Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện c thái nguyên năm 2014 2015 - Pdf 31

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN
THUỐC NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN C
THÁI NGUYÊN NĂM 2014 - 2015

LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I

HÀ NỘI 2015


BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH HẢI

PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN
THUỐC NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN C
THÁI NGUYÊN NĂM 2014 – 2015
LUẬN VĂN DƢỢC SỸ CHUYÊN KHOA CẤP I
MÃ SỐ: CK60720412
Người hướng dẫn khoa học: TS. Hoàng Thị Minh Hiền
ThS. Nguyễn Thị Hà

HÀ NỘI 2015


LỜI CẢM ƠN


Bảo hiểm y tế

BN

Bệnh nhân

CXK

Cơ xương khớp

DMTCY

Danh mục thuốc chủ yếu

DMTTY

Danh mục thuốc thiết yếu

HĐT&ĐT

Hội đồng thuốc và điều trị

INN (International nonproprietary names)

Thuốc gốc quốc tế

INRUD (International Network for theRational Use of Drugs) :Hiệp hội sử
dụng thuốc hợp lý thế giới
RHM


TTY

Thuốc thiết yếu

TW

Trung Ương

UB

Ung bướu

USD

Đô la Mỹ

VNĐ

Việt Nam đồng

WHO (World Health Organization)

Tổ chức y tế thế giới


DANH MỤC BẢNG
STT
1.1
1.2

Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc tiêm
Tỷ lệ đơn thuốc có kê thuốc hỗ trợ, vitamin

Trang
13
14
19
22
27
30
31
33
33
34
35
36
37
38
39
39

và khoáng chất
3.17
3.18

Tỷ lệ đơn thuốc có kê thực phẩm chức năng
Tỷ lệ đơn thuốc có tương tác thuốc

40
40

45


DANH MỤC HÌNH

TT

Tên hình

Trang

1.1

Sơ đồ tổ chức bệnh viện C Thái Nguyên

17

1.2

Sơ đồ tổ chức khoa Khám Bệnh bệnh viện C Thái

18

Nguyên
1.3

Sơ đồ tổ chức khoa Dược Bệnh viện C Thái Nguyên

20


là nơi thực hiện năng lực và vai trò của ngành y tế trong chiến lược chăm
sóc và bảo vệ sức khỏe con người. Trong đó khoa dược giữ vai trò quan
trọng trong công tác cung ứng và hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý an toàn
có hiệu quả cho người bệnh. Khoa dược có vai trò ảnh hưởng không nhỏ
đến chất lượng khám chữa bệnh của bệnh viện.
Bước vào thế kỷ mới với sự phát triển của kinh tế, xã hội, việc sử dụng
thuốc đã được cải thiện nhiều mặt so với thời kỳ bao cấp. Tuy nhiên vấn đề
sử dụng thuốc trong bệnh viện vẫn có nhiều bất cập. Có nhiều nguồn cung
ứng thuốc (doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp cổ phần, doanh nghiệp
nước ngoài… ) với nhiều hình thức, cách tiếp thị và ưu đãi khác nhau. Chất
lượng thuốc đôi khi không được đảm bảo dẫn đến việc xuất hiện phản ứng
bất lợi của thuốc diễn ra liên tục thường xuyên. Việc kê đơn thuốc không


đúng chỉ định, liều dùng, thời gian dùng, kê quá nhiều thuốc trong một đơn,
kê tên thuốc với tên biệt dược đã gây ra tình trạng kháng kháng sinh, lạm
dụng thuốc và gây lãng phí không cần thiết. Trước thực trạng đó, Bộ
trưởng BYT đã ra chỉ thị 05/2004/ CT-BYT về việc chấn chỉnh công tác
cung ứng và sử dụng thuốc trong bệnh viện và thông tư 23/2011/TT-BYT
về hướng dẫn sử dụng thuốc trong cơ sở y tế có giường bệnh.
Bệnh viện C Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa hạng I với 27 năm thành
lập và trưởng thành, bệnh viện đã thu được nhiều thành tích về mọi mặt,
luôn là đơn vị dẫn đầu ngành y tế tỉnh Thái Nguyên trong nhiều năm. Tuy
nhiên cho đến nay chưa có đề tài nào nghiên cứu, phân tích thực trạng kê
đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện. Với mong muốn tìm hiểu và phân tích
hoạt động này tại bệnh viện, chúng tôi lựa chọn đề tài: “ Phân tích thực
trạng kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện C Thái Nguyên năm 2014 2015 ” với các mục tiêu sau:
trong điều trị ngoại trú

