- 1 -
1. Mở đầu
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Để phấn đấu đa chăn nuôi lên thành ngành sản xuất chính trong sản
xuất nông nghiệp, trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi nớc ta luôn
đợc quan tâm đầu t phát triển. Trong đó ngành chăn nuôi gia cầm luôn
chiếm vị trí quan tâm đặc biệt.
Mục tiêu phấn đấu của ngành chăn nuôi nớc ta đến năm 2010 phải đạt
tỷ trọng 30% GDP sản xuất nông nghiệp, riêng đàn gia cầm phấn đấu đạt
297.500.000 con vào năm 2005.
Theo báo cáo của Cục Thú y (2004) [10], tính đến ngày 3.5.2004 cả
nớc có 254 triệu con gia cầm, trong đó gà chiếm 185 triệu con, ngan vịt 68,8
triệu con, sản lợng thịt gia cầm sản xuất trong năm 272,7 ngàn tấn, sản lợng
trứng 4,79 tỷ quả, tỷ trọng thịt gia cầm tăng 14% (1990) lên 17% (2003).
Để đạt đợc mục tiêu kể trên ngành chăn nuôi gia cầm ngoài việc u
tiên đầu t cho lĩnh vực giống, giải quyết vấn đề thức ăn thì việc tăng cờng
các biện pháp thú y bảo vệ đàn gia cầm khoẻ mạnh là một khâu hết sức quan
trọng (Lê Minh Chí 1999) [7] [8]
Cùng với sự phát triển của ngành chăn nuôi, chăn nuôi vịt cũng đang
dần trở thành ngành sản xuất hàng hoá góp phần vào chơng trình xoá đói
giảm nghèo.
Để tăng năng suất hàng năm, chúng ta đã tiến hành nhập nội hàng loạt
các giống vịt cao sản và nhân chúng lên trên diện rộng. Các giống này tuy có
u điểm cho năng suất cao nhng sức đề kháng với bệnh kém hơn rất nhiều so
với giống vịt nội.
Trong chăn nuôi vịt, bệnh thờng hay gặp và gây tổn thất kinh tế
nghiêm trọng phải kể đến bệnh cúm gia cầm, bệnh dịch tả vịt, bệnh viêm gan
do virus. Bệnh viêm gan vịt do virus là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lây lan
- 2 -
mạnh gây thiệt hại lớn cho ngành chăn nuôi vịt (Nguyễn Xuân Bình, 2002)[3].
Bệnh xảy ra ở vịt dới 6 tuần tuổi, mẫn cảm nhất là vịt con dới 3 tuần tuổi.
phòng chống bệnh cho đàn vịt đạt hiệu quả cao. Chúng tôi tiến hành nghiên
cứu đề tài:
"Tình hình bệnh viêm gan vịt do virus ở huyện Hiệp Hoà - tỉnh Bắc
Giang. Phân lập, khảo sát một số đặc tính sinh học của chủng virus gây
bệnh và biện pháp phòng bệnh".
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
- Xác định thực trạng bệnh viêm gan vịt do virus trên đàn vịt nuôi ở
huyện Hiệp Hoà - tỉnh Bắc Giang.
- Phân lập virus viêm gan vịt gây bệnh.
- Xác định một số đặc tính sinh học của chủng virus phân lập đợc.
- áp dụng một số biện pháp phòng bệnh.
1.3. ý nghĩa khoa học - thực tiễn của đề tài
- Góp phần đề ra các biện pháp phòng trị bệnh viêm gan vịt có hiệu quả
cao trong chăn nuôi vịt.
- Tạo chủng virus viêm gan vịt cờng độc dùng trong nghiên cứu.
