BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
LÊ THU HIỀN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN
THUỐC NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN
ĐA KHOA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH
NĂM 2015
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
HÀ NỘI 2016
BỘ Y TẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC DƢỢC HÀ NỘI
LÊ THU HIỀN
PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC
NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA
THÀNH PHỐ THÁI BÌNH NĂM 2015
LUẬN VĂN DƢỢC SĨ CHUYÊN KHOA CẤP I
CHUYÊN NGÀNH : TỔ CHỨC QUẢN LÝ DƢỢC
MÃ SỐ
: 60 72 04 12 CK
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học :
PGS.TS. Nguyễn Thị Song Hà
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ...................................................................................................
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT.........................................................................
DANH MỤC BẢNG .........................................................................................
DANH MỤC HÌNH ..........................................................................................
ĐẶT VẤN ĐỀ ................................................................................................... 1
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN ............................................................................. 3
1.1. ĐƠN THUỐC VÀ TÌNH HÌNH KÊ ĐƠN, SỬ DỤNG THUỐC ............. 3
1.1.1. Đơn thuốc ................................................................................................ 3
1.1.2. Tình hình kê đơn và sử dụng thuốc trên thế giới .................................... 3
1.1.3. Nội dung của một đơn thuốc ................................................................... 4
1.1.4. Quy định về ghi đơn thuốc ...................................................................... 5
1.1.5. Các chỉ số đo lƣờng sử dụng thuốc ......................................................... 6
1.2. THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC TRÊN THẾ GIỚI TRONG NHỮNG
NĂM GẦN ĐÂY .............................................................................................. 6
1.3. THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN
ĐÂY ................................................................................................................... 9
1.3.1 Việc thực hiện ghi đúng - đủ về thủ tục hành chính cho bệnh nhân
ngoại trú quy chế kê đơn ................................................................................... 10
1.3.2 Thực hiện chỉ định thuốc trong kê đơn điều trị ngoại trú ........................ 11
1.4. KHÁI QUÁT VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ THÁI BÌNH .......... 17
1.4.1 Cơ cấu tổ chức .......................................................................................... 17
1.4.2. Sơ đồ tổ chức bệnh viện .......................................................................... 18
1.4.3. Khoa Dƣợc Bệnh viện Đa khoa thành phố Thái Bình ............................ 18
CHƢƠNG II. ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ............... 20
2.1. ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU ................................................................... 20
2.2. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............................................................. 20
2.3. THIẾT KẾ NGHIÊN CỨU ........................................................................ 21
