1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI: “Định hướng phát triển nội dung
lý luận về quản lý nhà nước ở nước ta.” 2
LỜI MỞ ĐẦU
Có thể nói, trong thời đại ngày nay, cải cách hành chính cũng là một vấn
đề toàn cầu mang tính đa dạng, đa chiều, nhưng lại không có một lời giải
chung nào cho tất cả các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, để thúc đẩy công cuộc
cải cách hành chính, chúng ta phải tự xây dựng một hệ thống lý luận phù hợp
với hoàn cảnh nước ta, có tính hiệu lực và tính khả thi cao. Một hệ thống lý
4
I. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA
1. Khái niệm
-Thủ tục hành chính:
Là cách thức tổ chức thực hiện hoạt động quản lý hành chính nhà nớc đ-
ợc quy định trong các quy phạm pháp luật hành chính bao gồm:trình tự,nội
dung,mục đích ,cách thức tiến hành các hoạt động cụ thế trong quá trình giải
quyết các công việc của quản lý hành chính nhà nớc
Hệ thống các quy định thủ tục hành chính
Hiện nay, vấn đề cải cách thủ tục hành chính được xác định là một
nhiệm vụ trọng tâm, then chốt song rất phức tạp. Từ góc độ thực tiễn, vấn đề
này mặc dù được Đảng, nhà nước và đặc biệt là Chính phủ rất quan tâm chỉ
đạo, chỉ đạo quyết liệt song hiệu quả thu lại chưa cao vì những nguyên nhân
sau đây:
Thứ nhất Việt Nam là một trong rất ít những quốc gia ban hành văn bản
đã không tách riêng biệt các quy định mang tính nội dung với những quy định
về thủ tục. Đa số, những quy định về thủ tục đều nằm rải rác, xen lẫn với các
quy định nội dung. Nguyên nhân này, dẫn đến "hậu quả" là ngay chính cán
bộ, công chức quản lý về lĩnh vực, ngành mình phụ trách cũng khó lòng mà
biết được khi giải quyết công việc của mình cần bao nhiêu hồ sơ, thủ tục,
huống hồ là người dân.
Thứ hai, ngoài việc chưa phân tách những quy định về thủ tục với quy
định nội dung, do một thời gian dài chúng ta chưa có quy định nào quy định
cơ quan, cấp nào có thẩm quyền ban hành thủ tục hành chính (Quyết định số
5
181/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ quy định về cơ chế "một cửa"
huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và sự tham gia của mọi người
dân vào tiến trình phát triển của đất nước.
- Cải cách hành chính nói chung, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính
phải bảo đảm tạo thuận lợi nhất cho nhân dân, doanh nghiệp và góp phần tích
cực chống quan liêu, phòng và chống tham nhũng lãng phí.
- Xây dựng tổ chức bộ máy hành chính tinh gọn, xác định rõ chức năng,
nhiệm vụ, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp chính
quyền, giữa chính quyền đô thị và chính quyền nông thôn, giữa tập thể và
người đứng đầu cơ quan hành chính; hoạt động có kỷ luật, kỷ cương và nâng
cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước.
- Cải cách hành chính phải đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ cán bộ,
công chức có phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần
trách nhiệm và tận tụy phục vụ nhân dân.
- Cải cách hành chính phải hướng tới xây dựng một nền hành chính hiện
đại, ứng dụng có hiệu quả thành tựu phát triển của khoa học - công nghệ, nhất
là công nghệ thông tin
Nền hành chính nhà nước còn nhiều hạn chế, yếu kém. Hệ thống thể
chế, pháp luật, nhất là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
vẫn còn nhiều bất cập, vướng mắc. Chức năng, nhiệm vụ của một số cơ quan
trong hệ thống hành chính nhà nước chưa đủ rõ, còn trùng lặp và chưa bao
quát hết các lĩnh vực quản lý nhà nước; cơ cấu tổ chức bộ máy còn cồng
kềnh, chưa phù hợp. Chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức chưa đáp ứng kịp
yêu cầu; tình trạng quan liêu, lãng phí còn nghiêm trọng. Thể chế, luật pháp
về quản lý tài chính công tuy có nhiều đổi mới, nhưng còn bất cập. Thủ tục
hành chính còn nhiều vướng mắc, gây phiền hà cho tổ chức và công dân; kỷ
7
luật, kỷ cương cán bộ, công chức chưa nghiêm; hiệu lực, hiệu quả của quản lý
nhà nước còn nhiều yếu kém.