- 4 -
2. tổng quan tài liệu
2.1. bệnh viêm gan vịt do virus (Duck Virus Hepatitis - DVh)
Bệnh viêm gan do virus ở vịt là một bệnh truyền nhiễm cấp tính xảy ra
ở vịt con duới 6 tuần tuổi, mẫn cảm nhất là vịt con dới 3 tuần tuổi. Bệnh lây
lan rất nhanh có biểu hiện đặc trng là gan sng, xuất huyết lốm đốm trên
gan. Bệnh do 3 typ virus khác nhau gây ra: virus viêm gan vịt typ I, typ II và
typ III. Phổ biến hơn cả là virus viêm gan vịt typ I.
so với bệnh viêm gan vịt do virus typ I, tỷ lệ chết của vịt con hiếm khi vợt quá
30%. Haider và Calnek (1979) [40] đã đặt tên virus này là virus viêm gan vịt
typ III. Cho đến nay virus viêm gan vịt typ III mới chỉ đợc công bố ở Mỹ.
2.1.2. Truyền nhiễm học
* Loài mắc bệnh
Trong tự nhiên, bệnh viêm gan vịt do virus viêm gan vịt typ I gây ra chỉ
xảy ra ở vịt con (Nguyễn Xuân Bình, 1995) [2]. ở những đàn vịt bị bệnh, tỷ lệ
nhiễm bệnh 100%, tỷ lệ chết tuỳ theo lứa tuổi: vịt dới 1 tuần tuổi chết 95%,
từ 1 - 3 tuần tuổi chết ít hơn, khoảng 50%, 4 - 5 tuần tuổi tỷ lệ chết không
đáng kể. Theo Nguyễn Phục Hng (2004) [15] vịt con ở các lứa tuổi khác
nhau có tỷ lệ nhiễm bệnh và tỷ lệ chết cũng khác nhau.
Vịt trởng thành bị nhiễm virus không có triệu chứng lâm sàng, không
ảnh hởng đến sản lợng trứng. Gà, gà tây và các động vật khác không mắc
bệnh. Asplin (1961) [26] cho biết gà con có thể bị nhiễm bệnh, bệnh thể hiện
không điển hình và có thể truyền virus cho con khác.
Theo Rahn (1992) [56] gia cầm non một vài ngày hay một vài tuần tuổi
vẫn có thể bị nhiễm bệnh, con vật có biểu hiện triệu chứng, bệnh tích và có
kháng thể trung hoà trong máu.
Trong phòng thí nghiệm, dùng virus viêm gan vịt typ I gây bệnh cho vịt
con bằng cách cho uống hoặc tiêm phúc mạc. Vịt chết có bệnh tích: gan sng,
- 6 -
xuất huyết lốm đốm trên gan, túi mật sng, lách sng và có thể phân lập đợc
virus từ gan 17 ngày sau khi cho uống.
Các loài vật khác nh thỏ, chuột lang, chuột nhắt trắng, chó... đều
không cảm thụ với bệnh.
Đối với virus viêm gan vịt typ II, typ III trong phòng thí nghiệm, trong tự
nhiên chỉ gây bệnh cho vịt con.
* Đờng xâm nhập và cách lây lan
Virus xâm nhập vào cơ thể qua niêm mạc đờng tiêu hoá, đờng hô hấp
hoặc qua vết thơng rồi vào máu. Virus theo máu đến các cơ quan, phủ tạng
khi lên tới 100%.
Vịt bị bệnh không theo kịp bầy đàn, ít vận động, mệt mỏi, mắt nhắm,
đột nhiên ngã vật ra, co giật rồi chết, vịt chết nằm ở t thế ngoẹo đầu ra đằng
sau. Vịt chết rất nhanh trong vòng 1 giờ sau khi xuất hiện triệu chứng. Trong
thời gian dịch bệnh, vịt chết nhanh, nhiều gây thiệt hại nặng. Hình thái vịt chết
ngoẹo đầu ra đằng sau, chân duỗi thẳng thờng đợc coi nh một dấu hiệu đặc
trng của bệnh viêm gan vịt do virus. Farmer gọi bệnh viêm gan vịt là hội
chứng thận thoái hoá mỡ và hoại tử tuyến tụy (Farmer, 1987)[35].
Đối với bệnh do virus viêm gan vịt typ II gây ra khi quan sát thấy vịt
chết ở thể trạng tốt, chết trong 1 - 2 giờ sau khi có biểu hiện triệu chứng.
Vịt khát nớc, chảy nớc mắt, tăng tiết urat, vịt chết do co giật cấp tính. Vịt
bị nhiễm bệnh thờng chết với tỷ lệ chết 10 - 50%, vịt trởng thành không
mắc bệnh.