2.4. CỠ MẪU VÀ MẪU NGHIÊN CỨU ........................................................ 22
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Tiếng Việt
ADR
BHYT
BN
BSKB
BV
BVĐK
BYT
CXK
CT
DLS
DMT
DMTCY
DMTTY
DSĐH
DSTH
DSSĐH
GN
HDSD
KBHYT
KCB
KS
HTT
IMS
Khám chữa bệnh
Kháng sinh
Hƣớng tâm thần
Information Medical Services
Quy chế kê đơn
Trung bình
Thuốc chủ yếu
Thực phẩm chức năng
Thủ tục hành chính
Thuốc thiết yếu
Trung ƣơng
Việt Nam đồng
Ủy ban nhân dân
World Health Organization (tổ chức Y tế Thế giới)
DANH MỤC BẢNG
Tên bảng
STT
Trang
2.1
Các biến số nghiên cứu
24
3.1
Các thông số về tình hình kê đơn thuốc kháng sinh
36
3.7
Thông số đánh giá về thuốc tiêm đƣợc kê trong đơn điều trị
37
3.8
Thông số về sử dụng vitamin và TPCN trong kê đơn
39
3.9
Thông số về kê đơn TTY và TCY trong khảo sát
41
3.10
Số ngày điều trị và chi phí cho kê đơn thuốc
43
3.11
3.2
Biểu đồ tỷ lệ đơn thuốc ghi đúng đủ thông tin cơ sở KCB
30
3.3
Minh họa mẫu đơn bất cập trong ghi TTHC và HDSD thuốc
31
3.4
Biểu đồ tỷ lệ các chỉ số hƣớng dẫn sử dụng thuốc trong NC
32
3.5
Biểu đồ tỷ lệ đơn có thuốc gốc và tỷ lệ thuốc gốc trong hệ
thống KCB
34
3.6
Biểu đồ tỷ lệ thuốc đƣợc kê bằng tên gốc trong đơn khảo sát
40
3.12
Biểu đồ lƣợng TTY và TCY đƣợc kê trong đơn khảo sát
42
3.13
Minh họa mẫu đơn còn dùng thuốc không thuộc danh mục
TTY
43
3.14
Biểu đồ số ngày điều trị trung bình trong khảo sát
44
3.15
Biểu đồ tỷ lệ các tƣơng tác xảy ra có và chƣa có can thiệp
46
ĐẶT VẤN ĐỀ
Sức khỏe là vốn quý nhất của con ngƣời, bảo vệ và chăm sóc sức khỏe
Theo báo cáo của Phó tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam tính đến
hết tháng 10/2014 độ bao phủ BHYT đạt 70,3%. Tuy nhiên mới chỉ có 50% lao
động phi chính thức, 70% ngƣời cận nghèo và 30% hộ gia đình tham gia bảo
hiểm. Vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ ngƣời dân không tham gia bảo hiểm. Vấn đề
đặt ra là với ngƣời có thẻ bảo hiểm và ngƣời không có thẻ bảo hiểm khi đi khám
chữa bệnh thì có sự khác biệt gì trong việc kê đơn không, việc kê đơn thuốc cho
bệnh nhân ngoại trú, hiện nay đã thực hiện đúng theo quy chế kê đơn thuốc
trong điều trị ngoại trú chƣa? Để trả lời hai câu hỏi trên chúng tôi tiến hành
nghiên cứu đề tài “ Phân tích thực trạng kê đơn thuốc ngoại trú tại bệnh
viện Đa khoa Thành phố Thái Bình” với 2 mục tiêu sau:
1. Phân tích thực trạng việc thực hiện quy chế kê đơn về thủ tục hành
chính cho bệnh nhân điều trị ngoại trú tại Bệnh viện Đa khoa Thành phố Thái
Bình năm 2015.
2. Phân tích thực trạng việc chỉ định thuốc trong kê đơn ngoại trú cho
bệnh nhân tại Bệnh viện Đa Khoa Thành Phố năm 2015.
2
CHƢƠNG I. TỔNG QUAN
1.1. KÊ ĐƠN THUỐC VÀ CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ
1.1.1. Đơn thuốc
Khái niệm về đơn thuốc
Đơn thuốc là một “văn bản” chuyên môn mang tính chất pháp lý của
ngƣời Thầy thuốc, từ đó quy định chế độ điều trị, ăn uống, sinh hoạt cho ngƣời
bệnh và quy định chế độ pha chế, cấp phát, bán thuốc cho cán bộ dƣợc [3].
1.1.2. Kê đơn thuốc
Kê đơn thuốc là hoạt động của Bác sỹ xác định xem ngƣời bệnh cần dùng
liệu trình hay sử dụng kháng sinh cho các bệnh nhân không có dấu hiệu nhiễm
khuẩn, điều này góp phần làm tăng nguy cơ kháng thuốc.
Kê đơn thuốc không hợp lý dẫn đến hậu quả không mong muốn cả về
kinh tế lẫn sức khỏe:
» Làm giảm hiệu quả điều trị của thuốc dẫn đến kéo dài thời gian điều trị,
tăng tỷ lệ bệnh tật và tăng nguy cơ tử vong.
» Khó kiểm soát các tác dụng không mong muốn, các phản ứng phụ và
khả năng tƣơng tác giữa các thuốc dẫn đến mất an toàn trong quá trình sử dụng,
ảnh hƣởng đến sức khỏe và tính mạng của ngƣời bệnh.
