Phân tích hoạt động kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh viện nội tiết TW năm 2014 - Pdf 29

BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

LÊ THỊ QUỲNH ANH

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KÊ ĐƠN
THUỐC NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
NỘI TIẾT TRUNG ƢƠNG NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ

HÀ NỘI - 2015
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI

LÊ THỊ QUỲNH ANH

PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KÊ ĐƠN
THUỐC NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
NỘI TIẾT TRUNG ƢƠNG NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƢỢC SĨ
Ngƣời hƣớng dẫn:
1.PGS.TS.Nguyễn Thị Song Hà
2.ThS.Lê Thị Uyển
Nơi thực hiện:
1.Bộ môn Quản lý và Kinh tế Dƣợc
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
Danh mục các bảng
Danh mục chữ viết tắt
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chƣơng 1: TỔNG QUAN 3
1.1.Một số quy định về đơn thuốc, kê đơn và sử dụng thuốc. 3
1.1.1 Đơn thuốc. 3
1.1.2 Những quy định về đơn thuốc ngoại trú. 3
1.1.3 Về kê đơn tốt. 5
1.1.4 Sử dụng thuốc. 7
1.2 Một số chỉ số sử dụng thuốc của WHO cho các cơ sở khám chữa bệnh. 7
1.2.1 Ý nghĩa của các chỉ số sử dụng thuốc. 7
1.2.2 Những chỉ số sử dụng thuốc cơ bản. 8
1.3 Vài nét về tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới và ở nƣớc ta trong
những năm gần đây. 10
1.3.1 Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới. 10
1.3.2. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam. 13
1.4 Một vài nét về bệnh nội tiết và Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng. 15
1.4.1 Một vài nét về bệnh nội tiết. 15
1.4.2 Vài nét về Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng. 16
Chƣơng 2: ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1.Đối tƣợng, địa điểm và thời gian thực hiện nghiên cứu: 18
2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu. 18
2.2.1 Thiết kế nghiên cứu. 18
2.2.2 Phƣơng pháp chọn mẫu và kĩ thuật lấy mẫu. 20
2.2.3 Phƣơng pháp thu thập số liệu. 21
2.2.4 Phƣơng pháp phân tích, trình bày và xử lý số liệu. 21