Bệnh do virus viêm gan vịt typ III gây ra chỉ xảy ra ở vịt con. Triệu
chứng giống nh ở bệnh do virus viêm gan vịt typ I gây ra. Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết
của bệnh hiếm khi vợt quá 30%.
2.1.4. Bệnh tích
* Bệnh tích đại thể:
Bệnh tích do virus viêm gan typ I gây ra thờng thấy ở gan, gan vịt
bệnh sng to, xuất huyết từng đám lấm chấm đỏ sẫm hay đỏ tím trên mặt gan.
- 8 -
Thận sng màu nhợt nhạt, tĩnh mạch thận xung huyết, thỉnh thoảng có trờng
hợp lách tụ máu hoặc lấm tấm xuất huyết.
* Bệnh tích vi thể:
Các biến đổi vi thể rất phức tạp. Những biến đổi nguyên thuỷ trong thể
cấp tính bao gồm thay đổi đầu tiên là hoại tử tế bào gan, tăng sinh ống mật
cùng với tăng sinh các tế bào viêm và xuất huyết ở các mức độ khác nhau. ở vịt
con không chết có sự tái sinh các tế bào nhu mô gan (Fabricant, 1957)[34].
Quan sát sự biến đổi vi thể ở phôi gà 10 ngày tuổi chết do nhiễm virus
viêm gan vịt typ I. Tế bào hạt của nhiều cơ quan tăng sinh, gan có điểm hoại
dịch PBS (Phosphate Buffer Saline) tỉ lệ 1/5, xử lý Chloroform 5% trong
vòng 10 - 15 phút ở nhiệt độ phòng để diệt tạp khuẩn. Tiến hành phân lập.
- Nuôi cấy virus viêm gan vịt typ I:
+ Dùng vịt 1 - 7 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào dới da hoặc
tiêm bắp. Sau khi tiêm 18 - 48 giờ, thờng dới 24 giờ vịt chết với biểu hiện
triệu chứng bệnh tích đặc trng của virus viêm gan vịt typ I.
+ Dùng phôi vịt 10 - 14 ngày tuổi hoặc phôi gà 8 - 10 ngày tuổi, tiêm hỗn
dịch bệnh phẩm vào xoang niệu mô. Sau khi tiêm, virus giết chết phôi vịt trong
khoảng 24 -72 giờ, giết chết phôi gà trong khoảng thời gian 5 - 8 ngày.
Phôi có bệnh tích: còi cọc, xuất huyết dới da, phù phôi, gan sng đỏ
hoặc hơi vàng.
+ Dùng môi trờng tế bào gan phôi vịt: sau khi cấy hỗn dịch bệnh
phẩm, virus gây huỷ hoại tế bào: tế bào co tròn, hoại tử, tạo plaques đờng
kính gần bằng 1mm.
- Nuôi cấy virus viêm gan vit typ II:
+ Dùng vịt 1 - 7 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào dới da hoặc
tiêm bắp. Sau khi tiêm 2 - 4 ngày vịt mới chết. Tỷ lệ chết chỉ đạt 20%. Điều
này khác hẳn so với virus viêm gan vịt typ I.
+ Dùng phôi vịt 10 - 14 ngày tuổi, gây nhiễm qua xoang niệu mô. Trên
- 10 -
môi trờng này, virus nhân lên hạn chế, sau 6 - 10 ngày mới phát hiện đợc sự
nhiễm của phôi: phôi còi cọc, hoại tử gan, gan có màu xanh.
Virus viêm gan vit typ II không nhân lên đợc trong môi trờng tế bào
của vịt, gà.
- Nuôi cấy virus viêm gan vịt typ III:
+ Dùng vịt 1 - 7 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào bắp thịt, 24
giờ sau khi tiêm vịt không chết, sau 2 - 4 ngày vịt mới chết, tỷ lệ chết thấp chỉ
đạt 20%.
+ Dùng phôi vịt 10 ngày tuổi, tiêm hỗn dịch bệnh phẩm vào màng
nhung niệu, virus nhân lên yếu. Sau khi tiêm 7 - 10 ngày phôi mới chết.