Nguyên nhân chủ yếu của các hạn chế, yếu kém, là:
Chính quyền cơ sở cấp xã "vừa nhỏ" lại vừa yếu. Sự nhỏ bé của chính
quyền cơ sở cấp xã phản ánh ở các nghĩa về thẩm quyền và tổ chức bộ máy.
Với quy mô tổ chức bộ máy chỉ ngang bằng với một phòng chuyên môn của
cấp huyện, trong đó đã chiếm gần một nửa là lãnh đạo thì khả năng giải quyết
công việc, hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở cấp xã chắc chắn không
thể đáp ứng yêu cầu đề ra. Bên cạnh đó, sự bất cập về trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cũng như những bảo đảm cho việc hình thành "nguồn" công chức
cấp xã đã và đang là những cản trở "vô hình" tới công cuộc cải cách hành
chính ở nước ta, là minh chứng cụ thể về tính không đồng bộ trong tổ chức bộ
máy và phân định chức năng, thẩm quyền của các cấp chính quyền địa
phương.
Công tác tổ chức bộ máy của hệ thống chính quyền địa phương
Hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước với tổ chức, công dân căn cứ chủ
yếu vào năng lực thực hiện, hoạt động của chính quyền địa phương mà chủ
yếu là của chính quyền cơ sở cấp xã. Tuy nhiên, vấn đề bất cập hiện nay ở
nước ta đó là chính quyền cơ sở cấp xã "vừa nhỏ" lại vừa yếu. Sự nhỏ bé của
chính quyền cơ sở cấp xã phản ánh ở các nghĩa về thẩm quyền và tổ chức bộ
máy. Với quy mô tổ chức bộ máy chỉ ngang bằng với một phòng chuyên môn
của cấp huyện, trong đó đã chiếm gần một nửa là lãnh đạo thì khả năng giải
quyết công việc, hiệu quả quản lý của chính quyền cơ sở cấp xã chắc chắn
không thể đáp ứng yêu cầu đề ra. Bên cạnh đó, sự bất cập về trình độ chuyên
9
môn nghiệp vụ cũng như những bảo đảm cho việc hình thành "nguồn" công
chức cấp xã đã và đang là những cản trở "vô hình" tới công cuộc cải cách
hành chính ở nước ta, là minh chứng cụ thể về tính không đồng bộ trong tổ
chức bộ máy và phân định chức năng, thẩm quyền của các cấp chính quyền
địa phương.
Đã đến lúc chúng ta cần xem xét đúng mực về chức năng, thẩm quyền
cấp lẫn "người nhận phân cấp. Ngoài ra, vấn đề phân cấp cần thực hiện ở một
số ngành, lĩnh vực nhất định và ở một số phạm vi, dành cho từng chủ thể nhất
định (khi đủ điều kiện, cơ sở). Trong trường hợp ngành, địa phương được
phân cấp, ủy quyền không bảo đảm những điều kiện, cơ sở cho việc tiếp nhận
nhiệm vụ, quyền hạn thì cấp có thẩm quyền có thể tạm thời "hoãn" việc phân
cấp, ủy quyền.
II. PHÁP LUẬT VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
1.Nghị quyết số 53/2007/NQ-CP ngày 07/11/2007 của chính phủ ban
hành chơng chình hành động của chính phủ thực hiện nghị quyết lần thứ 5
ban chấp hành trung ơng đảng khoá 10 về đẩy mạnh cải cách hành chính
,nâng cao hiệu lực ,hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nớc.
2.Nghị quyết hội nghị lần thứ 8 ban chấp hành trung ơng đảng(khoá
7)23/1/1995 về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện nhà nớc Cộng Hoà Xã Hội
Chủ Nghĩa Việt Nam, trọng tâm là cải cáchnền hành chính quốc gia.
Văn kiện đại biểu toàn quốc lần thứ 8(28/6-1/7/1996) báo cáo chính trị
của ban chấp hành trung ơng đảng tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 8.
