BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI
NGUYỄN MẠNH TUẤN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CẤP PHÁT
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
TRUNG ƯƠNG NĂM 2014
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP DƯỢC SỸ
HÀ NỘI-2015
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC DƯỢC HÀ NỘI NGUYỄN MẠNH TUẤN
PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG CẤP PHÁT
THUỐC TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT
TRUNG ƯƠNG NĂM 2014 Nguyễn Mạnh Tuấn
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
ĐẶT VẤN ĐỀ
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN 3
1.1. SỬ DỤNG THUỐC VÀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG THUỐC TRONG BỆNH VIỆN 3
1.1.1. Sử dụng thuốc 3
1.1.2. Hoạt động sử dụng thuốc tại bệnh viện 6
1.2. MỘT SỐ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CẤP PHÁT THUỐC 11
1.2.1. Thời gian cấp phát thuốc trung bình 11
1.2.2. Tỷ lệ thuốc được phát thực tế 11
1.2.3. Tỷ lệ thuốc được dán nhãn đầy đủ 12
1.2.4. Tỷ lệ bệnh nhân hiểu biết về liều đúng 12
1.3. THỰC TRẠNG CẤP PHÁT THUỐC VÀ TUÂN THỦ ĐIỀU TRỊ CỦA NGƯỜI
BỆNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM. 12
1.3.1. Thực trạng cấp phát thuốc 12
1.3.2. Thực trạng về sự hiểu biết và tuân thủ điều trị của bệnh nhân 15
1.4. MỘT VÀI NÉT VỀ BỆNH NỘI TIẾT VÀ BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG
ƯƠNG 18
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
AARP Hội hưu trí Hoa Kỳ (American Association of Retired People)
ADA Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ (American Diabetes Association)
BHYT Bảo hiểm y tế
BVNTTW Bệnh viện Nội tiết Trung Ương
BYT Bộ Y tế
CMTND Chứng minh thư nhân dân
CODE-2 Nghiên cứu về chi phí điều trị Đái tháo đường type 2 tại Châu Âu
(Cost of Diabetes in Europe-type 2)
ĐTĐ Đái tháo đường
IDF Hiệp hội Đái tháo đường thế giới
(International Diabetes Federation)
KN- KNT Kiểm nghiệm- Kiểm nghiệm thuốc
MSH Hội khoa học sức khỏe (Management Sciences for Health)
TT Thông tư
WHO Tổ chức y tế thế giới (World Health Orgnizition)
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1. Các yếu tố dẫn tới việc sử dụng thuốc không hợp lý . 5
Bảng 1.2. Nguyên nhân chính khiến người bệnh (từ 50 tuổi trở lên) không mua thuốc
đã được kê đơn (theo AARP, 2004) 16
Bảng 1.3. Một số nguyên nhân dẫn đến việc kém tuân thủ điều trị ở bệnh nhân
basedow khảo sát tại bệnh viện nội tiết tỉnh Nghệ An 18
Bảng 1.4. Số bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương . 21
Bảng 2.1. Các chỉ số đánh giá hoạt động cấp phát thuốc 27
Hình 3.2. Tỷ lệ % bệnh nhân xử lý khi quên thuốc so với tổng số bệnh nhân 45
Hình 3.3. Tỷ lệ hài lòng của bệnh nhân với thông tin tư vấn 46
1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế xã hội, chăm sóc sức khỏe là một mục
tiêu quan trọng hàng đầu của mỗi cá nhân, gia đình và xã hội. Sức khỏe là vốn quý của
mỗi con người cũng như toàn xã hội, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân là góp phần
vào xây dựng nguồn nhân lực có chất lượng cho đất nước, có vai trò quan trọng trong
thời kỳ hội nhập quốc tế mạnh mẽ của đất nước trên mọi lĩnh vực. Đây là nhiệm vụ chính
của ngành Y tế từ cấp trung ương đến các cơ sở. Trong chu trình sử dụng thuốc gồm bốn
bước: chẩn đoán, kê đơn, cấp phát và tuân thủ của người bệnh thì cấp phát và tuân thủ
điều trị ít được chú trọng. Các biện pháp thúc đẩy và cải thiện việc sử dụng thuốc hợp lý
thường chỉ tập trung vào việc đảm bảo kê đơn hợp lý mà bỏ qua quá trình cấp phát và
việc sử dụng thuốc của bệnh nhân, vì vậy có thể dẫn đến việc điều trị kém hiệu quả, gây
lãng phí không nhỏ cho xã hội.