Bệnh xảy ra ở cả vịt con, vịt giống với triệu chứng và bệnh tích điển
hình của bệnh: vịt con ỉa chảy phân trắng, gan có điểm hoại tử. Vịt con cha
tiêu hết lòng đỏ, gan, thận, lách sng, xung huyết. Bệnh có thể chữa khỏi bằng
kháng sinh (Nguyễn Vĩnh Phớc, 1978)[21].
Trong phòng thí nghiệm, vi khuẩn dễ dàng phân lập đợc bằng một số
môi trờng thông thờng: môi trờng thạch thờng, thạch máu
- Chẩn đoán phân biệt với bệnh dịch tả vịt (Duck plague)
Bệnh dịch tả vịt xảy ra ở vịt mọi lứa tuổi. Vịt có triệu chứng sng đầu,
đau mắt, liệt chân, cánh, tiêu chảy phân xanh, tốc độ vịt chết chậm hơn, vịt có
bệnh tích viêm kết mạc mắt, xuất huyết dới da, loét đờng tiêu hoá nh niêm
mạc dạ dày, ruột. Virus gây bệnh dịch tả vịt rất mẫn cảm với Chloroform và
có thể tìm thấy tiểu thể bao hàm trong chẩn đoán tổ chức học.
- Chẩn đoán phân biệt với bệnh nhiễm độc Aflatoxin (Aflatoxicosis)
Bệnh có những triệu chứng gần giống bệnh viêm gan vịt do virus. Song ở
bệnh nhiễm độc do Aflatoxin vịt chết nhanh ở mọi lứa tuổi, gan sng, rắn, nhu mô
gan và thận bị phá huỷ nghiêm trọng nhng không có tế bào viêm. Không có sự
lây lan bệnh sang các đàn vịt khác khi không dùng chung cùng một loại thức ăn.
2.1.6. Chỉ tiêu phi lâm sàng
Vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt typ I cho hàm lợng protein tổng số
giảm, albumin giảm, men glutanmat - pyruvat - transaminase (GPT) tăng,
bilirubin tăng. Hàm lợng GPT, GOT tăng có liên quan đến quá trình nhiễm
bệnh, nghiên cứu vấn đề này Mennella và Mandelli (1977)[53] cho biết: vịt
- 12 -
trời bị nhiễm bệnh, mặc dù triệu chứng không biểu hiện rõ nhng hàm lợng
men GPT, GOT của gan có thay đổi.
2.2. Virus viêm gan vịt (Duck Hepatitis Virus - DHV)
Bệnh viêm gan vịt do 3 typ virus khác nhau gây nên: virus viêm gan
vịt typ I, virus viêm gan vịt typ II và virus viêm gan vịt typ III.
2.2.1. Virus viêm gan vịt typ I
* Hình thái
cloramin 3% trong 5 giờ, virus bị vô hoạt. Theo Haider (1980) [41] ở điều
kiện có 5% phenol virus bị vô hoạt hoàn toàn.
- 13 -
Biến dị của virus
Trong tự nhiên, kháng nguyên của virus viêm gan vịt typ I không ổn
định, dễ bị biến dị (Rao,1967) [57], (Shalaby, 1978) [61]. Ngời ta đã phân
lập đợc các typ biến dị ở ấn Độ, Ai Cập và chứng minh sự biến dị của
virus typ I bằng phản ứng huyết thanh học. Sandhu, (1988)[60] cho biết vịt
đợc miễn dịch với virus viêm gan vịt typ I không đủ bảo hộ khi công cờng
độc bằng chủng virus biến dị.
Đặc tính nuôi cấy
Virus là loại ký sinh nội bào tuyệt đối (Nguyễn Đờng, 1990) [13], có
thể cấy chuyển virus viêm gan vịt trên động vật cảm thụ, trên phôi trứng và
trên môi trờng tế bào.
- Nuôi cấy trên phôi trứng: Virus viêm gan vịt có khả năng nhân lên
trên phôi vịt và phôi gà.