Bảng 2.1. Nhóm chỉ số thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú. 22
Bảng 2.2. Chỉ số phân tích về tính hợp lý của đơn thuốc. 23
Bảng 2.3. Nhóm chỉ số phân tích các tƣơng tác thuốc trong đơn tra cứu bằng
Drugs.com/Drug Interactions Checker. 25
Bảng 2.4. Nhóm chỉ số phân tích các tƣơng tác trong đơn tra cứu bằng Drug Fact
Comparison 2009. 25
Bảng 2.5. Chỉ số phân tích về chi phí của đơn thuốc. 26
Bảng 3.1. Tỷ lệ phân bố bệnh trong số lƣợng đơn khảo sát tại BVNTTW năm 2014 27
Bảng 3.2. Tình hình thực hiện quy chế kê đơn ngoại trú tại BV. 28
Bảng 3.3. Số thuốc trung bình cho mỗi đơn. 30
Bảng 3.4. Kết quả về tỷ lệ thuốc nội tiết đƣợc kê trong đơn. 31
Bảng 3.5. Tỷ lệ đơn kê có thuốc tiêm, vitamin và khoáng chất, kháng sinh. 32
Bảng 3.6. Tỷ lệ thuốc sản xuất trong nƣớc, thuốc nhập ngoại đƣợc kê trong đơn 33
Bảng 3.7. Tỷ lệ thuốc nằm trong DMTSD tại BV, tỷ lệ thuốc nằm trong DMTTY 34
Bảng 3.8. Số ngày điều trị 35
Bảng 3.9. Tỷ lệ đơn kê phù hợp với chẩn đoán. 35
Bảng 3.10. Tỷ lệ thuốc kê trong đơn thuộc hạng AN. 36
Bảng 3.11. Số tƣơng tác tra cứu đƣợc trên phần mềm Drug Fact Comparison 2009.
37
Bảng 3.12. Số tƣơng tác tra cứu đƣợc trên trang web online Drugs.com/Drug
Interactions Checker. 37
Bảng 3.13. Tƣơng tác tra cứu đƣợc theo Drug Fact Comparison 2009. 37
Bảng 3.14. Một số tƣơng tác phổ biến trong đơn tra cứu theo Drugs.com/ Drug
Interactions Checker. 39
Bảng 3.15. Chi phí trung bình theo nhóm số lƣợng thuốc đƣợc kê trong đơn. 41
Bảng 3.16. Chi phí trung bình và biên độ chi phí. 42
Bảng 3.17. Chi phí kê đơn thuốc nội tiết. 43
Bảng 3.18. Chi phí kê đơn thuốc vitamin và khoáng chất, thuốc tiêm, kháng sinh. 44
Bảng 3.19. Chi phí kê đơn thuốc sản xuất trong nƣớc, nhập ngoại. 44
Bảng 3.20. Chi phí kê thuốc hạng AN trong đơn 45
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Những năm gần đây, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, tình trạng sức
khỏe của ngƣời dân Việt Nam đã đƣợc cải thiện đáng kể, tuổi thọ trung bình tăng
lên và đạt 73,1 cao nhất trong các nƣớc đang phát triển ở châu Á có mức thu nhập
tƣơng đƣơng[7]. Mô hình bệnh tật ở Việt Nam cũng có những thay đổi quan trọng
theo hƣớng tích cực nhƣ giảm thiểu đƣợc tỷ lệ mắc các bệnh truyền nhiễm. Để đạt
đƣợc những thành tựu to lớn đó không thể không nhắc đến sự đóng góp xứng đáng
của hệ thống sản xuất, cung ứng thuốc.
Mặc dù nền kinh tế còn gặp nhiều khó khăn nhƣng lĩnh vực dƣợc phẩm Việt
Nam vẫn tăng trƣởng khá mạnh. Định vị ngành Dƣợc Việt Nam, theo IMS Health
thuộc nhóm 17 nƣớc đang phát triển với tốc độ tăng trƣởng doanh thu của doanh
nghiệp Dƣợc Việt Nam đạt khoảng 23%giai đoạn 2008-2012, tăng trƣởng đứng thứ
2 trong nhóm các quốc gia mới nổi[4]. Thuốc và các sản phẩm chăm sóc sức khỏe
ngày càng gia tăng về số lƣợng, đa dạng, phong phú về chủng loại. Tuy nhiên, việc
lạm dụng thuốc, sử dụng thuốc bất hợp lí, không có kiểm soát đã và đang gây ra
nhiều tai họa cho ngƣời bệnh. Bên cạnh đó,tác động bởi các lợi ích kinh tế từ ngƣời
bán, doanh nghiệp Dƣợc đối với bác sỹ phần nào làm sai lệch việc thực hiện kê đơn
thuốc.
Trƣớc thực tế đó, Bộ Y tế đã ban hành quy chế kê đơn và bán thuốc theo đơn
lần đầu tiên kèm Quyết định số 1847/2003/QĐ-BYT ngày 28/5/2003 và sau đó để
hoàn thiện quy chế kê đơn Bộ Y tếra Quyết định số 04/2008/QĐ-BYT ngày
01/02/2008 ban hành Quy chế kê đơn thuốc ngoại trú, bãi bỏ Quy chế kê đơn và bán
thuốc theo đơn năm 2003.
Với mong muốn đánh giá kiểm tra tình hình thực hiện quy chế kê đơn ngoại