11
3.Nghị định số 20/2008/NĐ-CP ngày 14/2/2008 của chính phủ về tiếp
nhận xử lý, phản ánh kiến nghị của cá nhân, tổ chức về quy định hành
chính.Nghị định số 13/2008/NĐ-CP ngày 04/02/2008 của chính phủ quy định
tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh ,thàn phố thực thuộc trung
ơng
4.Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 1/8/2007 hội nhgị lần thứ 5 ban chấp
hành trung ương khoá 10 về đây mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực
quản lý của bộ máy nhà nớc.
5.Nghị quyết hội nghị lần thứ 3 ban chấp hành trung ơng Đảng (khoá 8)
18/6/1997 phát huy quyền làm chủ của nhân dân,tiếp tục xây dựng nhà nớc
Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam trong sạch vững mạnh
6.Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành trung ơng Đảng (khoá 8)
nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hành động xâm
phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
- Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa
các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư
pháp.
- Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong tổ chức và hoạt động của
Nhà nước.
- Tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp
quyền Việt Nam. Quản lý xã hội bằng pháp luật, đồng thời coi trọng giáo dục,
nâng cao đạo đức.
- Tăng cường vai trò lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước.
13
1. Cải cách thể chế
- Xây dựng và hoàn thiện các thể chế, trước hết là thể chế kinh tế của
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức và hoạt
động của hệ thống hành chính nhà nước.
- Đổi mới quy trình xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật
- Bảo đảm việc tổ chức thực thi pháp luật nghiêm minh của cơ quan nhà
nước, của cán bộ, công chức.
- Tiếp tục cải cách thủ tục hành chính
2. Cải cách tổ chức bộ máy hành chính
- Điều chỉnh chức năng, nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương các cấp cho
phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước trong tình hình mới.
- Từng bước điều chỉnh những công việc mà Chính phủ, các bộ, cơ quan
ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương đảm nhận để
khắc phục những chống chéo, trùng lắp về chức năng, nhiệm vụ. Chuyển cho
các tổ chức xã hội, tổ chức phi Chính phủ hoặc doanh nghiệp làm những công
trọng bàn bạc tập thể, đồng thời đề có trách nhiệm và quyền hạn cá nhân của
người đứng đầu Chính phủ, đứng đầu bộ trong quản lý và điều hành.
- Xác định lại chức năng, nhiệm vụ của cấp tỉnh, huyện, xã để sắp xếp lại
tổ chức của mỗi cấp; đề cao quyền chủ động và trách nhiệm của địa phương,
15
đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của nhà nước trung ương. Xây dựng
chính quyền cấp xã, phường vững mạnh.
- Tăng cường hiệu lực của các cơ quan bảo vệ pháp luật. Đổi mới hệ
thống tổ chức và hoạt động của Viện Kiểm sát nhân dân và Toà án nhân dân.
Bảo đảm các điều kiện và phương tiện cần thiết để các cơ quan bảo vệ pháp
luật làm tốt nhiệm vụ.
- Kiên quyết sắp xếp lại tổ chức và tinh giản biên chế các cơ quan hành
chính, sự nghiệp ngay từ năm 1991, làm cho bộ máy gọn nhẹ và hoạt động có
hiệu quả. Sớm ban hành quy chế viên chức nhà nước. Xây dựng đội ngũ viên
chức nhà nước có phẩm chất chính trị, tinh thần trách nhiệm cao và thành thạo
nghiệp vụ.
- Tiếp tục tiến hành kiên quyết và thường xuyên cuộc đấu tranh chống tệ
tham nhũng. Phương hướng cơ bản để khắc phục tệ tham nhũng là phải xây
dựng và hoàn chỉnh bộ máy, cơ chế quản lý và pháp luật; xử lý nghiêm minh
những người vi phạm, đồng thời tăng cường giáo dục tư tưởng, quản lý chặt
chẽ nội bộ”.
IV.chủ trương biện pháp chủ yếu để thực hiện cải cách hành
chính
1. Chủ chương ,biện pháp
1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành
chính
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác cải cách hành chính,
bảo đảm cải cách hành chính thành công. Sự lãnh đạo của Đảng đối với công
tác cải cách hành chính thể hiện chủ yếu ở các nội dung sau:
quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và chức năng giám sát tối cao
của Quốc hội.
Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm
pháp luật, đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước; khắc phục nhanh tình trạng ban
hành luật khung, hạn chế tối đa luật phải chờ văn bản hướng dẫn thi hành.
