Lời mở đầu
I/ Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam trước khi gia nhập WTO
(*) Thực trạng và hạn chế
II/ Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
1.Những thay đổi trong cơ cấu hàng xuất nhập khẩu sau khi gia nhập
a) Hàng xuất khẩu
b) Hàng nhập khẩu
2.Những thành tựu đạt được
3.Những hạn chế
a)Với hàng xuất khẩu
b)Với hàng nhập khẩu
III/Tác động của hội nhập tới khả năng mở rộng thị trường của những
ngành có lợi thế so sánh
1.WTO và những ngành có lợi thế so sánh
2.Tác động của hội nhập tới khả năng mở rộng thị trường của những ngành
này
IV/Những giải pháp phát triển ngoại thương sau khi VN gia nhập WTO
Kết Luận
LỜI MỞ ĐẦU
Hội nhập kinh tế quốc tế là xu hướng tất yếu,con đường để đưa lại sự
phồn thịnh cho các quốc gia.Hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang diễn ra dù
có chủ định hay tự phát.Việt Nam cũng vậy. Việt Nam cũng như bất kỳ nước
nào khác muốn gia nhập WTO đều phải trải qua một trình tự có chăng chỉ là
khác nhau về thời gian thực hiện trình tự. Thời gian dài hay ngắn thuộc vào
nước xin gia nhập và các thành viên khác của WTO đàm phán với nhau ra
sao, chấp nhận những nhượng bộ nhau như thế nào.
Ngày 1/1/1995 Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO. WTO tiếp
nhận đơn xin gia nhập của Việt Nam và Việt Nam trở thành quan sát viên của
lớn, nhất là thu gom hàng hoá,vận tải,tiêu cực phí ở khâu vận tải và thủ tục
hải quan
II/ Cỏ cấu hàng hoá XNK của Việt Nam sau khi gia nhập WTO
1. Những thay đổi về cơ cấu
a)Về xuất khẩu
- Gia nhập WTO làm cơ cấu sản xuất chuyển dịch theo hướng: gia tăng
quy mô sản xuất của các ngành sử dụng nhiều lao động,đòi hỏi ít vốn đầu
tư,phát huy được lợi thế so sánh của Việt Nam
- Các ngành mở rộng sản xuất mạnh nhất do gia nhập WTO: may
mặc(16%),điện tử(8.4%),giày(2.43%),sản xuất máy móc(1%)
- Một số ngành quy mô sản xuất bị thu hẹp do gia nhập WTO nhưng tác
động không lớn.Những ngành thu hẹp sản xuất nhất là: Lâm sản(-2%),gỗ và
sản phẩm từ gỗ(-1.82%),hoá chất(-1.33%)…
-Tăng trưởng xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào tăng trưởng kinh tế thế
giới. Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục có sự chuyển biến về chất, chuyển dần từ
hàng nguyên liệu thô sang hàng chế biến. Thị trường xuất khẩu cũng được đa
dạng hóa và giúp Việt Nam ít phụ thuộc hơn vào sự biến động của từng nước
bạn hàng. Tỷ trọng của các mặt hàng nông sản và khai khóang trong tổng giá
trị xuất khẩu giảm và tăng tỷ trọng của các sản phẩm chế tạo
b)Về nhập khẩu
- Trong cơ cấu nhập khẩu, máy móc thiết bị và nguyên vật liệu vẫn
chiếm tỷ trọng lớn. Tuy nhiên, đã có những dấu hiệu cho thấy tỷ trọng của
hàng tiêu dùng đang tăng lên. Việt Nam vẫn nhập chủ yếu hàng hóa từ các
nước Đông Nam và Trung Quốc. Điều này có thể ảnh hưởng đến khả năng
cạnh tranh của Việt Nam trong tương lai khi hàng nhập chủ yếu là máy móc
và nguyên vật liệu.