pháp lý cho việc chỉ định dùng thuốc,bán thuốc và cấp thuốc theo đơn.Bác sỹ có thể
chỉ định điều trị cho ngƣời bệnh vào đơn thuốc (theo mẫu quy định của Bộ Y tế)
hoặc vào sổ y bạ, sổ điều trị bệnh mạn tính[6],[10].
Đơn thuốc là tổng hợp các loại thuốc, bao gồm cả thuốc bắt buộc phải bán
theo đơn và những thuốc có thể mua tự do.Đó là một “y lệnh” hƣớng dẫn cho các
bệnh nhân ngoại trú và nội trú cần uống,bôi,thoa,phun, dán hay tiêm truyền. Đơn
thuốc liệt kê tên thuốc, số lƣợng, liều lƣợng, số lần dùng thuốc trong ngày,thời điểm
dùng thuốc (trƣớc, trong hay sau bữa ăn).Một đơn thuốc đƣợc xem là chuẩn phải đạt
đƣợc các yêu cầu: hiệu quả chữa bệnh cao, an toàn trong dùng thuốc và tiết kiệm
[40].
1.1.2 Những quy định về đơn thuốc ngoại trú.
 Điều kiện của người kê đơn thuốc.
Theo điều 3 của Quy chế kê đơn thuốc trong điều trị ngoại trú do BYT Việt Nam
ban hành kèm Quyết định số 04/2008/TT-BYT ngày 01/02/2008 quy định điều kiện
của ngƣời kê đơn nhƣ sau:
Đang hành nghề tại cơ sở khám, chữa bệnh hợp pháp có bằng tốt nghiệp Đại học
Y và đƣợc ngƣời đứng đầu cơ sở phân công khám, chữa bệnh.
Đối với các tỉnh có vùng núi, vùng sâu, vùng cao, hải đảo xa xôi, vùng khó khăn
và những nơi chƣa có bác sỹ, Sở Y tế có văn bản ủy quyền cho Trƣởng Phòng Y tế
huyện chỉ định y sĩ của Trạm Y tế thay thế cho phù hợp với tình hình địa phƣơng
[6].
4

 Nội dung của một đơn thuốc.
Trên thế giới không có một tiêu chuẩn thống nhất nào về kê đơn thuốc và
mỗi quốc gia có quy định riêng phù hợp với điều kiện của đất nƣớc mình. Tuy
nhiên, yêu cầu quan trọng đó là đơn thuốc phải thật rõ ràng. Đơn thuốc phải hợp lệ

Kê đơn tốt là sự chỉ định thuốc cho điều trị dựa vào quá trình suy luận logic trên
những thông tin chính xác và khách quan. Kê đơn tốt phải đảm bảo sự cân bằng
giữa các yếu tố hợp lý, an toàn và kinh tế, tôn trọng sự lựa chọn của bệnh nhân [31].
 Đơn thuốc tốt.
Một đơn thuốc tốt yêu cầu bệnh nhân phải đƣợc kê loại thuốc thích hợp ở đúng liều
lƣợng trong khoảng thời gian hợp lý và với chi phí thấp nhất cho họ và cộng đồng
[39].
Một đơn thuốc tốt phải đáp ứng đầy đủ các thông tin tiêu chuẩn yêu cầu cho một
đơn thuốc gồm có:
Nội dung của một đơn thuốc.
Cách ghi nội dung của một đơn thuốc và cách bố trí các mục ghi trong đơn theo
quy định của từng quốc gia [31].
 Những yêu cầu về kê đơn tốt.
Theo hƣớng dẫn thực hành kê đơn thuốc tốt của Tổ chức Y tế Thế giới, để
thực hiện đƣợc quá trình kê đơn thuốc tốt, ngƣời thầy thuốc cần phải tuân thủ theo
quá trình thực hiện kê đơn, điều trị hợp lý gồm 6 bƣớc:
Bƣớc 1: Xác định vấn đề bệnh lý của bệnh nhân. Quá trình này cần đƣợc thực
hiện một cách thận trọng dựa trên sự quan sát kỹ lƣỡng của bác sỹ, mô tả bệnh của
bản thân bệnh nhân, tiền sử bệnh, X-quang, kết quả xét nghiệm và các thăm khám
khác.
Bƣớc 2: Xác định mục tiêu điều trị. Việc xác định mục tiêu điều trị giúp ngƣời
thầy thuốc tránh đƣợc việc sử dụng nhiều thuốc không cần thiết, tập trung vào bệnh
lý của bệnh nhân.
6
Bƣớc 3: Xác định phƣơng pháp điều trị đã đƣợc chứng minh hiệu quả, an toàn,
kinh tế và phù hợp với bệnh nhân nhất trong số các phƣơng án điều trị khác nhau,
kể cả phƣơng án không dùng thuốc. Thẩm định lại sự phù hợp của thuốc đã lựa