1. Ph

Singapore thấp nhất là 9%, Việt Nam cao nhất 70% theo đánh giá của IMS.
Trong các nước ASEAN, thuốc generic chiếm một tỷ trọng đáng kể. Thuốc
generic là một thị trường tiềm năng đồng thời là một giải pháp lựa chọn để
người dân các nước đang phát triển có khả năng tiếp cận với thuốc thiết yếu
theo chính sách của TCYTTG [17]


Qua một số nghiên cứu ở một số bệnh viện trên thế giới cho thấy sai
sót phổ biến là viết tắt không phù hợp, tiếp sau đó là tính sai liều, nguyên
nhân thường là do chữ khó đọc. Với đơn viết tay, một nửa số thuốc có sai
sót y khoa, 1/5 số đơn có thể gây hại [24], 82% có từ 1-2 sai sót, 77%
không ghi cân nặng hay ghi sai, 6% không ghi ngày hay ghi sai ngày kê
đơn, 38% sai sót dưới liều, 18,8% là kê quá liều, sai sót do ghi thiếu hay sai
khoảng thời gian sử dụng là 28,3% và 0,9% [22]. Bác sỹ chủ yếu kê thuốc
theo tên thương mại, kê thuốc theo tên gốc, tên INN chỉ chiếm 7,4%[21].
Việc sử dụng thuốc không hợp lý thường xuyên xảy ra với nhiều
nguyên nhân khác nhau. Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy cứ 3/10
bệnh nhân nhập viện là do dùng sai thuốc. Thống kê tại Mỹ cho thấy sai sót
sử dụng thuốc hàng năm ảnh hưởng tới 1,3 triệu người, trong đó có khoảng
180.000 sai sót gây ra ảnh hưởng nghiêm trọng. Và ở một số quốc gia sai
sót trong đơn có thể lên tới 67% [23].
1.1.2. Tình hình kê đơn thuốc và sử dụng thuốc tại Việt Nam
Kê đơn thuốc là một việc làm thường xuyên, có tính chuyên nghiệp
của bác sỹ. Tuy nhiên hoạt động này là một hoạt trong những hoạt động
được Bộ Y tế yêu cầu nghiêm ngặt nhất đối với thầy thuốc. Năm 2005, Bộ
Y tế tổ chức hội nghị đánh giá thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT về việc
chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong bệnh viện đã cho thấy
việc kê quá nhiều thuốc cho người bệnh, dẫn đến tương tác thuốc khi điều
trị. Bệnh viện Thống Nhất có nhiều đơn kê 14 đến 16 thuốc trong một ngày
cho một người bệnh, thậm chí có đơn kê đến 20 loại thuốc một ngày cho

lệ tương tự với số thuốc trung bình trong một đơn là 4,7 (với đơn không có
BHYT) và 4,2 (với đơn BHYT). Trong đó, số đơn có 6 - 10 thuốc chiếm tỷ
lệ là 32,7% (với đơn không có BHYT) và 25,3% (với đơn BHYT) và có
đơn (không có BHYT) sử dụng 11 - 15 thuốc, chiếm tỷ lệ 4,8% [19]. Tuy
nhiên, một kết quả nghiên cứu khác tại bệnh viện TW Huế năm 2012, số
thuốc trung bình trong một đơn thuốc BHYT là 2,88 [11].
Cũng trong nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai, tỷ lệ đơn có kháng
sinh là 32,3% (với đơn không có BHYT). Trong đó sử dụng kết hợp kháng


