nghiên cứu - trao đổi
50 - Tạp chí luật học ThS. Phạm Thị Giang Thu *
Nguyễn Ngọc Lơng
hị trờng chứng khoán Việt Nam đ tròn
một năm tuổi, đây là giai đoạn có ý
nghĩa quan trọng cho việc định hình loại thị
trờng bậc cao này ở Việt Nam. Để các chủ
thể tham gia vào thị trờng hiệu quả và đúng
pháp luật, hoạt động t vấn đầu t chứng
khoán đợc hiểu là hoạt động chứng khoán
không thể thiếu tại thị trờng. Cũng nh một
số hoạt động chứng khoán khác đang tồn tại
theo quy định hiện hành, hoạt động t vấn
đầu t chứng khoán mặc dù đ đợc các chủ
tổng công ti, họ còn có nhiệm vụ huy động
vốn từ bên ngoài doanh nghiệp hoặc giúp các
doanh nghiệp thành viên huy động vốn từ
bên ngoài. Trong trờng hợp doanh nghiệp
thành viên có nhu cầu phát hành chứng
khoán ra công chúng, nhiệm vụ của công ti
tài chính không loại trừ việc t vấn cho nhà
phát hành. Ví dụ, công ti tài chính bu điện
có thể t vấn cho công ti cổ phần cáp mà
không cần tới hoạt động của các công ti
chứng khoán. Trong trờng hợp các công ti
thành viên có nhu cầu đầu t chứng khoán,
họ cũng có thể nhận t vấn từ công ti tài
chính này. Nếu so sánh dịch vụ mà tổ chức
tín dụng nêu trên cung cấp và dịch vụ do các
công ti chứng khoán cung cấp còn nhiều vấn
đề cần xem xét. Thứ nhất, về chi phí phải trả
thì chi phí phải trả cho công ti tài chính
thành viên chắc chắn thấp hơn nhiều so với
công ti chứng khoán (vì đây chính là lợi ích
đợc đặt ra khi thành lập công ti tài chính
nằm trong các tổng công ti). Thứ hai, về chất
T
* Giảng viên Khoa pháp luật kinh tế
Trờng đại học luật Hà Nội nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 51
hiện nay thì cha có công ti quản lí quỹ nào
đợc thành lập (do nhiều nguyên nhân khách
quan khác nhau trong đó không thể không
tính tới hệ thống pháp luật về chứng khoán
và thị trờng chứng khoán cũng nh tâm lí
của dân c), số lợng các công ti chứng
khoán còn rất khiêm tốn. Vì vậy, nên chăng
pháp luật cho phép đối tợng là một số loại
tổ chức tín dụng (cụ thể ở đây là các công ti
tài chính và ngân hàng thơng mại) cũng có
thể đợc thực hiện t vấn đầu t chứng
khoán sẽ giải quyết đợc các vấn đề nêu
trên. Kiến nghị này có lẽ không đồng nhất
với quan điểm khi ban hành Luật tổ chức tín
dụng. Một lí do khi thông qua Luật tổ chức
tín dụng không cho phép các tổ chức tín
dụng kinh doanh chứng khoán trực tiếp nhằm
tránh tình trạng san sẻ rủi ro trong kinh
doanh chứng khoán với rủi ro trong kinh
doanh ngân hàng. Tuy nhiên, theo quan điểm
chúng tôi, hoạt động t vấn đầu t chứng
khoán cũng giống nh việc cung cấp các
dịch vụ có "hàm lợng tri thức" cao khác,
yêu cầu về kiến thức, kĩ năng chuyên môn và
đạo đức nghề nghiệp đợc đặt lên hàng đầu
chứ không phải yêu cầu về vốn; rủi ro xảy ra
đối với t vấn đầu t chứng khoán là rủi ro
về uy tín mà không phải lúc nào cũng là rủi
ro về vật chất.