thuốc, mua sắm, phân phối và sử dụng. Các bƣớc này đều có vai trò quan trọng nhƣ
nhau, bƣớc này tạo tiền đề và ảnh hƣởng tới các bƣớc tiếp theo.
 Sử dụng thuốc hợp lý.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và Thông tƣ 21/2013-TT-BYT định nghĩa sử dụng
thuốc hợp lý là “việc dùng thuốc đáp ứng đƣợc yêu cầu lâm sàng của ngƣời bệnh ở
liều thích hợp trên từng cá thể ngƣời bệnh (đúng liều, đúng khoảng cách đƣa thuốc
và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng đƣợc những yêu cầu về chất lƣợng, khả năng
cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới mức thấp nhất chi phí cho ngƣời bệnh
và cộng đồng” [30].
Sử dụng thuốc hợp lý bao gồm:
- Thuốc sử dụng cho bệnh nhân đảm bảo có hiệu lực, an toàn, chi phí hợp lý và
đúng liều lƣợng, đúng dạng bào chế và thời gian dùng.
- Phù hợp với từng bệnh nhân, có liên quan đến chống chỉ định và các tác dụng
không mong muốn của thuốc.
- Giao phát đúng, đủ thuốc và kèm theo hƣớng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc kê
đơn một cách hợp lý [30].
 Sử dụng thuốc không hợp lý.
Sử dụng thuốc không hợp lý bao gồm các trƣờng hợp kê đơn thuốc không cần thiết,
kê sai thuốc điều trị, kê đơn và cấp phát các thuốc không có hiệu lực, không an
toàn, không kê các thuốc có hiệu lực và sẵn có, bệnh nhân dùng thuốc sai[30].
1.2 Một số chỉ số sử dụng thuốc của WHOcho các cơ sở khám chữa bệnh.
1.2.1 Ý nghĩa của các chỉ số sử dụng thuốc.
Năm 1985 tại Nairobi, Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tổ chức một hội
thảo quan trọng về vấn đề sử dụng thuốc hợp lý, an toàn. Kể từ đó những nỗ lực
ngày càng tăng nhằm cải thiện vấn đề sử dụng thuốc. Một công cụ thiết yếu để đánh
8
giá việc sử dụng thuốc tại các cơ sở y tế là mô tả các mô hình sử dụng thuốc và

- Tỷ lệ phần trăm những lần khám có kê đơn thuốc kháng sinh.
- Tỷ lệ phần trăm số lần khám có kê đơn thuốc tiêm.
-Tỷ lệ phần trăm thuốc đƣợc kê có trong danh mục thuốc thiết yếu hoặc danh mục
thuốc cần thiết tại cơ sở.
-Tiền thuốc trung bình.
- Phần trăm số tiền thuốc dùng để mua thuốc kháng sinh.
- Phần trăm số tiền thuốc dùng để mua thuốc tiêm.
-Kê đơn theo hƣớng dẫn điều trị[11],[30],[36].
 Các chỉ số chăm sóc bệnh nhân.
Các chỉ số chăm sóc bệnh nhân thể hiện các yếu tố quan trọng về những gì mà
ngƣời bệnh trải qua tại cơ sở y tế, và họ đã đƣợc chuẩn bị tốt nhƣ thế nào để giải
quyết thuốc đã đƣợc kê đơn và cấp phát. Các chỉ số chăm sóc bệnh nhân gồm có:
- Thời gian khám trung bình.
- Tỷ lệ thuốc đƣợc cấp phát thực tế.
- Thời gian phát thuốc trung bình.
- Phần trăm số thuốc đƣợc dán nhãn đầy đủ.
- Hiểu biết của bệnh nhân về liều dùng[11],[30],[36].
 Các chỉ sốcơ sở y tế.
Việc kê đơn hợp lý phụ thuộc vào nhiều yếu tố liên quan đến môi trƣờng làm việc.
Hai yếu tố đặc biệt quan trọng là cung ứng đầy đủ thuốc thiết yếu và tiếp cận thông
10
tin đầy đủ, tin cậy về những thuốc này. Chỉ số cơ sở y tế giúp đánh giá đƣợc hai yếu
tố trên bao gồm:
- Khả năng sẵn có củathuốc thiết yếu.
- Khả năng sẵn có các thuốc thiết yếu quan trọng [11], [36].
1.3 Vài nét về tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới và ở nƣớc ta
trong những năm gần đây.