Trong giai đoạn gần đây, tỷ lệ bệnh nhân mắc các bệnh về nội tiết và rối loạn
chuyển hóa như đái tháo đường, basedow gia tăng nhanh chóng, trở thành một thách
thức không nhỏ trong công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe cho cộng đồng đối với các
nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Trong số các bệnh nội tiết, đái tháo đường
là bệnh có tốc độ phát triển nhanh nhất, so sánh giữa số liệu thống kê của năm 2002 và
2012 cho thấy, tỷ lệ mắc đái tháo đường ở Việt Nam tăng đến 211 % [29]. Các bệnh về
nội tiết là bệnh mạn tính, thường phải điều trị lâu dài, kết hợp nhiều loại thuốc, dễ gây
ra các biến chứng nên thường gây ra sự tốn kém cho bệnh nhân, gia đình và xã hội. Do
đó, vấn đề thông tin thuốc, sử dụng thuốc hợp lý cũng như sự tuân thủ điều trị của bệnh
nhân sẽ góp phần vào việc điều trị có hiệu quả, ổn định các bệnh này.
Bệnh viện Nội tiết Trung ương là bệnh viện tuyến cuối và cũng là bệnh viện
hàng đầu về điều trị các bệnh nội tiết và rối loạn chuyển hóa. Số lượng bệnh nhân đến
3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN
1.1. SỬ DỤNG THUỐC VÀ HOẠT ĐỘNG SỬ DỤNG THUỐC TRONG BỆNH
VIỆN
1.1.1. Sử dụng thuốc
Sử dụng thuốc là một bước trong quy trình cung ứng thuốc khép kín gồm: lựa
chọn thuốc, mua sắm, phân phối và sử dụng. Các bước này đều có vai trò quan trọng như
nhau, bước này tạo tiền đề và ảnh hưởng tới các bước tiếp theo.
1.1.1.1. Sử dụng thuốc hợp lý
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) định nghĩa sử dụng thuốc hợp lý là việc dùng thuốc
đáp ứng được yêu cầu lâm sàng của người bệnh ở liều thích hợp trên từng cá thể người
bệnh (đúng liều, đúng khoảng cách đưa thuốc và thời gian sử dụng thuốc), đáp ứng được
những yêu cầu về chất lượng, khả năng cung ứng và có giá cả phù hợp nhằm giảm tới
mức thấp nhất chi phí cho người bệnh và cộng đồng.
Sử dụng thuốc hợp lý bao gồm:
- Hướng dẫn sử dụng thuốc hợp lý mà trọng tâm là kê đơn thuốc một cách
hợp lý.
- Thuốc sử dụng cho bệnh nhân đảm bảo có hiệu lực, an toàn chi phí hợp lý
và đúng liều lượng, đúng dạng bào chế và thời gian dùng.
- Phù hợp với từng bệnh nhân, có liên quan đến chống chỉ định và các tác
dụng không mong muốn của thuốc.
- Cấp phát đúng, đủ thuốc và kèm theo hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc
kê đơn một cách hợp lý.
- Sự tuân thủ điều trị ở bệnh nhân [20].
Mục tiêu của bất kỳ hệ thống quản lý dược phẩm là cung cấp thuốc phù hợp với
nhu cầu của bệnh nhân. Các bước như lựa chọn, mua sắm và phân phối đều là các yếu
5
Bảng 1.1. Các yếu tố dẫn tới việc sử dụng thuốc không hợp lý [20].
STT
Yếu tố
Ảnh hưởng
1
Hệ thống y tế
Hệ thống hoạt động không hiệu quả dẫn đến các
tình trạng: cung cấp nhầm thuốc, cung cấp thuốc
quá hạn, thiếu thuốc, nguồn cung thuốc không
đáng tin cậy, do đó thuốc không đảm bảo chất
lượng, thậm chí là tồn tại thuốc giả.
