặt ra đối với bệnh viện.
Thanh toán bảo hiểm ngoại trú tại bệnh viện vẫn theo hình thức phí dịch
vụ có trần. Với phƣơng thức thanh toán này việc kiểm soát chi phí là khó khăn
do bản chất của cơ chế chi trả theo phí dịch vụ là khuyến khích cơ sở cung ứng
càng nhiều dịch vụ càng có lợi, nhất là trong bối cảnh bệnh viện Tim Hà Nội là
bệnh viện tự chủ tài chính, tự hạch toán thu chi. Hiện tại Bộ y tế đang thí điểm
triển khai hình thức chi trả chi phí bảo hiểm y tế theo nhóm chẩn đoán nhằm tiết
kiệm chi phí điều trị, nâng cao hiệu quả hoạt động ở cấp độ bệnh viện, đảm bảo
hiện, trong đó mức phí bảo hiểm thƣờng đƣợc tính theo tỷ lệ thu nhập của ngƣời
lao động, trong khi quyền lợi khám chữa bệnh đƣợc hƣởng không theo mức
đóng góp mà theo nhu cầu khám chữa bệnh. Theo luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật BHYT thì BHYT là hình thức bảo hiểm bắt buộc đƣợc áp dụng
đối với các đối tƣợng theo quy định của Luật bảo hiểm y tế để chăm sóc sức
khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nƣớc tổ chức thực hiện[18].
BHYT toàn dân là chƣơng trình BHYT xã hội bao phủ đƣợc toàn bộ dân
số. Phát triển BHYT toàn dân bền vững là một trong những trọng tâm của công
tác y tế. Đề án thực hiện lộ trình tiến tới BHYT toàn dân đặt ra mục tiêu mở
rộng bao phủ BHYT cho giai đoạn 2012 – 2020 gồm: phấn đấu đạt tỉ lệ bao phủ
ít nhất 70% dân số năm 2015 và đạt tỉ lệ bao phủ ít nhất 80% năm 2020, giảm tỉ
lệ chi trả tiền túi trên tổng chi phí bảo hiểm xuống còn 40% vào năm 2015.[19]
3
Hình 1.1: Tỉ lệ % dân số có bảo hiểm y tế qua các giai đoạn
10%
20%
• 1989: Thí điểm bảo hiểm ở một số tỉnh
• 1992: Lao động chính thức + người hưu trí
• 1995: Thẻ BHYT cho người nghèo
30%
• 2002: Quỹ khám chữa bệnh cho người nghèo
• 2005: Bắt buộc + Tự nguyện
Pháp: Chế độ BHYT ở Pháp có tính bắt buộc và độc quyền. Bắt buộc vì
toàn dân và cả những ngƣời nƣớc ngoài cƣ trú tại Pháp đều phải đóng góp vào
hệ thống BHYT này, không có lựa chọn nào khác. Độc quyền vì mặc dù các
công ty tƣ nhân đứng ra phụ trách việc thu, quản lý và phân bổ lại quỹ BHYT
nhƣng họ hoạt động cho nhà nƣớc và hoàn toàn không có sự cạnh tranh của
công ty khác. Quỹ BHYT sẽ chi từ 35 – 70% cho chi phí khám chữa bệnh, từ 15
– 100% cho chi phí thuốc nên hầu nhƣ mọi ngƣời vẫn phải mua thêm bảo hiểm
sức khỏe ở ngoài để tất cả các chi phí khám chữa bệnh đƣợc hoàn lại 100%.
Trong lĩnh vực bảo hiểm sức khỏe thì có sự tự do cạnh tranh, các công ty bảo
hiểm tự do đƣa ra các sản phẩm hấp dẫn để thu hút khách hàng.
Thái Lan: Thái Lan bắt đầu triển khai BHYT toàn dân từ năm 1996, đến
năm 2001 chƣơng trình BHYT toàn dân thực hiện thành công. Hệ thống BHYT
Thái Lan đƣợc coi là một trong những hệ thống BHYT phức tạp trong khu vực.
Để quản lý BHYT có sự tham gia của 4 bộ. Bộ tài chính thực hiện BHYT cho
công chức, viên chức và công nhân làm việc trong các doanh nghiệp nhà nƣớc.