dân số nhận đƣợc một mũi tiêm mỗi năm. Nó thực sự là một hiểm họa khi mà điều
kiện để thực hiện tiêm an toàn chƣa đƣợc đảm bảo [38].
Khoảng 60% các thuốc đƣợc kê bằng tên generic thậm chí tại Pakistan, Ấn
Độ và Namibia dƣới 50% số thuốc đƣợc kê bằng tên generic. Trung bình 60% các
thuốc đƣợc kê theo danh mục thuốc thiết yếu. Đặc biệt ở Namibia năm 2001 tỉ lệ
này chỉ đạt 12% [38].Ở các nƣớc phát triển và đang phát triển, ít hơn 40% bệnh
nhân trong chăm sóc ban đầu khu vực công cộng và 30% bệnh nhân khu vực tƣ
nhân đƣợc kê đơn theo đúng hƣớng dẫn điều trị [37].
Những năm gần đây rất nhiều nghiên cứu đã đƣợc thực hiện nhằm liên tục
kiểm tra tình tình kê đơn. Nghiên cứu tại bệnh viện chuyên khoa trực thuộc Đại học
Y Hawassa, Nam Ethiopia hồi cứu 1.290 đơn thuốc trong vòng hai năm từ tháng 12
năm 2007 đến tháng 12 năm 2009 thu đƣợc kết quả khá khả quản. 98,7% và 96,6%
số thuốc đƣợc kê theo tên generic, danh mục thuốc thiết yếu. Số thuốc trung bình
trên toa là 1,9 với khoảng giới hạn số lƣợng thuốc trong khoảng 1 đến 4 thuốc. Tuy
nhiên tỷ lệ đơn kê kháng sinh và thuốc tiêm tƣơng ứng 58,1%, 38,1% vẫn ởmức khá
cao[26].
Bên cạnh đó, nội dung cần thiết trong đơn không đƣợc ghi đầy đủ, đơn khó
đọc,lỗi thôngtin do đánh máy cũng dẫn tới chất lƣợng kê đơn yếu kém.Một nghiên
cứu cắt ngang đánh giá thực trạng kê đơn thuốc đã đƣợc thực hiện tại sáu bệnh viện
lớn và các nhà thuốc của Peshawar, Pakistan trong tháng Tƣ và tháng Năm năm
2011. 1.097 toa thuốc với 3.640 loại thuốc đƣợc phân tích để đánh giá tính toàn diện
của đơn kê, số lƣợng thuốc trung bình trong một đơn,tần suất kê các nhóm thuốc và
số lƣợng biệt dƣợc đƣợc kê. Kết quả cho thấy không có đơn thuốc nào chứa đủ các
phần thiết yếu của một đơn thuốc, 58,5% đơn thuốc khó đọc, 89% và 98,2% đơn
thuốc không có tên và số đăng kí của bác sỹ. Hơn 78% đơn thuốc không có chẩn
12
đoán hoặc chỉ đề cập triệu chứng. Liều lƣợng, thời gian sử dụng, chữ ký của bác sĩ

