nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 9Đỗ NGân bình *
ải thiện điều kiện lao động và ngăn chặn
tai nạn lao động là một trong những chính
sách lớn của Đảng và Nhà nớc ta. Chính sách
này thể hiện rõ nét qua các quy định của Bộ
luật lao động năm 1994 (BLLĐ). BLLĐ đ
khẳng định quyền và nghĩa vụ của ngời lao
động và ngời sử dụng lao động trong vấn đề
cải thiện điều kiện lao động, hạn chế tai nạn
lao động, bệnh nghề nghiệp, đảm bảo cho
ngời lao động yên tâm sản xuất, tăng cờng
sức khoẻ và thể lực, nhằm phát huy cao nhất
nguồn nhân lực của đất nớc. BLLĐ còn quy
định khi ngời lao động bị tai nạn lao động,
tuỳ theo mức độ thơng tật họ còn nhận đợc
trợ cấp từ quỹ bảo hiểm x hội, nhận bồi
thờng và các chi phí về y tế từ phía ngời sử
dụng lao động.
Tuy nhiên, từ khi nớc ta chuyển sang nền
kinh tế thị trờng với sự tồn tại của nhiều
thành phần kinh tế, trong thời kì đầu công
nghiệp hoá, hiện đại hoá thì xu hớng tăng
nhanh của tai nạn lao động đ và đang đặt ra
nhiều vấn đề bức xúc, trong đó có việc đảm
bảo thực hiện chính sách bồi thờng và trợ cấp
động xảy ra trong thực tiễn.
Điều 15 Điều lệ bảo hiểm x hội ban hành
kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26/1/1995
đ quy định cụ thể các trờng hợp tai nạn đợc
hởng trợ cấp tai nạn lao động bao gồm:
- Bị tai nạn trong giờ làm việc, tại nơi làm
việc, kể cả làm việc ngoài giờ do yêu cầu của
ngời sử dụng lao động.
- Bị tai nạn ngoài nơi làm việc khi thực
hiện công việc theo yêu cầu của ngời sử dụng
lao động.
- Bị tai nạn trên tuyến đờng đi và về từ
nơi ở đến nơi làm việc.
Nh vậy, ngoài trờng hợp bị tai nạn lao
động tại nơi làm việc, trong giờ làm việc, luật
lao động còn cho phép coi các trờng hợp bị
tai nạn khi đang trên đờng đi và về từ nơi ở
đến nơi làm việc do nguyên nhân khách quan
nh gặp thiên tai, hoả hoạn hoặc các trờng
hợp rủi ro khác là tai nạn lao động và đợc
hởng chế độ nh đối với các tai nạn lao động
trong giờ làm việc, tại nơi làm việc
Về chế độ đối với ngời bị tai nạn lao
động, pháp luật hiện nay quy định ngời lao
động khi bị suy giảm khả năng lao động do tai
nạn lao động sẽ đợc hởng các quyền lợi sau:
1. Đợc ngời sử dụng lao động trả các
khoản chi phí y tế và điều trị bệnh từ khi sơ
cứu, cấp cứu cho đến khi điều trị ổn định
C
nặng, hàng tháng đợc phụ cấp phục vụ bằng
80% mức tiền lơng tối thiểu (Điều 19 Điều lệ
bảo hiểm x hội).
5. Ngời bị tai nạn lao động làm tổn
thơng các chức năng hoạt động của chân, tay,
tai, mắt, răng, cột sống đợc trang cấp
phơng tiện trợ giúp cho sinh hoạt phù hợp với
các tổn thất chức năng theo niên hạn (Điều 20
Điều lệ bảo hiểm x hội).
6. Ngoài ra nếu ngời lao động bị suy giảm
từ 81% khả năng lao động trở lên hoặc bị chết
thì ngời sử dụng lao động phải bồi thờng
cho ngời lao động hoặc thân nhân ngời lao
động ít nhất 30 tháng lơng nếu tai nạn lao
động không do lỗi của ngời lao động; trờng
hợp do lỗi của ngời lao động thì họ cũng đợc
trợ cấp 1 khoản tiền ít nhất bằng 12 tháng
lơng (khoản 3 Điều 107 BLLĐ). Trờng hợp
ngời lao động chết khi bị tai nạn lao động (kể
cả chết trong thời gian điều trị lần đầu) thì gia
đình đợc trợ cấp một lần bằng 24 tháng tiền
lơng tối thiểu, khoản tiến này do bảo hiểm x
hội chi trả (Điều 22 Điều lệ bảo hiểm x hội).
