Đặc tính sinh lý và sinh hoá của vi khuẩn gây bệnh hại thực vật - Pdf 12

Đặc tính sinh lý và sinh hoá của vi khuẩn gây
bệnh hại thực vật

Bước tới: chuyển hướng, tìm kiếm
Để có thêm thông tin, xin tham khảo danh sách các vi khuẩn hại thực vật
.
Vi khuẩn
gây bệnh thực vật là những bán ký sinh có thể nuôi cấy sinh trưởng, phát
triển tốt trên các loại môi trường nhân tạo dùng trong vi khuẩn học.
Tuy phụ thuộc vào những yếu tố nhất định, nhưng nói chung sự sinh trưởng và
sinh sản của vi khuẩn bệnh cây bắt đầu ở 5-10°C, nhiệt độ tối thích 25-30°C,
ngừng sinh sản ở 33-40°C. Nhiệt độ gây chết 40-50°C (trong 10 phút).
Khác với các loại nấm
bệnh, để sinh trưởng và sinh sản, vi khuẩn bệnh cây đòi hỏi
môi trường từ trung tính đến kiềm yếu, thích hợp ở pH 7-8.
Phần lớn vi khuẩn bệnh cây là háo khí cần oxy nên phát triển mạnh trên bề mặt
môi trường đặc hoặc trong môi trường lỏng giàu oxy nhờ lắc liên tục trên máy lắc.
Một số khác là loại yếm khí tự do có thể dễ dàng phát triển bên trong cơ chất (mô
cây) không có oxy.
Vi khuẩn gây bệnh cây là những sinh vật d
ị dưỡng đối với các nguồn carbon và
nguồn đạm. Cho nên để phát triển, vi khuẩn cần nhận được năng lượng thông qua
con đường phân giải các chất hữu cơ có sẵn như protein và polysaccharide. Phân
giải nguồn carbon tạo ra acid và khí. Tùy theo loại vi khuẩn có cường độ hoạt tính
mạnh, yếu khác nhau trong quá trình phân giải này mà người ta xem đây là một
trong những chỉ tiêu cơ bản để giám định loài vi khuẩn.
Trong các pha sinh sản của vi khuẩn gây bệnh cây trong môi trườ
ng lỏng thì pha
tăng trưởng số lượng (pha log) bắt đầu sau 3-4 giờ sau khi cấy truyền và pha ổn
định số lượng sau 24-28 giờ.
Trên môi trường đặc (agar) vi khuẩn sinh trưởng tạo thành khuẩn lạc. Khuẩn lạc có

phosphorylase, transferase, decarboxylase, oxydase, dehydrogenase, hydrase
chứa ở trong ribosome, trong màng tế bào chất, vách tế bào
Nhiều loại enzyme là những ngoại men do vi khuẩn tạo ra, tiết ra ngoài vào trong
môi trường sống được coi như là vũ khí quan trọng của kí sinh vật, nh
ờ đó mà xâm
nhiễm vào cây để vượt qua được các chướng ngại vật tự nhiên của cây (biểu bì,
cutin, vách tế bào thực vật), để chuyển hoá các hợp chất hữu cơ phức tạp thành
dạng đơn giản dễ hấp thụ sử dụng cho vi khuẩn và để trung hòa hoặc vô hại hoá
các chất đề kháng của cây chống lại kí sinh vật.
Các men phân giải pectin mảnh gian bào của cây như pectinase, protopectinase,
polygalacturonase, có ở hầu hết các vi khuẩn hại cây, hoạt tính mạnh nhất biểu
hiện ở các loài vi khuẩn gây các bệnh thối rữa.
Đối với loài vi khuẩn gây bệnh héo (Ralstonia solanacearum
), men
pectinmethylesterase phân giải pectin có thể sinh ra pectinic acid ở trong mạch dẫn
kết hợp với Ca tạo thành calcium pectate vít tắc sự lưu thông của bó mạch, góp
phần tạo ra triệu chứng héo đột ngột của cây bệnh.
Nhiều loại enzyme như cutinase (phân giải cutin), hemicellulase, cellulase (phân
giải cellulose) rất phổ biến ở vi khuẩn, đặc biệt là vi khuẩn Xanthomonas
campestris gây bệnh cháy lá (hại cải), Corynebacterium sepedonicum (bệnh thối
vòng củ khoai tây). Nhiều loại enzyme (men) thủy phân chuyển hoá các hợp chất
phức tạp của tế bào cây thành các hợp chất đơn giản dễ sử dụng cho vi khuẩn như
amylase, invertase, glucosidase, lactase và các enzyme phân giải protein và peptide
như protease, peptidase, amidase, men phân giải chất béo như lipase
Thành phần và hoạt tính của các loại enzyme nói trên khác nhau tùy theo loài vi
khuẩn. Cho nên hệ thống enzyme và sản phẩm phân giải tạo ra do sự tác động của
các enzyme vi khuẩn có sự khác biệt nhau đã được s
ử dụng như một chỉ tiêu sinh
hoá quan trọng để phân định loài vi khuẩn. Có loài vi khuẩn nhờ enzyme riêng biệt
có thể phân giải gelatin, khử nitrate (NO

tế bào, mạch dẫn của cây trồng.
Để nghiên cứu về sinh lý, sinh hoá và đặc điểm sinh trưởng của vi khuẩn người ta
cần phân lập thuần khiết các loài vi khuẩn riêng biệt trên môi trường dinh dưỡng
nhân tạo, nuôi cấy chúng trên các môi trường đặc hoặc lỏng.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status