Trên phôi vịt: tiêm virus viêm gan vịt vào xoang niệu mô của phôi vịt
10 - 14 ngày tuổi, 24 - 72 giờ sau khi gây nhiễm, phôi chết. Với bệnh tích:
phôi còi cọc, xuất huyết dới da đặc biệt là vùng da ở đầu, bụng, chân, phôi
phù, gan sng có màu đỏ hoặc hơi vàng, có thể có điểm hoại tử. ở những phôi
chết muộn nớc trong xoang niệu mô có mầu xanh nhạt, bệnh tích rõ hơn.
Trên phôi gà: tiêm virus viêm gan vịt vào xoang niệu mô của phôi gà 8 -10
ngày tuổi. ở lần cấy chuyển đầu tiên, sau khi gây nhiễm 5 - 6 ngày, cho tỷ lệ phôi
chết 10 - 60%, phôi chết với bệnh tích là: còi cọc, phù phôi, xuất huyết dới
da (Levine và Fabricant, 1950) [49]. ở lần cấy chuyển thứ 20 - 26, virus
không còn khả năng gây bệnh cho vịt con mới nở, khi chuẩn độ virus đạt 1 -
3log
10
, lợng virus này thấp hơn khi cấy chuyển qua phôi vịt. ở lần cấy
biểu hiện dới dạng cụm tế bào co tròn (Maiboroda, 1972) [50].
Môi trờng tế bào thận phôi vịt đợc sử dụng để làm phản ứng trung hoà,
tạo plaques với virus nhợc độc viêm gan vịt (woolcock, 1982) [64].
2.2.2. Virus viêm gan vịt typ II
Virus viêm gan vịt typ II là một Astrovirus có tính kháng nguyên khác
với Astrovirus của gà, gà tây. Virus đợc Asplin xác định vào năm 1965 [27].
Theo Gough (1984) [38] virus viêm gan vịt có đờng kính 28 - 30nm.
Vịt bị nhiễm virus viêm gan vịt typ II, triệu chứng, bệnh tích giống nh
khi bị nhiễm virus viêm gan vịt typ I.
Virus viêm gan vịt typ II có khả năng nhân lên trên phôi vịt, phôi gà.
- 15 -
Trên môi trờng nuôi cấy tế bào, virus không có khả năng nhân lên trên các
loại tế bào của phôi gà, vịt.
Khi gây nhiễm virus vào xoang niệu mô hay túi lòng đỏ. ở môi
trờng này virus nhân lên yếu hơn so với virus viêm gan vịt typ I, cụ thể
6 - 10 ngày sau khi gây nhiễm mới phát hiện đợc sự nhiễm virus của phôi
(còi cọc, hoại tử gan).
Trên phôi gà, sau nhiều lần cấy truyền mù qua xoang niệu mô, virus
mới gây chết một số phôi ở thời điểm 7 ngày sau khi gây nhiễm. Những phôi
chết có biểu hiện còi cọc, gan có hoại tử màu xanh.
2.2.3. Virus viêm gan vịt typ III
Virus viêm gan vịt typ III đợc phát hiện vào năm 1969 ở Mỹ (Toth,
1969)[62]. Năm 1979 virus đợc Haider và Calnek đặt tên [40].
Virus là một picornavirus, có tính kháng nguyên không quan hệ với
virus viêm gan vịt typ I. Quan sát dới kính hiển vi điện tử trên tế bào thận bị
nhiễm virus cho thấy: virus viêm gan vịt typ III là một ARN có đờng kính
30nm trong tế bào chất.
Trên phôi vịt 9 - 10 ngày tuổi, sau khi gây nhiễm qua màng nhung niệu,
7 - 8 ngày mới có phôi chết, tỷ lệ chết phôi ở mức độ thấp. ở phôi chết thấy
màng nhung niệu biến màu, dầy gấp 10 lần so với bình thờng, phôi còi cọc,
Trong bệnh viêm gan vịt, miễn dịch bị động ở vịt con nhận đợc từ mẹ
đợc nhiều tác giả nghiên cứu. Việc tiêm nhắc lại vacxin cho vịt mẹ sẽ tạo
đợc kháng thể thụ động tốt cho đàn vịt con.