» Sử dụng thuốc không hợp lý làm gia tăng tình trạng kháng thuốc, nhất là
đối với thuốc kháng sinh.
Tất cả các hậu quả nói trên, ngoài ảnh hƣởng về mặt sức khỏe đều dẫn
đến việc lãng phí nguồn lực vốn đã hạn hẹp dành cho công tác chăm sóc sức
khỏe nhân dân [26].
1.1.3. Nội dung của một đơn thuốc
Theo khuyến cáo của WHO, một đơn thuốc đầy đủ bao gồm các nội dung
sau :
4
» Tên, tuổi và địa chỉ của bệnh nhân (bệnh nhi dƣới 6 tuổi phải ghi bằng
số tháng và ghi thêm tên bố, mẹ)
» Ngày, tháng kê đơn
» Chữ ký của ngƣời kê đơn
» Tên, địa chỉ, số điện thoại của ngƣời kê đơn
» Tên gốc của thuốc, hàm lƣợng thuốc
» Dạng thuốc, tổng số thuốc
» Nhãn bao thuốc: hƣớng dẫn, cảnh báo…
1.1.4 Quy định về ghi đơn thuốc
(INN)
» Tỷ lệ phần trăm đơn kê có kháng sinh
» Tỷ lệ phần trăm đơn kê có thuốc tiêm
» Tỷ lệ phần trăm đơn kê có vitamin
» Tỷ lệ phần trăm thuốc đƣợc kê đơn có trong danh mục thuốc thiết yếu
do Bộ y tế ban hành.
1.2. THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC TRÊN THẾ GIỚI TRONG
NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
Trong những năm gần đây, nhu cầu thuốc trên thị trƣờng thế giới có sự
gia tăng mạnh mẽ do sự phát triển của dân số thế giới và sự gia tăng tuổi thọ,
nhu cầu dùng thuốc nhiều, dùng các loại thuốc có tỷ trọng chất xám cao, nên
thƣờng rất đắt. Trong việc sử dụng thuốc tồn tại hai vấn đề lớn, đó là sự tiêu thụ
thuốc chƣa đồng đều giữa các nƣớc phát triển và đang phát triển [23]. Tại Goa
(Ấn Độ) khi tiến hành nghiên cứu ngƣời ta nhận thấy: Với 990 đơn thuốc khảo
sát, thì có tới hơn một phần ba, trong tổng số đơn thuốc, thông tin xác định bác
sỹ điều trị là không rõ ràng. Hơn một nửa các đơn thuốc, không ghi đầy đủ các
thông tin về bệnh nhân (tình trạng bệnh, địa chỉ, tên tuổi...) Theo một nghiên
cứu đánh giá, việc kê đơn thuốc tại bệnh viện Dessie Referral ở Dessie,
Ethiopia: với 362 đơn thuốc khảo sát, số thuốc trung bình trên một đơn thuốc là
6
1,8, phù hợp với tiêu chuẩn của WHO (1,6-1,8). Tỷ lệ % thuốc nằm trong danh
mục thuốc thiết yếu của quốc gia (DEL) là 91,7% thấp hơn so với giá trị lý
tƣởng của WHO là 100%. Tỷ lệ % thuốc đƣợc kê theo generic là 93,9%, thấp
hơn so với giá trị tiêu chuẩn của WHO là 100%. Tỷ lệ % đơn có kê kháng sinh
là 52,8%, cao hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO (20,0% - 26,8%). Tỷ lệ %
đơn thuốc có kê vitamin là 31% cao hơn so với giá trị khuyến cáo của WHO
(13,4- 24,1%). Các kháng sinh đƣợc kê đơn nhiều nhất là Amoxicillin (22,2%)
và Ampicillin (21,3%). Qua các chỉ số nghiên cứu cho thấy có độ chênh lệch lớn
ỉa chảy, các kháng sinh cũng đƣợc dùng rộng rãi, lãng phí và nguy hiểm. Một
nghiên cứu khác cho thấy ngay tại thủ đô Manila (Philippine), việc mua kháng
sinh không có đơn của thầy thuốc chiếm tới 66%, trong đó có cả những trƣờng
hợp mua kháng sinh để “dự phòng” bệnh tật [26].