2. Về nội dung t vấn
52 - Tạp chí luật học
các chuyên gia có thể cung cấp cho khách
hàng, trách nhiệm của ngời t vấn đối với
nội dung t vấn của mình, điều kiện của
ngời thực hiện t vấn đầu t, căn cứ để t
vấn đầu t Đây là mảng pháp luật hầu nh
còn bỏ ngỏ đối với hoạt động kinh doanh này
trong khi đó hoạt động t vấn đầu t đ đợc
tiến hành trong thực tế. Về nguyên tắc, các
chủ thể tiến hành kinh doanh bao giờ cũng
có trình độ chuyên môn, khả năng phân tích
tốt nên nếu không có những quy định nh
chúng tôi đ đề cập thì không thể đảm bảo
quyền lợi cho ngời đầu t đợc. Một khía
cạnh đợc giới luật gia nghiên cứu về thị
trờng chứng khoán quan tâm là nội dung về
t vấn đầu t chứng khoán nh vậy có bao
gồm t vấn pháp lí liên quan đến chứng
khoán? Chẳng hạn, một số vấn đề nh quyền
và nghĩa vụ của chủ sở hữu chứng khoán, tỉ
lệ nắm giữ chứng khoán của các tổ chức và
cá nhân, tranh chấp và giải quyết tranh chấp
phát sinh liên quan tới ngời đầu t chứng
khoán Theo cách hiểu hiện nay về t vấn
đầu t chứng khoán thì hoạt động này dờng
nh chỉ liên quan đến t vấn đầu t tài chính
đối với chứng khoán mà không chu diên
(mặc dù ở phạm vi rất khái quát) tới loại hình
kinh doanh dịch vụ đặc biệt này. Nhng nếu
cùng với khách hàng có đợc hành lang pháp
lí cần thiết để bảo vệ quyền lợi của mình và
đảm bảo tính minh bạch của thị trờng. Vì
vậy, theo ý kiến chúng tôi, cần sớm phải làm
rõ nội dung t vấn đầu t chứng khoán bằng
các văn bản pháp luật.
3. Về phạm vi t vấn
Hiện nay có một số tác giả cho rằng
hoạt động t vấn đầu t chứng khoán chỉ
thực hiện đối với trờng hợp chứng khoán
đợc phát hành ra công chúng.
(10)
Theo quan
điểm của chúng tôi, hoạt động t vấn đầu t
chứng khoán có thể áp dụng đối với cả
trờng hợp phát hành ra công chúng và phát
hành riêng lẻ. Nhà đầu t cũng nh nhà phát
hành, không phân biệt đối với trờng hợp
phát hành ra công chúng hay phát hành riêng
lẻ đều có nhu cầu huy động vốn và sử dụng
vốn với hiệu quả cao nhất trong khuôn khổ nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học - 53
cho phép của pháp luật. Với lí do nh vậy, họ
luôn cần tới dịch vụ t vấn đầu t chứng
khoán. Cũng có thể hiểu hoạt động t vấn
đầu t chứng khoán là hoạt động mang tính
thời gian liên tục, t vấn với những cam kết
chắc chắn Những hành vi kể trên có thể
gây ra những biến động giá trên thị trờng
không xuất phát từ chính nhu cầu thị trờng,
ảnh hởng nghiêm trọng tới quyền lợi của
các nhà đầu t ngay tình. Pháp luật các nớc
có thể đa ra những quy định rất cụ thể,
thậm chí áp dụng tiền kí quỹ đối với tổ chức
t vấn đầu t và đối với ngay chuyên gia t
vấn. Đây chính là biện pháp đảm bảo trong
chừng mực nhất định đối với chất lợng t
vấn, thực hiện đúng các giới hạn của pháp
luật.
(Xem tiếp trang 65)
(1), (2).Xem: Điều 29, 30 Nghị định số 48/1998/NĐ-
CP ngày 11/7/1998.
(3).Xem: Điều 11, Quy chế về tổ chức hoạt động của
quỹ đầu t chứng khoán và công ti quản lí quỹ. (Ban
hành kèm theo Quyết định số 05/1998/QĐ-UBCK3
ngày 13/10/1998 của chủ tịch Uỷ ban chứng khoán
Nhà nớc.
(4).Xem: Nghị định số 48/1998/NĐ-CP ngày
11/7/1998.
(5).Xem: Luật tổ chức tín dụng 1997.
(6).Xem: Khoản 11 Điều 2 Nghị định số 48/1998/NĐ-
CP ngày 11/7/1998.
(7).Xem: Thông t 01/2000/TT-UBCK1 ngày
17/4/2000 của Uỷ ban chứng khoán Nhà nớc hớng
dẫn tạm thời chế độ thu phí đối với khách hàng của