sinh tương đối phổ biến (45,9% các đơn không BHYT và 37,67% với các
đơn BHYT) và chủ yếu là kết hợp 2 kháng sinh [19]. Các nghiên cứu tại
bệnh viện TW Huế năm 2012, bệnh viện TW Quân đội 108 năm 2010 và
bệnh viện nhân dân 115 cuối năm 2007 đến đầu năm 2008 cũng cho tỷ lệ
khá tương đồng với 24,75 – 28% đơn có kháng sinh [11]. Trong khi đó, tại
bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc năm 2011, có đến 59,5% đơn thuốc ngoại trú
có kê kháng sinh [20].
Vitamin cũng là một hoạt chất được bác sỹ hay kê trong đơn. Theo
một khảo sát năm 2012 tại bệnh viện TW Huế, có 15,5% số đơn có kê
vitamin đối với các đơn BHYT là do việc quy định giá trần (không quá
200.000đ/1 đơn thuốc) [11]. Một khảo sát khác tại bệnh viện Tim Hà Nội
năm 2010, có 35% đơn thuốc có kê vitamin, chủ yếu là vitamin nhóm B
phối hợp các khoáng chất như Mg, Fe…và hầu như không có tình trạng bác
sỹ kê nhiều vitamin trong cùng một đơn [14], tại bệnh viện Nhân dân 115
cũng cho tỷ lệ tương tự là 38% [11]. Trong khi đó, tại bệnh viện Đa khoa
tỉnh Vĩnh Phúc năm 2011 có đến 46,3% đơn thuốc ngoại trú và 43,5% hồ
sơ bệnh án có kê vitamin [20].
Việc thực hiện quy chế kê đơn, đặc biệt là kê đơn thuốc ngoại trú đã
được cải thiện hơn trước do các bệnh viện tuyến tỉnh, tuyến Trung ương đa
phần kê đơn điện tử. Trước kia, bệnh viện Phổi TW năm 2009, do chưa

thời điểm dùng thuốc, cách dùng thuốc và vẫn còn một số đơn chưa ghi
tuổi bệnh nhân và thiếu chữ ký của bác sỹ kê đơn [20]. Cũng theo nghiên
cứu tại bệnh viện TW Huế năm 2012, về cơ bản bệnh viện đã thực hiện đầy
đủ quy chế kê đơn thuốc ngoại trú về ghi thông tin bệnh nhân, ghi tên
thuốc, liều dùng, đường dùng, địa chỉ bệnh nhân được ghi chính xác đến
xã, phường, vẫn còn 7,5% đơn viết tắt chẩn đoán bệnh và 21,5% số đơn
chưa ghi đầy đủ thời điểm dùng thuốc [11]


Tình hình sử dụng thuốc tại các bệnh viện cũng có phần thay đổi.
Năm 2010, tổng số tiền mua thuốc của 1018 bệnh viện là 15 nghìn tỷ đồng,
tăng 22,4% so với năm 2009, trong đó tỷ lệ tiền thuốc sản xuất tại Việt
Nam chiếm 38,7% tăng nhẹ so với năm 2009 (38,2%). Tổng giá trị tiền
mua thuốc sản xuất tại Việt Nam của 34 bệnh viện trung ương năm 2010 là
hơn 378 tỷ đồng (11,9%), giảm nhẹ so với năm 2009 (12,3%). Tổng gía trị
tiền mua thuốc sản xuất tại Việt Nam của 307 bệnh viện tỉnh/ thành phố
năm 2010 là hơn 2.232 tỷ đồng (33,9%), tăng nhẹ so với năm 2009 (33,2%)
[4].
Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử
dụng chiếm 37,7% giảm nhẹ so với năm 2009 (38,4%). Tỷ lệ sử dụng
vitamin, dịch truyền và corticoid trong cơ cấu sử dụng thuốc giảm so với
cùng kỳ năm 2009. Vitamin giảm từ 6,5% (năm 2009) xuống còn 4,7%
(năm 2010). Đây là điều chuyển biến trong công tác sử dụng thuốc hợp lý
tuy nhiên vẫn còn một số đơn vị đặc biệt là tuyến tỉnh, tuyến huyện chưa
thực hiện tốt sử dụng thuốc hợp lý, gây tăng chi phí không cần thiết cho
người bệnh, tăng tình trạng kháng kháng sinh [4].
1.2. Một số văn bản pháp quy liên quan đến vấn đề sử dụng thuốc tại
bệnh viện
Thực hiện theo Chính sách quốc gia về thuốc, trên cơ sở danh mục
thuốc thiết yếu của Thế giới, Bộ Y tế đã ban hành Danh mục thuốc thiết

trong bệnh viện, kiểm tra các chỉ số về kê đơn ngoại trú, phân tích sử dụng
thuốc trong các ca lâm sàng, kiểm tra theo dõi hoạt động thông tin thuốc
trong bệnh viện.
 Kiểm tra quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn:
- Bệnh viện có danh mục thuốc sử dụng trong bệnh viện (tên gốc,
tên biệt dược) cho bác sỹ kê đơn dễ tra cứu