Một nghiên cứu tại cộng đồng Mexico thì có 64,4% bệnh nhân sử dụng
kháng sinh sai liều và 53,1% bệnh nhân chỉ sử dụng trong khoảng một thời gian
ngắn thì ngừng (có sự giám sát của Bác sỹ) và tỷ lệ này còn cao hơn (82,6% và
95,6%) khi không có sự giám sát của Bác sỹ. Về thời gian sử dụng kháng sinh
thì có tới 22% số ngƣời sử dụng kháng sinh 1 ngày, 19% sử dụng 2 ngày, 21%
sử dụng 3 ngày, 11% sử dụng 4 ngày, 14% sử dụng 5 ngày và còn lại là sử dụng
trên 5 ngày [28].
Thuốc là “con dao hai lƣỡi” và có thể gây ra những phản ứng có hại
(Advers Drug Reaction - ADR) ở nhiều mức độ, thậm chí tử vong kể cả dùng
đúng liều, đúng quy định. Điều trị và phòng bệnh có sử dụng nhiều thuốc thì tần
suất ADR tăng lên theo cấp số nhân với số lƣợng thuốc có trong 1 lần điều trị.
Tại Mỹ, một đánh giá trên nghiên cứu của Lazarou cho thấy năm 2004 có 2,2
triệu phản ứng có hại (ADR) của thuốc đã xảy ra ở những ngƣời đang điều trị
trong bệnh viện là khoảng 6,7% và gây ra 106.000 ca tử vong [24].
Tình hình quảng cáo thuốc cũng đáng lo ngại. Tìm hiểu 183 quảng cáo
thuốc ở 11 nƣớc khu vực châu Âu, với các thuốc không phải kê đơn, ngƣời ta
chỉ thấy có 3 quảng cáo đảm bảo đủ các yêu cầu theo quy định của liên minh
châu Âu và các tiêu chuẩn về đạo đức của Tổ chức y tế thế giới, 91 quảng cáo
không chỉ dẫn cụ thể cách dùng, 53 quảng cáo mang tính y tế cho các sản phẩm
8
không đƣợc đăng ký là thuốc, 53 quảng cáo không ghi tên gốc (chỉ ghi biệt
dƣợc).... Đặc biệt, khoảng không gian dành cho tranh hay các bức hình minh họa
thƣờng lớn hơn nhiều so với lời ghi hƣớng dẫn [26].
1.3. THỰC TRẠNG KÊ ĐƠN THUỐC TẠI VIỆT NAM TRONG NHỮNG
Thông tin của bệnh nhân dù không tác động trực tiếp đến việc sử dụng
thuốc trong đơn nhƣng là một yếu tố rất quan trọng, qua thông tin thủ tục hành
chính trên bệnh nhân có định hƣớng lựa chọn thuốc, lựa chọn liều dùng, cách
dùng, có định hƣớng theo dõi và quản lý sử dụng thuốc… Vì vậy, cần phải
thông tin đến ngƣời bệnh nhƣ các thông tin về thuốc và thông tin điều trị sau kê
đơn, bao gồm hƣớng dẫn bệnh nhân tuân thủ điều trị tại nhà, thông báo thu hồi
thuốc có vấn đề về chất lƣợng...
Chƣa có thống kê hệ thống việc không tuân thủ ghi đầy đủ các thông tin
thủ tục hành chính cho bệnh nhân và ảnh hƣởng của việc ghi không đủ một cách
chính xác và thuyết phục, các kết quả nghiên cứu mới mang tính chất thống kê.