Bộ lao động và phúc lợi xã hội thực hiện BHYT thông qua cơ quan BHXH cho
công nhân làm việc trong các đơn vị ngoài quốc doanh. Bộ y tế thực hiện BHYT
cho ngƣời nghèo và BHYT tự nguyện. Bộ thƣơng mại thực hiện bảo hiểm tai
nạn giao thông. Việc quản lý phân tán quỹ gây ra khó khăn cho việc điều tiết
quỹ khi cần thiết, đôi khi còn gây ra sự mất công bằng giữa những ngƣời tham
gia BHYT.
1.1.2. Quá trình hình thành bảo hiểm y tế Việt Nam
Trƣớc năm 1992, những bƣớc đi đầu tiên ở Việt Nam là thí điểm các loại
quỹ mang tính BHYT khác nhau ở một số tỉnh nhƣ: Quỹ bảo hiểm sức khỏe ở
Hải Phòng, quỹ khám chữa bệnh nhân đạo ở Vĩnh Phú, quỹ BHYT tự nguyện ở
Bến Tre, Quảng Trị, quỹ khám chữa bệnh ngành đƣờng sắt… cho đến hiện tại
5
6
BHYT sang BHXH Việt Nam. Đến năm 2005, Chính phủ ban hành Nghị định
63/2005/NĐ-CP ngày 16/5/2005 về việc ban hành điều lệ BHYT. Đặc điểm nổi
bật của giai đoạn này là nhà nƣớc chuyển từ việc cấp ngân sách cho bệnh viện
sang hỗ trợ ngƣời dân tham gia bảo hiểm y tế.
Năm 2008, Quốc hội thông qua Luật BHYT số 25/2008/QH12, chính sách
và lộ trình thực hiện BHYT toàn dân đƣợc quy định trong văn bản pháp lý cao
nhất. Ngày 13/6/2014, Quốc hội tiếp tục thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số
điều của Luật bảo hiểm y tế số 46/2014/QH13, trong đó có một số điểm quan
trọng để hạn chế bất cập của luật hiện hành, tạo cơ sở pháp lý và bảo đảm quyền
lợi cho ngƣời tham gia BHYT, tính bền vững của quỹ BHYT nhƣ: Quy định bắt
buộc tham gia BHYT, quy định khuyến khích tham gia BHYT theo hộ gia đình,
quy định mở rộng phạm vi quyền lợi và mức hƣởng BHYT, quy định mở thông
tuyến khám chữa bệnh BHYT, quy định cụ thể việc quản lý và sử dụng quỹ
BHYT[17, 18].
1.1.3. Các phƣơng thức thanh toán chi phí khám bệnh Bảo hiểm y tế
Trên thế giới có nhiều phƣơng thức khác nhau để thanh toán chi phí khám
chữa bệnh cho cơ sở y tế, trong đó bao gồm một số phƣơng thức thanh toán
chính nhƣ: Thanh toán theo phí dịch vụ FFS (fee for services), theo mục chi
(line item budget), theo hình thức cấp ngân sách (global budget payment), theo
ngày điều trị (per diem/flat dairy rate), theo định suất (per capita/capitation),
theo ca bệnh (case payment/flat per case/DRGs – diagnosis related groups)…
7
Bảng 1.1: Các phương thức thanh toán chi phí KCB BHYT
Đầu vào
không khuyến khích hoặc
không có cơ chế để nâng
cao hiệu suất của sự kết
hợp đầu vào, khuyến khích
chi tiêu tất cả số tiền còn
lại vào cuối năm ngân sách
Cung cấp dịch vụ dƣới
mức cần thiết, tham khao
Theo tổng
ngân sách
Đầu vào các cơ sở dung ứng dịch
Tƣơng lai
Tƣơng lai
hoặc đầu vụ khác, tăng đầu vào, có
ra
cơ chế để nâng cao hiệu
suất của sự kết hợp đầu
vào.
Tăng số ngày (nhập viện
Theo ngày
điều trị
bao gồm cả trên mức cần
thiết, giảm đầu vào cho
mỗi dịch vụ
định
Theo phí dịch
vụ không có
biểu phí cố
Quá khứ
Quá khứ
Đầu vào
Tăng số lƣợng dịch vụ,
tăng đầu vào
định
Cung cấp dịch vụ dƣới
Theo định
suất
Tƣơng lai
Tƣơng lai
Đầu vào
mức cần thiết, khuyến
Thanh toán theo giá dịch vụ: Là thanh toán dựa trên chi phí của thuốc,
hóa chất, vật tƣ, thiết bị y tế, dịch vụ kỹ thuật y tế đƣợc sử dụng trên ngƣời
bệnh.