Theo Asplin (1958)[25] dùng virus viêm gan vịt typ I nhợc độc qua
phôi gà, tiêm bắp cho vịt giống vào thời điểm 2 - 4 tuần trớc khi lấy trứng
đem ấp đã tạo đợc miễn dịch thụ động cho vịt con.
Rispens (1969)[59] khuyến cáo ngời chăn nuôi nên tiêm cho đàn vịt
giống hai liều vacxin cách nhau ít nhất 6 tuần. Vịt mẹ sẽ có khả năng
truyền kháng thể thụ động cho vịt trong khoảng thời gian 9 tháng sau lần
- 17 -
tiêm vacxin thứ hai.
Theo Hwang (1973)[47], dùng 2 - 3 lần vacxin nhợc độc cho đàn vịt
giống sẽ tạo đợc miễn dịch thụ động đủ bảo hộ cho vịt con.
Bezukavaya (1978)[30] đã dùng virus viêm gan vịt nhợc độc qua phôi
vịt tiêm cho vịt giống, đã tạo đợc miễn dịch thụ động cho vịt con.
Golubnichi (1984)[36] cho biết: hàm lợng kháng thể ở vịt mẹ phải đạt
hiệu giá 1/64 trong phản ứng ngng kết hồng cầu thụ động hoặc 1/32 trong
phản ứng trung hoà mới có thể bảo hộ cho vịt con với bệnh.
Tripathy (1986)[63] ở vịt con hàm lợng kháng thể thụ động giảm dần
trong hai tuần đầu.
Woolcock (1991)[65] vịt giống tạo đợc miễn dịch cơ sở bằng vacxin
nhợc độc typ I. Sau đó tiêm bắp vacxin vô hoạt sẽ tạo đợc miễn dịch thụ
động cho vịt con.
Theo OIE (2000)[54] nếu dùng vacxin viêm gan vịt nhợc độc typ I: 2 -
3 lần vào các thời điểm 12 - 8 - 4 tuần trớc khi đẻ sẽ tạo đợc miễn dịch thụ
động cho vịt con trong suốt chu kỳ đẻ trứng.
Miễn dịch thụ động ở vịt con với bệnh viêm gan vịt còn đợc tạo ra
bằng cách dùng huyết thanh miễn dịch của vịt khỏi bệnh hoặc kháng thể từ
lòng đỏ tiêm cho vịt con.
Theo Rispens (1969)[59] cho biết có thể tạo miễn dịch thụ động cho
đợc đánh giá bằng phơng pháp công cờng độc và huyết thanh học.
Theo OIE (2000)[54] có thể dùng phản ứng trung hoà để kiểm tra mức
độ miễn dịch của vịt sau khi dùng vacxin hoặc sau khi vịt khỏi bệnh. Kháng
thể bảo hộ cho đàn vịt với virus viêm gan vịt là kháng thể trung hoà.
Phơng pháp công cờng độc đợc sử dụng với mục đích xác định mức
độ đáp ứng miễn dịch của đàn vịt sau khi tiêm vacxin, phơng pháp cho kết
quả chính xác. Để đánh giá tính gây miễn dịch của vacxin viêm gan vịt typ I,
- 19 -
typ II có thể tiến hành:
Tiêm vacxin vào dới da cho vịt, với liều 10
3.3
ELD
50
, 72 giờ sau dùng
virus cờng độc tiêm cho vịt liều 10
3
LD
50
. Vacxin viêm gan vịt typ I có hiệu
quả ít nhất 80% vịt tiêm vacxin sống sót, 80% vịt đối chứng chết. Vacxin typ
II có 20% vịt đối chứng biểu hiện bệnh.
2.4. vacxin phòng bệnh viêm gan vịt do virus
Vacxin phòng bệnh viêm gan vịt do virus có hai loại: vacxin nhợc độ
và vacxin vô hoạt.
2.4.1. Vacxin nhợc độc
Virus cờng độc dới tác động của các yếu tố sinh học: tiêm truyền
nhiều lần qua động vật ít cảm thụ, qua phôi, độc lực của virus giảm đi, virus
vẫn có khả năng nhân lên trong cơ thể vật chủ nhng không gây bệnh. Virus
này đợc dùng làm vacxin.