Do số lƣợng ngày càng tăng của bệnh nhân mắc tiểu đƣờng, tim mạch, các
vấn đề sức khỏe tinh thần,động kinh, tắc nghẽn phổi mạn tính,việc tuân thủ điều trị
mạn tính đang trở nên rất quan trọng. WHO đã có cái nhìn tổng quan về sự tuân thủ
trong các điều kiện y tế khác nhau và đƣa ra kết luận rằng tuân thủ điều trị là một
vấn đề phức tạp,chịu ảnh hƣởng bởi nhiều yếu tố ở các cấp độ khác nhau nhƣ: yếu
tố kinh tế- xã hội, yếu tố liệu pháp điều trị, yếu tố bệnh nhân, yếu tố điều kiện hệ
thống y tế. Theo ƣớc tính,sự tuân thủ điều trị dài hạn trong dân số chung là 50%
nhƣng ở những nƣớc đang phát triển tỷ lệ này sẽ thấp các nƣớc phát triển phƣơng
Tây [37].
1.3.2. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam.
Thực trạng kê đơn và sử dụng thuốc ở Việt Nam cũng không nằm ngoài
khuynh hƣớng chung của thế giới, đó là tình trạng lạm dụng kháng sinh, thuốc tiêm,
vitamin, kê quá nhiều thuốc cho một đơn …Những bất cập này đã và đang tồn tại
trong hệ thống y tế và cần có các biện pháp khắc phục cụ thể, kịp thời nhằm hƣớng
tới sử dụng thuốc an toàn, hợp lý và kinh tế.
Năm 2010, tỷ lệ tiền thuốc kháng sinh trong tổng số tiền thuốc đã sử dụng
của nƣớc ta chiếm 37,7%[9].Thống kê các báo cáo về tình hình sử dụng thuốc tại
bệnh viện của Bộ Y tế cho thấy kháng sinh chiếm khoảng 36%tổng chi phí mua
thuốc, hóa chất[20].Việc kê đơn trực tiếp ảnh hƣởng tới diễn biến sử dụng kháng
sinh với tỷ lệ cao. Nghiên cứu tại bệnh viện Phụ sản Thanh Hóa năm 2012 cho thấy
91% đơn ngoại trú BHYT, 77% đơn tự nguyện có kê kháng sinh[21]. Cùng năm
2012,tỷ lệ đơn ngoại trú có kê kháng sinh ở bệnh viện Nhi Thanh Hóa là 82,6%[18],
ở bệnh viện Sản nhi Vĩnh Phúc là 57,8%[22]. Năm 2013, ởbệnh xá Quân Dân y kết
hợp Trƣờng sỹ quan lục quân II, tỷ lệ đơn có kháng sinh là 53,25%[24]. Bên cạnh
đó, mặc dù đã có quy định về kê đơn và bán thuốc theo đơn nhƣng ngƣời bệnh vẫn
có thể mua thuốc kháng sinh và các thuốc khác trực tiếp từ nhà thuốc, quầy thuốc
bán lẻ.Tự điều trị còn xảy ra phổ biến trong khi tự chẩn đoán rất thiếu chính xác.
Theo một nghiên cứu tại cộng đồng năm 2007, 78% kháng sinh đƣợc mua trực tiếp 15
số thuốc đƣợc ghi bằng tên gốc, còn lại hầu hết thuốc đƣợc kê bằng tên biệt
dƣợc[16].
1.4 Một vài nét về bệnh nội tiết và Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng.
1.4.1 Một vài nét về bệnh nội tiết.
Bệnh nội tiết nằm trong nhóm bệnh không lây nhiễm, đó là các rối loạn của
hệ thống nội tiết [5]. Tuyến nội tiết là tuyến không có ống dẫn tiết nên các chất do
tuyến tiết ra ngấm thẳng vào máu rồi đƣợc vận chuyển tới mỗi cơ quan và ảnh
hƣởng tới hoạt động của cơ quan đó. Các tuyến nội tiết trong cơ thể ngƣời gồm có:
vùng dƣới đồi, tuyến tùng, tuyến yên, tuyến cận giáp, tuyến giáp, tuyến thƣợng
thận, tuyến tụy và tuyến sinh dục [14].
Theo ƣớc tính của Global Burden of Diseases Study 2013, có 38 triệu ngƣời
chếttrên toàn thế giới vì bệnh không lây nhiễm vào năm 2013, chiếm 70% trƣờng
hợp tử vong. Tỷ lệ này cao gấp ba lần so với tử vong do bệnh lây nhiễm, tỷ lệ tử
vong của bà mẹ, trẻ sơ sinh và suy dinh dƣỡng[27]. Tại những nƣớc có thu nhập cao
và phát triển, bệnh không lây nhiễm chiếm tỷ lệ tử vong cao nhƣng các ca tử vong
lại xuất hiện muộn. Ví dụ nhƣ Phần Lan nơi bệnh không lây nhiễm gây ra 91%
trƣờng hợp tử vong, song hầu hết các ca tử vong đều ở độ tuổi 70-80. Bệnh không
lây nhiễm thƣờng bị hiểu nhầm chỉ là vấn đề sức khỏe của các nƣớc có thu nhập
cao. Trong khi đó, gánh nặng của các bệnh này ở các nƣớc có thu nhập thấp và
trung bình thậm chí còn cao hơn các nƣớc có thu nhập cao.
Có nhiều loại bệnh không lây nhiễm khác nhau, tuy nhiên hiện nay nhiều
chính sách của Liên Hợp Quốc và WHO tập trung vào bốn nhóm bệnh chính mà
một trong số đó chính là bệnh đái tháo đƣờng. Theo thống kê năm 2014, 387 triệu
ngƣời trên toàn thế giới mắc bệnh đái tháo đƣờng và tần suất cứ 12 ngƣời sẽ có 1
ngƣời mắc bệnh. Tây Thái Bình Dƣơng có tỷ lệ mắc nhiều nhất khoảng 138 triệu
ngƣời, Đông Nam Á có 75 triệu ngƣời mắc bệnh, xếp thứ ba là các nƣớc châu Âu
với 52 triệu ngƣời mắc bệnh. 77%ngƣời bị đái tháo đƣờng đang sống ở những nƣớc