2
Người kê đơn
Người kê đơn không được đào tạo bài bản, đầy
đủ, không kịp thời cập nhật các thông tin về
thuốc, thiếu tinh thần trách nhiệm trong công
việc, hệ thống giám sát việc kê đơn còn yếu, số
lượng bệnh nhân quá lớn và việc thu nhập của
người kê đơn phụ thuộc vào doanh số bán thuốc
của các công ty dược dẫn tới kê đơn không phù
hợp với tình trạng của bệnh nhân.
3
Người cấp phát thuốc
Người cấp phát thuốc thường ít được đào tạo,
Việc kê đơn cần tuân thủ quy trình chuẩn đã được quy định, bắt đầu bằng việc
chẩn đoán bệnh chính xác. Tiếp theo cần xác định các mục tiêu điều trị. Người kê đơn
cần phải có phương pháp điều trị dựa trên các thông tin cập nhật về các loại thuốc và
phương pháp điều trị để đạt được hiệu quả tốt nhất với từng bệnh nhân. Việc kê đơn
thuốc cần phải tuân thủ liều lượng, cách dùng và phác đồ điều trị. Khi kê đơn một loại
thuốc người kê đơn nên cung cấp cho bệnh nhân thông tin chính xác bao gồm cả về thuốc
cũng như tình trạng bệnh của họ. Bên cạnh đó, người kê đơn cần biết cách kiểm soát quá
trình điều trị sau khi xem xét các tác dụng điều trị và tác dụng phụ có thể xảy ra [15].
1.1.2.2. Cấp phát thuốc
Cấp phát thuốc là quá trình chuẩn bị và đưa thuốc cho bệnh nhân trên cơ sở đơn
thuốc của người đó, bao gồm các giai đoạn như kiểm tra đơn thuốc, lấy thuốc và ghi
nhãn, cấp phát và hướng dẫn sử dụng. Bộ phận cấp phát thuốc có mặt ở tất cả các cơ sở
bán lẻ thuốc, phòng khám, trung tâm y tế, bệnh viện. Đây là một quy trình quan trọng
Chẩn đoán/
Theo dõi
Kê đơn
Cấp phát
Tuân thủ điều
trị của người
bệnh
7
trong chu trình sử dụng thuốc vì nếu xảy ra sai sót hay thực hiện không đầy đủ đều có
thể dẫn đến những tác động không nhỏ đối với sức khỏe của người bệnh. Quy trình cấp
phát thuốc tốt cần phải đảm bảo bệnh nhân được nhận đúng thuốc, đủ số lượng, đúng
liều có chất lượng tốt, với sự hướng dẫn chi tiết, rõ ràng và có bao bì đảm bảo được điều
kiện bảo quản của thuốc [20]. Quy trình cấp phát thuốc được sơ đồ hóa như sau:
5. Ghi lại các hoạt
động
8
Lấy thuốc theo đúng tên, nồng độ, dạng bào chế và đủ số lượng, đảm bảo thuốc
chưa hết hạn và trong tình trạng tốt, đảm bảo an toàn, vệ sinh trong các trường hợp ra lẻ
thuốc.
Đóng gói và ghi nhãn đầy đủ (tối thiểu bao gồm tên thuốc, hàm lượng, số lượng,
liều, hạn dùng).
Bước 4. Kiểm tra lại lần cuối
Đảm bảo việc kiểm lại thuốc được thực hiện bởi một người khác.
Bước 5. Ghi chép lại các hoạt động
Lưu lại đơn thuốc sau khi cấp phát, ghi chép lại vào sổ hoặc máy tính.
Bước 6. Tiến hành cấp phát thuốc và hướng dẫn, tư vấn cho người bệnh
Cấp phát thuốc: gọi bệnh nhân theo thứ tự, đảm bảo đưa thuốc đúng bệnh nhân.
Hướng dẫn, tư vấn: tư vấn cho bệnh nhân về liều, cách sử dụng, thời điểm uống
thuốc, một số tác dụng chính và các phản ứng bất lợi trong quá trình dùng thuốc, tư vấn
khi trót quên liều, tương tác thuốc và có thể giúp bệnh nhân điều chỉnh thời gian dùng
thuốc cho phù hợp với lịch sinh hoạt.
1.1.2.3. Sự tuân thủ điều trị của người bệnh
WHO định nghĩa sự tuân thủ điều trị của bệnh nhân là “ những giới hạn, mức độ
mà bệnh nhân thực hiện như việc uống thuốc, ăn kiêng hoặc thay đổi thói quen sinh hoạt
nhằm tuân theo chỉ dẫn của bác sỹ”. Sự tuân thủ đòi hỏi lòng tin và hợp tác giữa bệnh
nhân và người kê đơn [20].