Theo asplin (1958) [25] virus viêm gan vịt cờng độc sau khi truyền
gan vịt typ I. Loại vacxin này không dùng trong sản xuất chỉ sử dụng cho
vịt con trong phòng thí nghiệm.
Vacxin viêm gan vịt nhợc độc typ III đợc giảm độc khi cấy truyền 30
lần trên màng nhung niệu của phôi vịt. Vacxin đợc sản xuất trên phôi vịt 10
ngày tuổi, vị trí tiêm màng nhung niệu, nuôi cấy ở nhiệt độ 37
0
C. Sau khi tiêm
phôi chết trong vòng 6 - 10 ngày với bệnh tích của virus gây ra trên phôi. Thu
nớc và màng nhung niệu, bảo quản ở nhiệt độ âm 70
0
C trong vài năm.
Về đờng đa vacxin vào cơ thể. Theo Asplin (1961) [26]; Balla (1984)[29]
có thể dùng phơng pháp cho uống, tiêm dới da, tiêm bắp với vacxin nhợc
độc viêm gan vịt typ I đều tạo đợc miễn dịch tốt.
Theo OIE (2000)[54], đa vacxin nhợc độc viêm gan typ II bằng
đờng cho uống, tiêm dới da, tiêm bắp, virus gan vịt typ III bằng đờng tiêm
dới da sẽ tạo đợc đáp ứng miễn dịch cao cho đàn vịt.
Vacxin viêm gan vịt đợc giảm độc trên phôi khi sử dụng cho vịt rất an
toàn, độc lực của chủng virus vacxin ổn định và không trở lại độc lực với vịt
mẫn cảm. Vịt con mới nở đợc tiêm vacxin viêm gan vịt typ I sau 48 - 72 giờ
có miễn dịch, miễn dịch kéo dài trong suốt thời gian vịt mẫn cảm với bệnh
(Crighton, 1978)[31].
Khi sử dụng phơng pháp tiêm vacxin nhắc lại có khả năng tạo miễn
dịch cao cho đàn vịt.
- 21 -
Theo OIE (2000)[54] muốn tạo đợc miễn dịch cao cho đàn vịt giống
để truyền kháng thể bị động cho vịt con phải tiêm vacxin nhắc lại.
Với vacxin viêm gan vịt typ I tiêm 2 - 3 lần vào các thời điểm 12 - 8 - 4
tuần trớc khi đẻ. Sau khi đẻ 3 tháng 1 lần tiêm nhắc lại.
Với vacxin viêm gan vịt typ III tiêm 2 lần vào các thời điểm 12 - 4
chuồng trại, chế độ ăn uống, chế độ chăm sóc nuôi dỡng, khâu vệ sinh, tẩy
uế tiêu độc, các biện pháp cách ly... Bên cạnh công tác vệ sinh phòng bệnh
phải dùng vacxin phòng bệnh cho đàn vịt.
Việc sử dụng vacxin viêm gan vịt để phòng bệnh nhằm mục đích tạo cho
vịt con ở lứa tuổi cảm thụ với bệnh có miễn dịch và đề kháng đợc với bệnh.
Để tạo miễn dịch cho vịt con cần sử dụng biện pháp:
Theo Crighton (1978)[31] với trờng hợp vịt con mới nở, khi tiêm
vacxin nhợc độc typ I, sau 48 - 72 giờ vịt có miễn dịch, miễn dịch kéo dài
suốt giai đoạn mẫn cảm với bệnh.
Vịt con của đàn vịt giống không có miễn dịch với bệnh viêm gan vịt có
thể dùng vacxin viêm gan vịt nhợc độc typ I lúc 1 ngày tuổi bằng đờng cho
uống hoặc tiêm dới da để gây miễn dịch.
Vịt con nở từ đàn mẹ có miễn dịch, kháng thể thụ động giảm dần trong
2 tuần đầu, nên dùng vacxin nhợc độc typ I cho vịt vào thời điểm 7 - 10 ngày
tuổi (Tripathy, 1986) [63].