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy, các đơn thuốc
có sai sót thông tin bệnh nhân về họ tên, tuổi, giới, địa chỉ là 98%, một số
nghiên cứu khác về hoạt động bảo đảm cung ứng thuốc chữa bệnh tại Phòng
quân y – Bộ tổng tham mƣu – Cơ quan Bộ quốc phòng… cũng cho thấy có bất
cập trong vấn đề này.
Việc áp dụng quy trình kê đơn điện tử chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi mà mới
chỉ phổ cập ở một vài bệnh viện lớn. Đa số các bệnh viện trên cả nƣớc vẫn kê
đơn viết tay. Một nghiên cứu của Trƣờng Đại học Dƣợc Hà Nội cho thấy, kê
đơn điện tử đƣợc xem nhƣ một biện pháp can thiệp có hiệu quả để làm giảm một
cách có ý nghĩa số lƣợng đơn kê có sai sót cả về thủ tục hành chính và chuyên
môn. Tại các bệnh viện công lập Việt nam, khu vực điều trị ngoại trú luôn gặp
áp lực bệnh nhân đông, thời gian khám, kê đơn và tƣ vấn dùng thuốc của bác sỹ
bị rút ngắn làm gia tăng khả năng xảy ra sai sót kê đơn, nhất là khi đơn thuốc
đƣợc ghi bằng tay [23].
Theo kết quả khảo sát tại bệnh viện Phổi Trung ƣơng năm 2009, do chƣa
ứng dụng phần mềm trong kê đơn trên máy tính nên tỷ lệ thực hiện theo quy chế
về ghi các thông tin về bệnh nhân và thông tin về thuốc chƣa cao. Có 35% đơn
10
Một số nghiên cứu về kê đơn và sử dụng thuốc tại một số bệnh viện nhƣ
Bệnh viện trung ƣơng Quân đội 108 năm 2010, bệnh viện Tim mạch Hà Nội
năm 2010 và bệnh viện Đa khoa Vĩnh Phúc năm 2011, số thuốc trung bình một
đơn thuốc từ 4,2 - 4,4 thuốc [8], [11], [14].
Một nghiên cứu khác về tình hình kê đơn ngoại trú của Bệnh viện Bạch
Mai năm 2011 cũng cho tỷ lệ tƣơng tự với số thuốc trung bình trong 1 đơn là 4,7
(với đơn không BHYT) và 4,2 (với đơn có BHYT). Trong đó, số đơn có từ 6 10 thuốc chiếm tỷ lệ là 32,7% (với đơn không BHYT) và 25,3% (với đơn có
BHYT), có đơn không có BHYT sử dụng từ 11 – 15 thuốc, chiếm tỷ lệ 4,8%
[17].
Nghiên cứu về tình hình kê đơn thuốc ở một số phòng khám chữa bệnh ở
4 quận Hà Nội, số thuốc trung bình trong một đơn thuốc có 4,38, số đơn thuốc
có kháng sinh là 71,72%. Trong đó đơn thuốc có 1 loại kháng sinh là 50,7% và
có 41,42% số thuốc đƣợc kê trong danh mục thuốc thiết yếu [1].
Nghiên cứu về hoạt động bảo đảm cung ứng thuốc chữa bệnh tại Phòng
quân y – Bộ tổng tham mƣu – Cơ quan Bộ quốc phòng cũng cho thấy, số thuốc
trung bình trong một đơn ở khu vực ngoại trú là 3,9%, khu vực nội trú là 5,3%,
số đơn thuốc kê chƣa đúng thuốc là 21,3%, số đơn thuốc kê chƣa đúng liều là
7%, thuốc an thần chiếm 35% [10].
Nhiều đơn thuốc kê dài tới 9 - 10 thuốc, có thuốc hoạt chất trùng nhau
nhƣng tên biệt dƣợc khác nhau cũng đƣợc kê cùng. Thuốc kháng sinh mới, loại
tác dụng mạnh cũng đƣợc kê cả cho trẻ em và nhiều ngƣời bệnh khác mà không
cần phải thử kháng sinh đồ [13].