- Nhập siêu tăng mạnh là vấn đề làm đau đầu các nhà quản lý. Do tốc
độ tăng nhập khẩu cao gấp rưỡi tốc độ tăng xuất khẩu, nên nhập siêu đã gia
tăng so với cùng kỳ năm trước cả về kim ngạch tuyệt đối (12,45 tỷ USD so
với gần 5,1 tỷ USD) và cả về tỷ lệ so với xuất khẩu (25,6% so với 12,7%)…
hoảng. Đến năm 1999, một lần nữa, công nghiệp – dịch vụ đều chựng lại, chỉ
có nông nghiệp tăng trưởng tốt nên đã cứu được nền kinh tế đang bên bờ vực
khủng hoảng.
- Tuy giá các mặt hàng chủ đạo như gạo, cà phê, hạt điều, hạt tiêu, cao
su, thủy sản không đạt cao như 6 tháng đầu năm 2008 nhưng sẽ ổn định ở
mức cao trong thời gian tới và lượng xuất khẩu có khả năng vượt hơn dự kiến,
trong đó riêng gạo có thể đạt trên 5 triệu tấn.Nhóm hàng này ước tính sẽ
chiếm tỷ trọng hơn 19% tổng kim ngạch xuất khẩu.
-Cà phê xuất khẩu cũng gặp thuận lợi về thị trường, giá tăng từ 800 đến
1000 USD/tấn, nên đây là năm đầu tiên kim ngạch cà phê vượt gạo. Dù ảnh
hưởng của bão lụt khiến đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản bị thiệt hại, song trên
toàn cục, bức tranh xuất khẩu thuỷ sản vẫn sáng sủa, vì đã tạo được chỗ đứng
trên thị trường của EU, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan, Hồng Kông... , có giá cao
và năng lực chế biến tăng. Xuất khẩu hạt điều tiếp tục khẳng định ngôi vị cao
nhất, có mặt trên 40 thị trường, trong đó lượng cung vào Hoa Kỳ, Trung
Quốc, EU, Nhật Bản và Trung Đông đều tăng, riêng thị trường Hoa Kỳ tăng
tới 33%, giá cũng tăng hơn khoảng 190 USD/tấn. Từ chỗ chúng ta chỉ chế
biến từ hạt điều thô thu gom nội địa, nay phải nhập khẩu thêm hạt điều thô để
chế xuất cho đủ công suất các dây chuyền chế biến và còn xuất khẩu cả công
nghệ chế biến hạt điều, nên càng làm cho hình ảnh mặt hàng này thêm ấn
tượng
-Do mất cân đối gay gắt cung - cầu về gạo trên thị trường thế giới, trong
khi chất lượng gạo của ta được cải thiện nhờ tiến bộ trong gieo trồng, bảo
quản và xay sát, nên chỉ 11 tháng đầu năm đã đạt mục tiêu xuất khẩu năm.
Lần đầu tiên gạo xuất khẩu của Việt Nam vươn lên ngang giá với gạo Thái
Lan, thậm chí có chủng loại còn trúng thầu với giá cao hơn. Gạo Việt Nam đã
xuất khẩu sang hơn 70 quốc gia và vùng lãnh thổ, kể cả EU, Hoa Kỳ, Nhật
Bản - là những thị trường có yêu cầu khắt khe
- Nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản đạt khoảng 13 tỷ USD trong
năm 2008, chiếm hơn 21% tổng kim ngạch xuất khẩu.Tốc độ tăng trưởng của
còn hay không, tâm lý khách hàng sẽ vững tâm hơn khi làm ăn với các nhà
sản xuất VN. Tư thế của các DN VN cũng sẽ khác khi đàm phán với các nhà
nhập khẩu nước ngoài, chúng ta sẽ đỡ lép vế hơn, đỡ bị ép giá hơn... Mặt
khác, thuế nhập khẩu có thể sẽ giảm, hàng hóa của VN sẽ dễ vào Mỹ hơn, các
hình thức rào cản thương mại khác được tháo dỡ".Việt Nam vào WTO, DN
được lợi nhiều nhưng cạnh tranh sẽ gay gắt hơn. Kinh doanh nội địa cả ngành
dệt may lẫn ngành giày da sẽ được lợi vì thuế nhập khẩu nguyên, phụ liệu sẽ
giảm trong khi nguồn cung cấp sẽ phong phú hơn. Chi phí các dịch vụ viễn
thông, điện, nước sẽ giảm nên sức cạnh tranh cho các sản phẩm dệt may và