Các lý do dẫn tới việc bệnh nhân không tuân thủ sử dụng thuốc như lịch sinh
hoạt của người bệnh, nơi ở của bệnh nhân quá xa cơ sở y tế; thiếu sự trao đổi thường
xuyên với bác sỹ, mối quan hệ giữa người cung cấp dịch vụ y tế và bệnh nhân kém; thiếu
sự hướng dẫn của nhân viên y tế; không có khả năng tài chính để mua thuốc hoặc sử
Khả năng tiếp cận các cơ sở y tế cũng là một yếu tố quan trọng cần được xét tới.
Vì trong nhiều trường hợp bệnh nhân có đủ tiền để chi trả cho đơn thuốc nhưng không
đủ tiền đi lại nếu các cơ sở y tế này ở quá xa nơi sinh sống [20].
Phác đồ điều trị phức tạp, thời gian điều trị kéo dài
Phác đồ điều trị càng phức tạp, thời gian càng kéo dài rất dễ khiến cho sự tuân
thủ kém đi. Trong trường hợp này thường phải kết hợp rất nhiều các biện pháp can thiệp
để giúp bệnh nhân tuân thủ [20].
10
Sự thiếu hụt thông tin
Các tờ hướng dẫn sử dụng đang dùng hiện nay phần lớn đều rất khó tiếp cận đối
với người dùng vì tính hàn lâm trong các ngôn ngữ khoa học. Thậm chí ở một số vùng
có dân trí thấp, kể cả việc tiếp nhận những thông tin hướng dẫn cơ bản cũng diễn ra rất
khó khăn. Do đó ở một số vùng, WHO hỗ trợ cho các tổ chức, cơ sở y tế sử dụng các
dạng tờ rơi hướng dẫn cơ bản, các bích chương vận động có kèm theo hình minh họa dễ
hiểu về cách sử dụng thuốc [20].
Nhìn chung, để cải thiện sự tuân thủ sử dụng thuốc của người bệnh, thường áp
dụng các biện pháp như hình 1.3
1.2. MỘT SỐ CHỈ SỐ ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG CẤP PHÁT THUỐC
Để hiểu được các cơ sở y tế đã sử dụng thuốc như thế nào là việc rất quan trọng
liên quan đến những gì diễn ra cả đối với bác sỹ, dược sỹ và bệnh nhân. Các bệnh nhân
đến cơ sở y tế với những triệu chứng, tâm lý khó chịu, họ mong đợi sự chăm sóc từ các
nhân viên y tế. Họ rời khỏi đây với những hộp thuốc hoặc đơn thuốc để đi đến nhà thuốc.
Các chỉ số chăm sóc bệnh nhân thể hiện các yếu tố quan trọng về những gì mà người
bệnh trải qua tại cơ sở y tế, và họ đã được chuẩn bị tốt như thế nào để giải quyết thuốc
đã được kê đơn và cấp phát [4],[23].
Các chỉ số về cấp phát thuốc nằm trong các chỉ số chăm sóc bệnh nhân. Cũng
như các chỉ số kê đơn, các chỉ số này có thể cần thiết đánh giá cụ thể hơn tác động qua
lại giữa thầy thuốc và bệnh nhân và làm sáng tỏ hơn niềm tin và động cơ liên quan đến
vấn đề sử dụng thuốc [4],[23].
1.2.1. Thời gian cấp phát thuốc trung bình:T
T=
Thời gian cấp phát thuốc của mỗi bệnh nhân được tính từ lúc bệnh nhân đến điểm
cấp phát đến lúc bệnh nhân rời khỏi quầy thuốc (không tính thời gian chờ, tính bằng
đồng hồ bấm giây)
Ý nghĩa: đánh giá thời gian trung bình cấp phát thuốc của dược sỹ cho bệnh nhân,
qua đó cũng đánh giá được chất lượng quy trình cấp phát [4].
1.2.2. Tỷ lệ thuốc được phát thực tế : X
X= x 100% Ý nghĩa: đánh giá được khả năng cung ứng các thuốc kê đơn của bệnh viện [4].