Thanh toán theo trƣờng hợp bệnh: Là thanh toán theo chí phí khám
bệnh, chữa bệnh đƣợc xác định trƣớc cho từng trƣờng hợp chẩn đoán.
1.1.4. Vấn đề vƣợt trần thanh toán và phƣơng thức thanh toán theo trƣờng
hợp bệnh
Phƣơng thức thanh toán có vai trò kết nối giữa tài chính y tế và cung ứng
dịch vụ y tế, với nhiệm vụ chủ chốt là kiểm soát chi phí và chất lƣợng dịch vụ
bằng cách tạo ra các cơ chế khuyến khích thích hợp. Chi trả dịch vụ y tế đƣợc
xem là một trong năm công cụ điều hành chính sách y tế quan trọng trong cải
cách hệ thống y tế nhằm nâng cao hiệu quả và tính công bằng[5].
Đến năm 2009, thanh toán theo phí dịch vụ vẫn là phƣơng thức thanh toán
chủ yếu đƣợc áp dụng chung đối với dịch vụ y tế cũng nhƣ đối với dịch vụ khám
chữa bệnh bảo hiểm y tế tại Việt Nam. Với phƣơng thức thanh toán này, việc
kiểm soát chi phí là vô cùng khó khăn do bản chất của cơ chế chi trả theo phí
dịch vụ là khuyến khích cơ sở cung ứng càng nhiều dịch vụ càng có lợi, tạo ra
cơ chế khuyến khích cơ sở cung ứng quá mức cần thiết dịch vụ y tế, dẫn đến
việc cơ quan BHYT không kiểm soát đƣợc chi phí, mất cân đối thu chi. Tình
trạng thâm hụt quỹ BHYT diễn ra liên tục từ năm 2005 đến năm 2009 với mức
bội chi tăng từ 138 tỷ đồng năm 2005 lên tới xấp xỉ 2.500 tỷ đồng năm 2009[5].
Nhằm khắc phục các nhƣợc điểm trên, Bộ y tế và Bảo hiểm xã hội đã nỗ lực
thử nghiệm và xây dựng phƣơng thức chi trả mới nhƣ thanh toán theo định suất,
chi trả theo trƣờng hợp bệnh. Các văn bản cũng xây dựng lộ trình áp dụng thanh
toán theo định suất, theo đó đến 2011 có ít nhất 30% cơ sở đăng ký khám chữa
bệnh ban đầu thực hiện phƣơng thức này, đến năm 2013 tăng tỷ lệ này lên 60%
và đến năm 2015 đạt 100%. Tính đến năm 2012, tỷ lệ thực hiện thanh toán theo
10
11
hợp bệnh cơ bản đƣợc hoàn thiện với đầy đủ dữ liệu về chẩn đoán, điều trị và
thuốc, các trƣờng hợp có bệnh mắc kèm cũng đƣợc thống kê để điều chỉnh định
mức chi trả[31].
CHLB Đức bắt đầu áp dụng hệ thống thanh toán theo DRGs vào năm 2003.
Mới đầu DRG đƣợc áp dụng cho trƣờng hợp nội trú, không phân biệt là BHYT
nhà nƣớc hay tƣ nhân. Tất cả bệnh nhân điều trị tại bệnh viện đều đƣợc thanh
toán theo hóa đơn DRGs. Sau giai đoạn 5 năm đầu, mọi bệnh viện trong cùng
một bang đều phải áp dụng chung một cách thanh toán, do vậy, hệ thống DRGs
tại Đức đã đƣợc điều chỉnh khá nhiều và số lƣợng các nhóm DRGs đã tăng lên
nhanh chóng, đòi hỏi phải định nghĩa lại nhiều nhóm chẩn đoán. Các loại phí
điều trị bổ sung cũng đƣợc áp dụng. Việc phân loại chẩn đoán và phác đồ điều
trị đƣợc phát triển sâu hơn bằng cách tạo ra các mã mới. Chất lƣợng số liệu của
hệ thống rất tốt nhờ sự chuẩn hóa trong tính toán. Hệ thống DRGs của Đức còn
đƣợc sử dụng nhƣ một hệ thống tính cƣớc, có nghĩa là mỗi một ca bệnh sẽ đƣợc
tính chi phí trong vòng 1 tuần sau khi bệnh nhân ra viện. Mỗi một nhóm
DRGs là thể hiện của một trọng số chi phí (cost weight) nhân với một tỉ lệ
sàn (base rate). Hiện nay, một tỉ lệ sàn chung đƣợc áp dụng cho mọi bệnh viện
trong cùng một bang (nƣớc Đức có 16 bang). Trong vòng vài năm tới, các tỉ lệ
này sẽ đƣợc điều chỉnh để áp dụng chung cho toàn quốc. Đối với những dịch vụ
đắt tiền có khoảng 150 loại phí bổ sung để trả thêm cho các nhóm DRGs[29].