Các kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Nhân dân 115 cho thấy, các đơn có
sai sót về cách ghi tên thuốc là 40,4%, các đơn thiếu thời điểm dùng thuốc
chiếm tỷ lệ 54%, trong đó nhiều nhóm thuốc thiếu thời điểm dùng thuốc chiếm
tỷ lệ cao, nhóm ức chế bơm proton là 90,9%, rối loạn lipid là 86,1%, nhóm ức
chế tiểu đƣờng là 58,7%, nhóm chống viêm không steroid là 46,1%. Việc kê đơn
12
13
tổng số đơn [12]. Qua nghiên cứu của Phạm Trí Dũng tại 10 tỉnh/thành phố nhận
thấy nhu cầu sử dụng Vitamin ở cộng đồng là rất lớn, dao động từ 45,9% 74,9% trong số ngƣời dùng thuốc đƣợc chọn ngẫu nhiên hiện có sử dụng
Vitamin, và 50,9% những ngƣời mua thuốc đƣợc chọn ngẫu nhiên đã mua
Vitamin. Các Vitamin đƣợc kê nhiều nhất là vitamin C (46,6%), vitamin B1
(18,7%), vitamin kết hợp (multivitamin) là 17,3%. Vitamin luôn có sẵn ở các
điểm bán thuốc, tại một điểm bán lẻ thuốc trung bình chế phẩm vitamin chiếm
13,4% tổng danh mục thuốc bán lẻ và ngƣời thầy thuốc luôn kê đơn thuốc có
vitamin nhƣ là thuốc bổ trợ. Nghiên cứu tại 10 tỉnh/thành phố này cũng cho thấy
có tới 66,1% số đơn thuốc đƣợc khảo sát có chế phẩm vitamin. Nhƣ vậy cả 3
yếu tố là ngƣời tiêu dùng, ngƣời cung ứng, ngƣời kê đơn đang làm cho nhu cầu
sử dụng vitamin ngày càng tăng. Cần thiết phải truyền thông cho cộng đồng hiểu
về vai trò quan trọng của việc sử dụng thuốc hợp lý, an toàn, hiệu quả nói chung
và vitamin nói riêng để góp phần làm giảm xu hƣớng lạm dụng vitamin hiện nay
[6].
Về sử dụng thuốc tiêm, kết quả nghiên cứu tại bệnh viện Bạch Mai cho
thấy tỷ lệ sử dụng thuốc tiêm trong điều trị ngoại trú là 10,7% thấp hơn nhiều so
với tỷ lệ điều trị nội trú (84%). Một số viện và khoa lâm sàng trong bệnh viện
còn sử dụng thuốc tiêm với tỷ lệ khá cao (Khoa CXK: 27,7%, Khoa TYC:
17,6%). Cần lƣu ý, việc sử dụng thuốc tiêm luôn đi kèm những rủi ro nghiêm
trọng [17].
Sự gia tăng của bệnh tật kéo theo một loạt các vấn đề về chỉ định thuốc.
Năm 2005 Bộ y tế tổ chức hội nghị đánh giá thực hiện chỉ thị 05/2004/CT-BYT
về việc chấn chỉnh công tác cung ứng, sử dụng thuốc trong Bệnh viện cũng đã
cho thấy việc kê quá nhiều thuốc cho ngƣời bệnh dẫn đến nhiều tƣơng tác thuốc
trong điều trị. Tại bệnh viện Thống Nhất có nhiều đơn kê từ 14 đến 16 thuốc
một ngày cho một bệnh nhân [2].