Khắc phục tình trạng ban hành luật với những vấn đề chưa đủ rõ và khó
hướng dẫn thực hiện. Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải được đề
cao, phải được bảo đảm chấp hành nghiêm chỉnh trong thực tiễn của đời sống
xã hội và thông qua hoạt động lập pháp và giám sát của Quốc hội.
Các văn bản pháp luật ban hành phải quán triệt tinh thần đẩy mạnh cải
cách hành chính; quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm, thẩm quyền
của các cơ quan trong bộ máy nhà nước; hạn chế tối đa việc quy định về tổ
chức bộ máy ngay trong các luật chuyên ngành và quy định thủ tục hành
chính phức tạp, gây phiền hà ngay trong các thể chế pháp luật
Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng
Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội với Chính phủ theo hướng thiết thực, hiệu
quả; xác định rõ cơ chế giám sát của Quốc hội đối với Chính phủ, các bộ, cơ
quan ngang bộ.
- Xây dựng hệ thống cơ quan tư pháp trong sạch, vững mạnh. Đẩy mạnh
việc thực hiện chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 theo tinh thần và nội
dung Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 2-6-2005 của Bộ Chính trị. Tiến hành
cải cách tư pháp khẩn trương, đồng bộ; lấy cải cách hoạt động xét xử làm
trọng tâm; ban hành quy định cụ thể để thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt
động điều tra. Xây dựng cơ chế phán quyết về những vi phạm Hiến pháp
trong hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp.
18
Nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Tòa án nhân dân tối cao và
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính trong
các cơ quan tư pháp; mở rộng thẩm quyền xét xử của toà án đối với các khiếu
của pháp luật sẽ ban hành. Khi đưa ra lấy ý kiến nhân dân phải được chuẩn bị
kỹ, những vấn đề nhạy cảm liên quan đến quan điểm chính trị phải có sự lãnh
đạo, chỉ đạo chặt chẽ của Bộ Chính trị.
4. Tiếp tục đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính
Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột
phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của nhân dân và
doanh nghiệp. Tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh
vực, chỉ rõ những thủ tục, những quy định sai pháp luật, không phù hợp để
kiên quyết sửa đổi. Đây là khâu cản trở sự phát triển và gây nhiều bức xúc
trong nhân dân, cần tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh
vực này.
Các biện pháp chủ yếu để đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính:
- Giảm đầu mối, bỏ cấp trung gian, hình thành bộ quản lý đa ngành, đa
lĩnh vực. Hoàn thiện chức năng nhiệm vụ của Chính phủ, các bộ, cơ quan
thuộc Chính phủ và chính quyền địa phương. Đẩy mạnh vững chắc việc sắp
xếp, đổi mới, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước và xã
hội hoá một số loại hình dịch vụ công cộng.
- Tiếp tục phân cấp mạnh và giao quyền chủ động hơn nữa cho chính
quyền địa phương, nhất là trong việc quyết định về ngân sách, tài chính, đầu
tư, nguồn nhân lực, thực hiện nghĩa vụ tài chính đối với trung ương; đồng thời
20
hoàn thiện thể chế, pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển để
bảo đảm sự quản lý tập trung, thống nhất của Trung ương.
- Tập trung chỉ đạo rà soát và cải cách mạnh mẽ các thủ tục hành chính,
tạo môi trường thuận lợi nhất cho sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và
nhu cầu chính đáng của người dân, như: thành lập, giải thể, phá sản doanh
nghiệp; đăng ký kinh doanh và chứng nhận đầu tư; đầu tư xây dựng công
trình, dự án và nhà ở; quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản; xuất, nhập
khẩu; nộp thuế; hộ tịch, hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu, thị
dung quản lý nhà nước về kinh tế, xã hội cho phù hợp với yêu cầu phát triển.
Tập trung làm tốt hơn việc hoạch định thể chế, cơ chế, chính sách, xây dựng
giải pháp, bảo đảm các cân đối lớn và ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách thủ tục
hành chính, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho các hoạt động kinh tế, xã
hội. Xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và nâng cao năng lực chỉ đạo
tổ chức thực hiện, tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra.
Xây dựng quy chế làm việc của Chính phủ chặt chẽ và thiết thực. Xác
định cụ thể nhiệm vụ của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Phó Thủ
tướng và từng thành viên Chính phủ, bảo đảm bao quát hết các chức năng,
nhiệm vụ của Chính phủ. Xác định rõ phạm vi và nội dung quản lý nhà nước
của cơ quan hành chính nhà nước các cấp.