Tổng thời gian cấp phát của N bệnh nhân
N bệnh nhân
phát không đúng thuốc, sai liều, sai dạng dùng, không đúng số lượng, thông tin sử dụng
thuốc trên nhãn không chính xác, thuốc hết hạn hoặc không phát không đúng bệnh nhân
[21]. Nghiên cứu ở Anh chỉ ra một vài nguyên nhân dẫn đến các sai sót thường gặp trong
cấp phát là do quá đông bệnh nhân (21 % nguyên nhân), thiếu nhân lực (chiếm 12 %),
Số thuốc được dán nhãn đầy đủ
Tổng số thuốc
Số bệnh nhân hiểu biết đúng liều của tất cả các thuốc trong đơn
N bệnh nhân
13
sự yếu kém trong quản lý hệ thống y tế (chiếm 11%), quá trình cấp phát bị gián đoạn
(9,4 %), cấp phát nhầm thuốc (8,5 %), bị hạn chế về thời gian (11%) [16]. Tất cả các
trường hợp này đều có ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng điều trị, làm tăng chi phí điều
trị và tăng gánh nặng cho xã hội, gây ra các phản ứng có hại hoặc ảnh hưởng đến tâm lý
người bệnh. Ở Mỹ, các sai sót trong cấp phát thuốc là một trong những yếu tố dẫn đến
sai sót trong y học gây tử vong cho khoảng 7000 trường hợp/năm, tốn 4,2 tỉ đô la cho
điều trị ngoại trú/năm [28]. Còn ở Anh các sai sót này cũng làm thiệt hại 812 triệu đô la
trong năm 2004 [18].
Tuy nhiên thực trạng cấp phát thuốc trên thế giới cũng còn khá nhiều bất cập và
cần phải có sự cải thiện đáng kể. Theo số liệu thống kê ở Ethiopia năm 2006 tại các cơ
sở y tế, nhà thuốc, bệnh viện chỉ có khoảng 19,95 % thuốc được cấp phát cho bệnh nhân
là có nhãn đầy đủ, chỉ có 12,18% số bệnh nhân được khảo sát nắm được cách sử dụng
thuốc. Và cũng tại nước này theo thống kê năm 2009, chỉ có 40% người phát thuốc ghi
nhãn cho các thuốc kháng khuẩn, và chỉ một phần ba được đào tạo và thực hành trong
việc nắm bắt thông tin phản hồi sử dụng kháng sinh của bệnh nhân [17]. Tại Ấn Độ,
khảo sát cho thấy chỉ có 9 % bệnh nhân biết tên thuốc, 63 % biết tác dụng của thuốc và
chỉ 8 % biết các thông tin khác về thuốc (tác dụng phụ, tương tác thuốc…) [20].
Thời gian cấp phát thuốc trung bình ở Ethiopia là 78,69 giây [17], như vậy là
khi cấp phát và chưa thấy có đơn thuốc nào có sai sót về mặt thủ tục hành chính được
cấp phát, trong cấp phát cũng có một vài nhầm lẫn nhưng tỷ lệ khá nhỏ, chỉ khoảng 3,3%.
Việc kiểm tra đơn thuốc trước khi cấp phát được tiến hành chặt chẽ, bộ phận cấp phát đã
phát hiện được 18,2 % số đơn thuốc có sai sót (về mặt thủ tục hành chính, nghi ngờ về
liều dùng, tương tác thuốc,…) và thực hiện phản hồi, trao đổi với bác sỹ kê đơn. Tại
quầy cấp phát thuốc cho bệnh nhân điều trị ngoại trú của Bệnh viện Đại học Y Thái Bình
được thực hiện khá nghiêm túc do vậy có trên 80 % số bệnh nhân ngay sau khi nhận
thuốc đã có sự hiểu biết về thuốc. Tỷ lệ phần trăm số thuốc có hướng dẫn bảo quản thuốc
tại gia đình người bệnh là khá thấp chỉ khoảng 5,2 % [9].
15
1.3.2. Thực trạng về sự hiểu biết và tuân thủ điều trị của bệnh nhân
1.3.2.1. Trên thế giới
Tại các nước phát triển, thống kê được chỉ có khoảng 50% bệnh nhân mắc
bệnh mạn tính tuân thủ theo hướng dẫn điều trị. Ở các nước đang phát triển, do sự thiếu
hụt nguồn lực y tế cũng như sự không công bằng trong tiếp cận dịch vụ y tế làm cho số
lượng người bệnh không tuân thủ cao hơn nhiều so với các nước phát triển [22].