Tƣơng tác thuốc trong đơn cũng là yếu tố cần phải bàn đến trong việc sử
nghiên cứu [17]. Hiện tƣợng bác sỹ kê toa thuốc để hƣởng hoa hồng của các
công ty dƣợc phẩm đã dẫn tới tình trạng lạm dụng thuốc, chủ yếu là thuốc kháng
sinh, vitamin…
15
Kết quả nghiên cứu tại bệnh viện nội tiết Trung ƣơng cho thấy xu hƣớng
kê đơn trong đơn bảo hiểm ngoại trú và không bảo hiểm ngoại trú khá khác
nhau. Trong kê đơn thuốc bảo hiểm, tỷ lệ kê thuốc ngoại (47,5%) thấp hơn kê
thuốc nội (52,5%). Ngƣợc lại trong đơn không bảo hiểm, tỷ lệ thuốc ngoại đƣợc
kê (62,3%) lại cao hơn nhiều so với thuốc nội (37,7%). Khi tỷ lệ thuốc ngoại
đƣợc kê trong đơn cao, đồng nghĩa với việc chi phí trong đơn thuốc đó tăng lên
[19]. Điều này có thể lý giải mặc dù tốc độ tăng trƣởng ngành Dƣợc khá cao,
trung bình 18,8%/năm trong giai đoạn 5 năm 2009 – 2013 nhƣng một sự thật mà
ngành Dƣợc Việt Nam không thể phủ nhận là tỷ lệ nhập khẩu dƣợc phẩm đang
còn quá cao, chiếm đến 60% tổng nhu cầu của ngƣời tiêu dùng nội địa. Trong
khi đó, dù cung cấp đƣợc 50% nhu cầu nhƣng thị trƣờng nội địa chỉ đáp lại 38%,
các doanh nghiệp trong nƣớc chuyển sang hƣớng xuất khẩu. Tuy nhiên, kim
ngạch xuất khẩu còn quá thấp, do sản phẩm của doanh nghiệp nội địa mới chỉ là
những công thức thuốc thông thƣờng mà nguồn cung trên thị trƣờng quốc tế vẫn
đang rất dồi dào, cộng với việc 90% nguyên liệu phải nhập khẩu, khiến mặt
hàng của Việt Nam thiếu tính cạnh tranh [4]. Và một nguyên nhân nữa là do tâm
lý của ngƣời Việt Nam, bao gồm cả bác sỹ, dƣợc sỹ và bệnh nhân vẫn ƣa
chuộng hàng ngoại. Thống kê chính thức cho thấy, các bác sỹ Việt Nam chỉ kê
20 – 30% thuốc nội trên tổng số các thuốc cần kê cho bệnh nhân. Trong tiềm
thức của ngƣời Việt, thuốc đắt là thuốc tốt mà hiển nhiên rằng, thuốc nhập khẩu
vẫn đắt hơn thuốc nội. Vì vậy, thuốc nội vẫn đang bị lép vế ở thị trƣờng nội địa
do những quan niệm sai lầm này.
Việc áp dụng quy trình kê đơn điện tử chƣa đƣợc áp dụng rộng rãi gây
việc quản lý về thông tin chỉ định và thông tin sử dụng thuốc hoàn thiện bị ảnh
13/3/2006 của UBND tỉnh Thái Bình về việc sắp xếp lại tổ chức ngành y tế theo
thông tƣ liên tịch số 11/2005/TTLB-BYT-BNV ngày 12/5/2005 của Bộ y tế và
Bộ Nội vụ, Bệnh viện Đa khoa Thành phố đƣợc tách ra từ Trung tâm y tế Thành
phố. Bệnh viện có 17 khoa phòng với 09 khoa lâm sàng, 04 khoa cận lâm sàng
và 04 phòng chức năng. Tổng số giƣờng thực kê của Bệnh viện là 234 giƣờng.
Nhà thuốc Bệnh Viện Đa Khoa Thành Phố là nguồn cung ứng thuốc cho các đối
tƣợng là bệnh nhân tự nguyện, ngoại trú đến khám điều trị tại Bệnh Viện và
nhân dân trong tỉnh. Đƣợc thành lập từ năm 1996, đƣợc sự liên doanh liên kết
17