Hệ thống chi trả theo trƣờng hợp bệnh (DRGs) ở Thái Lan xuất phát từ các
nghiên cứu về hệ thống y tế và nhu cầu điều chỉnh cơ chế định suất. Bắt đầu từ
năm 1993, một hệ thống phân loại các loại chấn thƣơng và cấp cứu thành 100
nhóm bệnh đƣợc thiết kế dựa trên các hồ sơ bệnh án tại 10 bệnh viện. Năm
1995, Thái Lan đã phân loại 500 nhóm bệnh bao phủ tất cả các loại chẩn đoán
điều trị nội trú. Năm 1996, các nhà nghiên cứu bắt đầu sử dụng các dữ liệu điện
tử và thiết kế phần mềm phân loại chẩn đoán theo mã bệnh ICD10, mã thủ
tế
Khái niệm
Là các chi phí liên quan
Ví dụ
Chi phí thuốc, chi phí xét
đến y tế đƣợc sử dụng trực nghiệm, chẩn đoán hình
tiếp để điều trị
13
ảnh…
Là chi phí mà bệnh nhân,
Chi phí đi lại, ăn ở trong
Chi phí trực tiếp không
ngƣời nhà chi trả nhƣng
quá trình khám chữa
phải là y tế
không phải chi phí cho y
Bảng 1.3: Phân loại chi phí theo nguồn gốc
Loại chi phí
Khái niệm
Ví dụ
- Chi phí trực tiếp cho
Chi phí trực tiếp
Chi phí trực tiếp là chi
điều trị: chi phí khám
phí nảy sinh cho hệ
bệnh, xét nghiệm, thuốc,
thống y tế, cho cộng
phòng bệnh, phục hồi
đồng và gia đình trong
chức năng…
giải quyết trực tiếp bệnh
- Chi phí trực tiếp không
Quan điểm nghiên cứu: Tính toán chi phí tùy thuộc vào từng quan điểm
nghiên cứu. Việc xác định quan điểm nghiên cứu là rất quan trọng vì ảnh hƣởng
trực tiếp đến kết quả nghiên cứu. Nêu rõ quan điểm nghiên cứu sẽ giúp ngƣời ra
quyết định lựa chọn đƣợc nghiên cứu phù hợp với bối cảnh ra quyết định, qua
đó tăng cƣờng hiệu quả ứng dụng các nghiên cứu y tế. Có bốn loại quan điểm
khác nhau về chi phí[21]:
- Quan điểm của ngƣời chi trả: Ngƣời nhà bệnh nhân, công ty bảo hiểm,
Chính phủ. Đối với ngƣời chi trả thì chi phí là phí tổn chấp nhận đƣợc và sẵn
sàng chi trả.
- Quan điểm của ngƣời cung cấp dịch vụ: Bệnh viện, tổ chức quản lý y tế,
bác sỹ… thì chi phí là tất cả các khoản ngƣời sử dụng cần phải chi trả trên cơ sở
đã tính đúng, tính đủ của việc chuyển giao dịch vụ.
15
- Quan điểm của ngƣời bệnh: Chi phí là tổng số tiền mà ngƣời bệnh phải
có, để trả trực tiếp cho các dịch vụ, cộng thêm các chi phí khác cần phải bỏ ra
trong thời gian dƣỡng bệnh và mất mát do nghỉ bệnh gây nên.
- Quan điểm xã hội: Đây là quan điểm bao quát nhất. Chi phí xã hội là
tổng chi phí ròng từ tất cả các thành tố khác nhau của xã hội, chi phí cơ hội
trong việc đã chiếm dụng nguồn lực của mục đích khác. Trên quan điểm xã hội,
tất cả chi phí đều đƣợc tính đến mà không quan tâm ai là ngƣời chi trả. Chi phí
bao gồm chi phí trực tiếp (y tế và phi y tế), chi phí gián tiếp và chi phí vô hình.
Trong luận văn này chúng tôi chỉ tính toán chi phí y tế trực tiếp cho điều
trị.
1.3.
GIỚI THIỆU VỀ BỆNH VIỆN TIM HÀ NỘI