Các bệnh mạn tính gây ra khoảng 70% số ca tử vong và là nguyên nhân gây
bệnh và tử vong hàng đầu ở Hoa Kỳ. Có khoảng 20% đến 50% bệnh nhân không tuân
thủ điều trị [13]. Theo thống kê của Hiệp hội Tim mạch Hoa Kỳ có 12 % người được
khảo sát không mua thuốc được kê trong đơn, 12 % không uống thuốc sau khi mua, gần
29% dừng thuốc khi đang dùng, và 22 % dùng liều ít hơn được khuyến cáo, đây đều là
những yếu tố dẫn đến sự kém tuân thủ điều trị- nguyên nhân gây tử vong cho 125 000
trường hợp mắc bệnh tim mạch. Một nghiên cứu của hội người cao tuổi trên những người
từ 50 tuổi trở lên ở Mỹ cho biết có đến 25% người không dùng thuốc kê đơn của bác sỹ
trong 2 năm vì chi phí cao hoặc một số nguyên nhân khác (Bảng 1.2) và có 55 % người
bệnh không tuân thủ phác đồ điều trị bởi những lý do khác nhau. Một nghiên cứu vào
năm 2002 trên 325 người có độ tuổi trung bình là 78 tuổi chỉ ra rằng 39 % không thể đọc
5
Tình trạng bệnh đã được cải thiện
4
Đã dùng nhiều đơn nhưng không thấy khỏi
3
Với bệnh mạn tính, việc không tuân thủ làm giảm hiệu quả điều trị, tăng tỷ lệ nhập
viện và tăng chi phí điều trị. Bệnh nhân mạn tính thường phải dùng lâu dài nhiều hơn 1
loại thuốc và sự tuân thủ điều trị có xu hướng giảm dần theo thời gian. Ở Hoa Kỳ, kém
tuân thủ điều trị gây thiệt hại khoảng 100 tỷ đô la mỗi năm, bệnh nhân có thể vô tình
hoặc cố ý không tuân thủ điều trị và có nhiều lý do không sử dụng thuốc theo chỉ dẫn[13].
Nghiên cứu của CODE-2 (chi phí cho điều trị đái tháo đường type 2 tại châu Âu)
cho thấy chỉ có 28% bệnh nhân điều trị ĐTĐ ở châu Âu kiểm soát được mức đường
huyết, còn tại Hoa Kỳ tỷ lệ người trưởng thành mắc ĐTĐ thể hiện mức độ quan tâm đầy
đủ đến các khuyến cáo của hiệp hội ĐTĐ Hoa Kỳ (ADA) ít hơn 2 %. Chi tiêu trung bình
để điều trị ĐTĐ type 2 đã gấp 1,5 lần so với chi tiêu chăm sóc sức khỏe trung bình. Các
chi phí trực tiếp do sự kém tuân thủ gây ra gấp 3-4 lần so với chi phí bỏ ra để kiểm soát
tình trạng bệnh. Như vậy, nếu đẩy mạnh được việc tuân thủ điều trị trên người bệnh ĐTĐ
có thể đạt được lợi ích trên các mặt kinh tế, y tế và xã hội [22].
Theo Burt và cộng sự, mặc dù đã áp dụng nhiều phương pháp điều trị hiệu quả,
chỉ có khoảng 25 % bệnh nhân điều trị cao huyết áp đạt được mức huyết áp ổn định. Ở
Anh và Hoa Kỳ, lần lượt có 7% và 30 % bệnh nhân kiểm soát tốt huyết áp, con số này
thậm chí còn thấp hơn ở Venezuela (4,5 %). Sự tuân thủ kém chính là nguyên nhân chính
17
dẫn đến thất bại trong việc kiểm soát huyết áp. Các bệnh nhân không tuân thủ đầy đủ chỉ
định điều trị của thuốc chẹn beta sẽ có nguy cơ gặp các biến chứng mạch vành cao hơn
4,5 lần so với những người tuân thủ và những trường hợp kém tuân thủ điều trị sẽ khó