Đẩy mạnh sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là cổ
phần hoá, kể cả các tổng công ty và tập đoàn kinh tế, thu hẹp và tiến tới các
bộ và ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố không còn thực hiện chức năng đại
diện chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước. Làm rõ chức năng quản lý
nhà nước của cơ quan hành chính và chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các
22
đơn vị sự nghiệp, phân cấp mạnh cho các đơn vị sự nghiệp về sử dụng ngân
sách, kinh phí, tuyển dụng và bổ nhiệm cán bộ.
Từ thực tiễn giải quyết đơn, thư khiếu nại của công dân, nghiên cứu việc
thành lập tài phán hành chính.
Về cơ cấu tổ chức của Chính phủ:
- Tiếp tục hình thành bộ quản lý đa ngành, đa lĩnh vực; giảm phù hợp số
đầu mối các bộ, cơ quan ngang bộ; khắc phục tình trạng bỏ trống hoặc trùng
lặp về chức năng, nhiệm vụ giữa các bộ, ngành; không giữ các cơ quan thuộc
Chính phủ có chức năng quản lý nhà nước; chỉ duy trì một số cơ quan cần
thiết thuộc Chính phủ là đơn vị sự nghiệp.
- Tập trung xây dựng các bộ để làm tốt chức năng chủ yếu là xây dựng
thể chế, luật pháp, cơ chế, chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát
dựng chính quyền của dân, do dân và vì dân, tăng cường công tác giám sát
của cấp uỷ, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể đối với hoạt động của chính
quyền địa phương.
- Tổ chức hợp lý chính quyền địa phương, phân biệt rõ những khác biệt
giữa chính quyền nông thôn và chính quyền đô thị:
+ Đối với chính quyền nông thôn:
Không tổ chức hội đồng nhân dân ở huyện; ở huyện có uỷ ban nhân dân
với tính chất là đại diện của cơ quan chính quyền cấp tỉnh để giải quyết các
nhiệm vụ về hành chính và các công việc liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ
của người dân theo quy định của pháp luật. Uỷ ban nhân dân huyện tập trung
24
chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra cấp dưới thực hiện chủ trương, chính sách, nghị
quyết, kế hoạch của cấp trên. Cơ chế giám sát đối với tổ chức, hoạt động của
uỷ ban nhân dân huyện được thực hiện thông qua hoạt động giám sát của đại
biểu và đoàn đại biểu Quốc hội, hội đồng nhân dân, uỷ ban nhân dân cấp tỉnh,
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể và giám sát trực tiếp của nhân dân. Kiện
toàn cấp uỷ huyện để đáp ứng tốt yêu cầu lãnh đạo toàn diện và lãnh đạo hoạt
động của uỷ ban nhân dân huyện.
Chính quyền xã có hội đồng nhân và uỷ ban nhân dân chịu trách nhiệm
xây dựng và chỉ đạo thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quản lý
ngân sách xã, quản lý nhà nước về các lĩnh vực giáo dục, y tế, đất đai, xây
dựng, hộ tịch trên địa bàn theo quy định của pháp luật. Trên cơ sở chức
năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp xã, xác định cụ thể các chức danh công
chức xã theo hướng ổn định và chuyên sâu về nghiệp vụ.
+ Đối với chính quyền đô thị:
Tổ chức chính quyền đô thị phải bảo đảm tính thống nhất và liên thông
trên địa bàn về quy hoạch đô thị, kết cấu hạ tầng (như điện, đường, cấp thoát
nước, xử lý rác thải, bảo vệ môi trường) và đời sống dân cư
Xác định cấp dân cư đô thị có hội đồng nhân dân: là hội đồng nhân dân
thuộc thẩm quyền quyết định của chủ tịch uỷ ban nhân dân.
Người đứng đầu cơ quan hành chính có trách nhiệm đề xuất, giới thiệu
nhân sự cấp phó và các thành viên của cơ quan hành chính để cấp uỷ có thẩm
quyền xem xét, quyết định, sau đó giới thiệu cho cơ quan dân cử để bầu hoặc
bổ nhiệm và chịu trách nhiệm về việc đề xuất, giới thiệu của mình.
Chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, chủ