Nhìn chung, chính sách hiện hành liên
quan đến vấn đề bồi thờng cho ngời bị tai
nạn lao động đ bù đắp phần nào những rủi ro
cho ngời lao động, góp phần tăng cờng trách
nhiệm của ngời sử dụng lao động trong việc
phòng ngừa tai nạn lao động và để tránh những
tổn thất do việc bồi thờng tai nạn lao động
coi là tai nạn lao động.
Theo chúng tôi, nên bổ sung vào Điều 15
Điều lệ bảo hiểm x hội quy định nh sau: "Bị
tai nạn trên đờng đi và về từ nơi ở đến nơi
làm việc mà nguyên nhân tai nạn có liên quan
đến quá trình lao động".
Thứ hai, trong trờng hợp ngời lao động
bị tai nạn lao động mà mất sức lao động từ 5%
trở lên thì đợc hởng trợ cấp tai nạn lao động
theo quy định tại Điều 17 Điều lệ bảo hiểm x
hội do quỹ bảo hiểm x hội chi trả. Nếu doanh
nghiệp cha đóng bảo hiểm cho ngời lao
động thì doanh nghiệp đó phải trả cho ngời
lao động khoản trợ cấp ngang với mức quy nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 11
định tại Điều lệ bảo hiểm x hội (khoản 2 Điều
107 BLLĐ).
Quy định trên có thể thực hiện dễ dàng
trong trờng hợp ngời lao động bị mất sức
khoẻ do tai nạn lao động từ 5 -30% và do vậy
đợc hởng trợ cấp một lần theo quy định tại
khoản 1 Điều 17 Điều lệ bảo hiểm x hội.
Nhng trong trờng hợp ngời lao động mất
sức lao động từ 31% trở lên và đợc hởng trợ
cấp hàng tháng theo khoản 2 Điều 17 Điều lệ
bảo hiểm x hội thì việc bồi thờng của doanh
nghiệp cho ngời lao động gặp vớng mắc nh
bảo hiểm x hội vì thực tế nguồn thu của quỹ
này khá lớn và khoản chi trả không đáng kể,
do đó vẫn có thể tăng mức trợ cấp cho ngời
lao động bị tai nạn lao động mà không cần
đóng thêm tiền vào quỹ bảo hiểm x hội.
- Những ngời theo quan điểm thứ hai thì
lại cho rằng việc tăng thêm tiền đóng góp vào
quỹ này là cần thiết vì khoản trợ cấp mà ngời
lao động bị tai nạn lao động nhận đợc từ quỹ
bảo hiểm x hội theo mức quy định hiện nay là
quá thấp.
Tuy nhiên, vấn đề chính không phải là việc
tăng hay giảm mức đóng góp vào quỹ bảo
hiểm x hội cho bảo hiểm về tai nạn lao động
mà vấn đề chính ở đây là sử dụng quỹ này.
Nếu chỉ đơn thuần chi trả cho ngời lao động
bị tai nạn lao động thì chỉ hạn chế khó khăn
cho ngời lao động khi rủi ro xảy ra chứ không
có tác dụng ngăn chặn tai nạn lao động. Nếu
quỹ này đợc đầu t trở lại cho việc cải thiện
điều kiện lao động nó sẽ góp phần làm giảm
tai nạn lao động và khi tai nạn lao động giảm
thì khả năng chi trả sẽ cao hơn mà không cần
tăng nguồn vốn đóng góp. Nhng hiện nay
việc đòi hỏi đầu t trở lại là không thể thực
hiện đợc vì mục tiêu của quỹ này không bao
gồm vấn đề đầu t trở lại để cải thiện điều kiện
làm việc cho ngời lao động.
Rõ ràng chính sách hiện thời về an toàn vệ
sinh lao động nói chung và bồi thờng tai nạn