và chữa bệnh về bƣớu cổ [15].
1.4.2 Vài nét về Bệnh viện Nội tiết Trung ương.
 Giới thiệu chung về Bệnh viện Nội tiết Trung ương.
17
Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng là bệnh viện tuyến cuối về điều trị các bệnh nội
tiết và rối loạn chuyển hóa.Bệnh viện đƣợc thành lập ngày 16/9/1969 có tên là Bệnh
viện Nội tiết và đƣợc đổi tên thành Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng vào 7/12/2009.
Trong những năm qua, ngoài thực hiện công tác khám, điều trị theo chỉ tiêu Bộ Y tế
giao, Bệnh viện Nội tiết Trung ƣơng còn đảm nhiệm 02 chƣơng trình Phòng chống
các rối loạn thiếu hụt iod và Phòng chống đái tháo đƣờng.
Do tốc độ phát triển bệnh nhanh chóng dẫn tới số lƣợng bệnh nhân ngày
càng đông. Để giảm quá tải, bệnh viện đã triển khai thêm cơ sở Tứ Hiệp- Thanh Trì
đi vào hoạt động (11/2012) song song với cơ sở 1 ở Thái Thịnh.
 Tình hình khám chữa bệnh tại bệnh viện.
Số lƣợng bệnh nhân điều trị ở viện đƣợc thể hiện qua bảng 1.1:[3].
Bảng 1.1. Số bệnh nhân điều trị tại BVNTTW.
Năm
Số lƣợt
khám bệnh
Số BN
nội trú
Số BN
ngoại trú
Tỷ lệ % BN
nội trú
Tỷ lệ % BN
ngoại trú

Trích đoạn Các chỉsố nghiên cứu
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status