- Tiêu chuẩn của một đơn thuốc hợp lý bao gồm:
Đúng mẫu đơn quy định
Thuốc ghi tên gốc với thuốc đơn chất
Ghi chính xác liều dùng mỗi lần, số lần dùng thuốc và thời
gian dùng thuốc trong ngày, thời gian cho cả đợt điều trị.
Thực hiện kê đơn thuốc trên nguyên tắc sau:
+ Khi thật cần thiết phải dùng đến thuốc
+ Chọn thuốc hợp lý cho người bệnh cụ thể, hợp lý về giá
và hiệu quả.
+ Chú ý thận trọng với từng cơ địa, trạng thái bệnh lý của
người bệnh.
+ Liều hợp lý, chỉ định dùng thuốc đúng; thời gian, khoảng
cách giữa các lần dùng thuốc.
+ Hạn chế, thận trọng trong các phối hợp nhiều thuốc hoặc
dùng thuốc hỗn hợp nhiều thành phần.
+ Thận trọng với các phản ứng phụ, phản ứng có hại của
thuốc.
 Kiểm tra các chỉ số về kê đơn ngoại trú:
- Mỗi chuyên khoa kiểm tra ít nhất 30 đơn thuốc. Trong quá trình
kiểm tra không dược để ảnh hưởng đến việc khám bệnh.
- Các chỉ số cần kiểm tra:
o Số thuốc trung bình cho 01 đơn thuốc.

nếu ghi tên biệt dược phải ghi tên chung quốc tế trong
ngoặc đơn (trừ trường hợp thuốc có nhiều hoạt chất); ghi
tên thuốc, hàm lượng, số lượng, liều dùng, cách dùng của
mỗi thuốc.


Số lượng thuốc gây nghiện phải viết bằng chữ, chữ đầu viết
hoa, số lượng thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm
thuốc viết thêm số 0 phía trước nếu số lượng chỉ có một
chữ số; nếu có sửa chữa đơn phải ký, ghi rõ họ tên, ngày
bên cạnh, gạch chéo phần đơn còn giấy trắng. Ký, ghi
(hoặc đóng dấu) họ tên người kê đơn [3].
Ngoài ra, cần tuân thủ những quy định về kê đơn thuốc điều trị bệnh
mãn tính và kê đơn đối với những loại thuốc cần có sự kiểm soát đặc biệt
như thuốc điều trị lao, thuốc hướng tâm thần và tiền chất dùng làm thuốc,
thuốc gây nghiện và thuốc opioids giảm đau cho người bệnh ung thư và
người bệnh AIDS
1.3. Một số phƣơng pháp phân tích sử dụng thuốc
Đế giải quyết các vấn đề sử dụng thuốc, có hai phương pháp chính
để tiến hành điều tra, đó là: Phương pháp phân tích dữ liệu tổng hợp sử
dụng thuốc và phương pháp nghiên cứu chỉ số [18]. Ở đây, chúng tôi chỉ
tập trung vào phương pháp nghiên cứu chỉ số. Đây là phương pháp để đơn
giản hóa và chuẩn hóa các nghiên cứu sử dụng thuốc do WHO và INRUS
đã đưa ra để mô tả chi tiết một tập hợp các chỉ số đáng tin cậy để đo lường
việc sử dụng thuốc cho bệnh nhân ngoại trú và phương pháp tiêu chuẩn để
thu thập các dữ liệu cho các chỉ số này [16].
1.3.1. Phương pháp nghiên cứu chỉ số
Phương pháp trên được tổ chức WHO đưa ra bằng các chỉ số sử
dụng thuốc nhằm đo lường việc thực hiện tại cơ sở y tế trên 3 lĩnh vực liên
quan đến vấn đề sử dụng thuốc trong chăm sóc sức khỏe ban đầu là: thực

Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có kê kháng sinh

1.4

Tỷ lệ phần trăm đơn thuốc có kê thuốc tiêm

1.5

Tỷ lệ phần trăm thuốc được kê từ danh mục thuốc thiết
yếu, thuốc chủ yếu trong cơ sở khám chữa bệnh

2

Chỉ số chăm sóc bệnh nhân

2.1

Thời gian khám bệnh trung bình

2.2

Thời gian cấp phát trung bình

2.3

Tỷ lệ phần trăm thuốc được cấp phát trên thực tế

2.4

Tỷ lệ phần trăm thuốc được dán nhãn hợp lý

2

Chi phí thuốc trung bình cho mỗi lần khám

3

Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc kháng sinh

4

Tỷ lệ phần trăm chi phí thuốc tiêm

5

Tỷ lệ phần trăm đơn kê theo phác đồ điều trị

6

Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân hài lòng với dịch vụ chăm sóc
họ nhận được

7

Tỷ lệ phần trăm của các cơ sở y tế được tiếp cận với thông
tin thuốc

Bộ chỉ số bổ sung này ít được tiêu chuẩn hóa hơn vì phụ thuộc vào
từng địa phương, khu vực cần được kiểm tra trước khi sử dụng các chỉ số
này.
Bằng các chỉ số cốt lõi, cho thấy ở Ghana và Nigeria đều sử dụng tương đối

 Ngoài ra bệnh viện cũng là nơi thực tập của các trường ở các tỉnh
bạn như trường Cao đẳng Dược Phú Thọ.
1.4.1.3 Nghiên cứu khoa học
Chủ trì thực hiện đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ, cấp tỉnh. Trong 5
năm từ năm 2010 đến năm 2014 bệnh viện đã nghiệm thu 06 đề tài cấp
tỉnh, 114 đề tài cấp cơ sở, 04 sáng kiến cải tiến kỹ thuật.
1.4.1.4. Công tác chỉ đạo tuyến
Được Sở Y tế giao nhiệm vụ chỉ đạo tuyến cho các bệnh viện tuyến
huyện như viện đa khoa huyện Phổ Yên, bệnh viện đa khoa huyện Đại Từ


để triển khai các kỹ thuật mới và điều trị bệnh cho một số chuyên ngành về
ngoại chấn thương, kỹ thuật mổ, hồi sức cấp cứu và tim mạch…
1.4.1.5. Phòng bệnh và chống dịch
Điều trị và thực hiện các biện pháp chủ động cùng y tế địa phương phát
hiện sớm dịch bệnh. Bố trí nhân lực và phương tiện cho đội chống dịch cơ
động với 1 xe cấp cứu ngoại viện luôn sẵn sàng hỗ trợ khi cần thiết. Ngoài
ra bệnh viện phối hợp với Sở Y tế tập huấn phòng chống trong trường hợp
có dịch Ebola, dịch cúm, dịch chân tay miệng…
1.4.1.6. Hợp tác quốc tế
Hợp tác với các tổ chức quốc tế theo quy định của nhà nước, cùng phối
hợp với chuyên gia Trung Quốc trong việc thực hiện kỹ thuật mới như
cộng hưởng từ 64 dãy, cho người sang tập huấn tại nước bạn như Trung
Quốc, Thái Lan…
1.4.2. Cơ cấu nhân lực và sơ đồ tổ chức bệnh viện C Thái Nguyên
Bệnh viện C Thái Nguyên là bệnh viện đa khoa hạng I của tỉnh Thái
Nguyên với hơn 500 nhân viên, trong đó số cán bộ đại học và sau đại học
là 39, bao gồm 2 tiến sỹ, hơn 80 bác sỹ, dược sỹ có trình độ sau đại học.
Bệnh viện C Thái Nguyên có 22 khoa phòng 17 khoa lâm sàng, 5 khoa cận
lâm sàng, 4 phòng chức năng và 01 Trung tâm: Trung tâm chất lượng cao.

hồi sức
Nội Tổng
Hợp

Khoa Sản

Ngoại tổng
hợp

Xét nghiệm
Sinh hóa

Hồi sức cấp
cứu

Xét nghiệm
huyết học

Ngoại chấn
thương

Khoa Dược

Nội Tim Mạch

Ung Bướu

Truyền nhiễm

Vật lý Trị Liệu

Nội
1

Phòng
khám
THA

Phòng
khám
Tiểu
đường

Phòng
khám
Nhi

Phòng
khám
TNDL

Phòng
khám
UB

Phòng
khám
Sản

Nội
2

Tỷ lệ (%)

Sau Đại học (Chuyên khoa I)

02

8,70

Đại học

03

13,04

Trung cấp

18

78,26

Tổng sô

23

100

Nhận thấy số lượng dược sỹ sau đại học chiếm tỷ lệ thấp nhất 8,7%,
dược sỹ trung học chiếm tỷ lệ cao nhất là 78,26%. Tuy nhiên tỷ lệ học xong
chờ chu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status