Để tạo miễn dịch cho đàn vịt con với bệnh viêm gan vịt ngoài việc sử
dụng vacxin còn có thể dùng kháng thể viêm gan vịt chế từ lòng đỏ trứng. Vịt
con mẫn cảm với virus viêm gan vịt typ I có thể đợc phòng bệnh bằng cách
tiêm kháng thể viêm gan vịt typ I chế từ lòng đỏ trứng gà. Tuy nhiên, loại
miễn dịch này cho thời gian miễn dịch ngắn (OIE, 2000) [54].
Vịt con còn có khả năng miễn dịch với bệnh khi chúng nhận đợc
kháng thể đặc hiệu từ mẹ truyền sang qua lòng đỏ trứng.
Điều trị và khống chế bệnh: đối với bệnh viêm gan vịt do virus gây ra
để làm giảm thiệt hại có thể tiến hành một số biện pháp:
- Phát hiện bệnh sớm, can thiệp bằng cách tiêm huyết thanh miễn dịch hay
kháng thể viêm gan vịt chế từ lòng đỏ để gây miễn dịch cho vịt.
- Dùng vacxin tiêm thẳng vào ổ dịch.
- 23 -
- Thực hiện nghiêm ngặt quy trình vệ sinh thú y, trong đó chú trọng
ngăn không cho mầm bệnh, lây lan bằng cách: không bán chạy vịt, không
ở gan có tế bào viêm dạng đơn nhân, xuất huyết, hoại tử, tăng sinh ống mật
với tỷ lệ 100%.
Theo Bùi Thị Cúc (2002)[11] khi nghiên cứu về biến đổi bệnh lý đại
thể, vi thể và siêu vi thể bệnh viêm gan vịt do virus cho biết: bệnh tích siêu vi
thể điển hình là màng nhân của tế bào gan bị thoái hoá và hoại tử, các
glucogen trong tế bào gan bị phá huỷ, đồng thời xuất hiện các tiểu thể hình
cầu có bán kính 100 - 300 nm.
Theo thông báo Cục Thú y (2002) [9] tại Nam Định xảy ra ổ dịch viêm
gan do virus làm 10.000 con vịt bị bệnh, trong đó chết và xử lý 7.000 con.
Đào Văn Dỡng (2002) [12] cho biết bệnh viêm gan vịt thờng xảy ra
trên đàn vị nuôi ở huyện Việt Yên, Yên Dũng, Tân Yên của tỉnh Bắc Giang
(86/534 đàn), lứa tuổi mắc bệnh cao nhất 1 - 7 ngày tuổi chiếm tỷ lệ 61,63%;
tỷ lệ chết cao 53,9 - 72%.
Nguyễn Phục Hng (2004) [15] khi nghiên cứu bệnh viêm gan do virus
trên các đàn vịt nuôi ở 10 huyện thuộc 4 tỉnh Hà Nội, Hng Yên, Hà Tây, Bắc
Ninh cho biết tỷ lệ vịt chết rất cao 45,23% ở vịt 1- 7 ngày tuổi, 34,4% ở vịt
8 - 21 ngày tuổi, 18,9% ở vịt 22 - 42 ngày tuổi.
Bệnh viêm gan vịt do virus gây tổn thất lớn cho ngời chăn nuôi, nhng
việc nghiên cứu về biện pháp phòng trị bệnh còn ít (Nguyễn Đức Lu và cộng
sự, 2001) [16].
Năm 1983, Trần Minh Châu và cộng sự đã phân lập đợc chủng virus
viêm gan vịt cờng độc ở trại Phú Xuyên, Hà Tây (chủng TT). Các tác giả
làm giảm độc virus bằng cách cấy truyền 39 đời trên phôi gà và tạo đợc
chủng virus nhợc độc (chủng VN) có ELD
50
/0,2ml là 4-5 (Trần Minh Châu,
Lê Thu Hồng, 1985) [5].
Năm 1985, Trần Minh Châu, Lê Thị Nông, Nguyễn Đức Tạo đã xây
- 25 -
dựng quy trình sản xuất vacxin từ 3 chủng virus viêm gan vịt nhợc độc: