Lời mở đầu
Thực hiện đờng lối đổi mới của Nghị quyết Đại Hội Đảng VI, nền kinh tế nớc ta
chuyển biến từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế hàng hoá nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc theo định
hớng XHCN. Lý luận và thực tiễn trong những năm qua đã khẳng định việc đổi
mới đó là hoàn toàn đúng đắn. trong những thành tựu về phát triển kinh tế, xã
hội đã đạt đợc có sự đóng góp không nhỏ của nghành thơng mại, xây dựng nói
chung và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực đó nói riêng, đó là một mắt
xích không thể thiếu đợc trong sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia nào trên
thế giới.
Trong nền kinh tế hiện nay, để có thể trang trải mọi chi phí, đảm bảo có lợi
nhuận tối đa, các doanh nghiệp phải xây dựng cho mình những hớng đi đúng
đắn: tìm đợc những nguồn hàng ổn định, với giá thấp nhất và đẩy mạnh việc
bán với giá hợp lý nhất, đồng thời không ngừng khai thác, tìm kiếm và đẩy
mạnh mở rộng thị trờng. Trong quá trình thực tập tốt nghiệp tại Công ty TNHH
TM và XD Tân Thịnh em nhận thấy rằng: Để thực hiện những điều trên thì xây
dựng kế hoạch ngân sách cho tơng lai của doanh nghiệp đóng một vai trò quan
trọng, có ảnh hởng trực tiếp tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp.
Vì vậy trong đồ án tốt nghiệp của mình em xin trình bày đề tài: Hoạch
định ngân sách năm 2005 tại Công ty TNHH TM và XD Tân Thịnh
Mục đích của đề tài:
- Tìm kiếm cho doanh nghiệp khả năng khai thác thu để thoả mãn chi tiêu
đem lại khoản lợi nhuận.
- Cách thức để kế hoạch hoá kết quả tài chính sẽ thu trong kỳ kinh doanh.
- Giúp doanh nghiệp xây dựng lên cơ sở, căn cứ để điều hành, kiểm tra, đánh
giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của mình.
- Giúp doanh nghiệp khám phá khâu sản xuất đang tiềm ẩn, khả năng để nâng
cao hiệu quả.
-1-
- Giúp doanh nghiệp vạch ra phơng thức, mục tiêu hoạt động của các bộ phận
Trong doanh nghiệp, ngân sách có thể đợc định nghĩa là một bản kế
hoạch thu, chi đợc lợng hoá và đợc chuẩn bị từ trớc cho một thời gian cụ thể.
Ngân sách phải đợc lợng hoá: Điều này có nghĩa là ngân sách phải đợc
biểu thị bằng các con số, thực tế thờng là một số tiền. Một danh sách liệt kê
những gì doanh nghiệp dự tính thực hiện có thể hữu ích, nhng đó không phải là
một bảng ngân sách nếu nó không đợc thể hiện bằng các con số.
-3-
Ngân sách phải đợc chuẩn bị từ trớc: Bảng ngân sách phải đợc lập trớc
thời gian dự định thực hiện ngân sách đó. Các số liệu trong hoặc sau thời gian
thực hiện ngân sách có thể cũng quan trọng, nhng không phải là một phần của
một bảng ngân sách.
Ngân sách phải đợc áp dụng cho một khoảng thời gian cụ thể: bảng
ngân sách đợc lập cho một khoảng thời gian xác định cụ thể ( thờng là một
năm). Một kế hoạch tài chính mở cho tơng lai không có điểm kết thúc không đ-
ợc gọi là bảng ngân sách
Một điều quan trọng là ngân sách không phải là một bảng bao gồm các
số liệu thực tế vì nó liên quan đến những sự việc cha hề xảy ra. Trong quá trình
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tình hình có thể thay đổi
trong khoảng thời gian thực hiện ngân sách, điều này có nghĩa là ngân sách sẽ
không còn chính xác. Cũng giống nh các kế hoạch khác, ngân sách rất ít khi dự
báo hoàn toàn chính xác về tơng lai. Tuy nhiên, ngay cả trong trờng hợp nh vậy,
nó vẫn đóng vai trò định hớng cho những ngời thực hiện và vai trò này rất quan
trọng.
1.1.2 Chức năng của ngân sách.
1.1.2.1 Chức năng phân phối.
Chức năng phân phối là cái vốn có của ngân sách, thông qua chức năng phân
phối, các quỹ tiền tệ nhất định đợc hình thành hoặc đợc sử dụng, đợc chia nhỏ
vì những mục đích nhất định, theo tác dụng hẹp hơn hay rộng hơn.
-4-
1.1.2.2 Chức năng kiểm tra
- Phối hợp hoạt động tốt và đề cao tinh thần tập thể trong doanh nghiệp: quá
trình hoạch định và kiểm soát ngân sách có nghĩa là nhà quản lý ở mọi cấp
độ và ở các bộ phận khác nhau có dịp gặp gỡ, trao đôi, thảo luận và liên kết
các mục tiêu của họ với nhau. Doanh nghiệp sẽ đạt đợc những thành công to
lớn nếu nh tất cả mọi thành viên đều hợp sức lại cho những mục đích chung
thay vì mỗi bộ phận hoạt động một cách ích kỷ để tạo ra vơng quốc của
riêng mình. Sự phối hợp này giúp cho các trởng bộ phận hiểu đợc mỗi hoạt
động của đơn vị mình tác động tới tổng thể nh thế nào, điều này rất cần thiết
cho chính họ cũng nh cho cả doanh nghiệp.
- Trao đổi thông tin: Để thực hiện một ngân sách, mọi ngời cần phỉ biết việc
gì có thể và không thể thực hiện đợc đối với bộ phận mình. Hoạch định ngân
sách sẽ thúc đẩy các cấp quản lý trao đổi với nhau về các chính sách và mục
tiêu của doanh nghiệp. Điều này giúp củng cố tính tập thể, mọi ngời làm
việc vì nhau và vì doanh nghiệp.
- Thống nhất mục tiêu: Nh đã biết, lập kế hoạch là khâu then chốt trong toàn
bộ quá trình hoạch định ngân sách. Sử dụng hệ thống ngân sách đòi hỏi các
nhà quản lý phải đề ra mục tiêu phấn đầu trong tơng lai nhất quán, thay vì
thay đổi mỗi ngày. Nó cũng có nghĩa là các bộ phận khác nhau trong doanh
nghiệp phải cùng nghĩ đến một mục tiêu thống nhất khi hoạch định ngân
sách.
- Kiểm soát thực hiện kế hoạch: Kiểm soát thông qua ngân sách là một dạng
uỷ thác trách nhiệm. Nhìn tổng thể mà nói, ngân sách sẽ gây ảnh hởng đến
chiến lợc của một doanh nghiệp. Để phát huy hết tác dụng của các ngân
sách, những kết quả thực tế phải luôn đợc đánh giá so sánh với kết quả dự
báo. Nếu nh hai kết quả không khớp nhau thì cần phải có sự can thiệp để đa
ra những biện pháp phù hợp. Nếu không có kế hoạch thì không có tiêu chuẩn
đánh giá nào để đánh giá những gì đang xảy ra và vì vậy bất kỳ sự quản lý
nào cũng chỉ mang tính ngẫu nhiên và tùy tiện.
-6-
ý đồ xây dựng hệ thống ngân sách là để có đợc bức tranh toàn cảnh rõ
doanh nghiệp.
Để sử dụng hữu hiệu các nguồn thu, mỗi doanh nghiệp, tổ chức hoạt động
cần phải thiết lập đợc ngân sách. Đó chính là kim chỉ nam của ngời quản lý
trong việc điều hành doanh nghiệp hoạt động đạt hiệu quả cao thể hiện trên các
mặt:
- Nguồn tài chính dồi dào;
- Quan hệ tài chính lành mạnh và ngày càng mở rộng;
- Thị trờng kinh doanh ổn định, vững chắc đảm bảo sức cạnh tranh cao;
- Tốc độ tăng trởng ổn định cao, trên cơ sở của nguồn vốn an toàn, độc lập
- Chi phí tối thiểu và lợi nhuận tối đa
1.3 Nội dung của hoạch định ngân sách
1.3.1 Đối tợng tham gia hoạch định ngân sách
Hoạch định ngân sách là một kế hoạch tài chính của một giai đoạn xác
định, rất quan trọng đối với sự điều hành quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào. vì
thế rõ ràng là việc hoạch định ngân sách cần có sự tham gia của các phòng ban
trong doanh nghiệp. Tuy nhiên, nếu mỗi phòng ban đều cố gắng để giành đợc
nhiều từ ngân sách nhng lại quên đi sự cần thiết để duy trì sự ổn định chung của
doanh nghiệp. Nhu cầu, đòi hỏi của mỗi phòng ban là vô hạn trong khi nguồn
lực của doanh nghiệp thì chỉ có hạn, vì thế việc áp dụng một số giải pháp mang
tính áp đặt trong quá trình thực hiện ngân sách là điều khó tránh khỏi. Điều nay
sẽ mang lại những tác hại không nhỏ cho sự phát triển của doanh nghiệp. Do
đó, quá trính hoạch định ngân sách rất cần ý kiến đóng góp tích cực và xác
đáng của nhiều bộ phận khác nhau.
Việc hoạch định ngân sách thờng là nhiệm vụ của một nhóm - nhóm
hoạch định ngân sách- và thờng đợc lãnh đạo bởi các nhà quản lý cấp cao. Tất
cả các phòng ban, bộ phận chính trong doanh nghiệp đều phải có ngời đại diện
trong nhóm hoạch định. Nhóm hoạch định thờng bao gồm:
- Giám đốc công ty, giám đốc điều hành, hoặc tổng giám đốc;
- Trởng phòng kinh doanh;
-8-
Kế toán trởng còn có nhiệm vụ tổng hợp và liên kết tất cả các ngân sách để đa
ra ngân sách tổng hợp đồng thời dự báo lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể đạt
đợc.
Đối với các doanh nghiệp nhỏ thì việc hoạch định ngân sách có thể do một
vài trởng bộ phận đảm trách, hoặc đôi khi có thể chi do một ngời chịu trách
nhiệm.
1.3.2 Quá trình hoạch định ngân sách
Đầu tiên, nhóm hoạch định sẽ đa ra bản dự báo khả năng của mính tất cả
các nhân tố quyết định: lợng hàng hoá bán ra; kế hoạch tăng giảm hàng tồn
kho; sản lợng sản xuất cần thiết tơng ứng với các kế hoạch bán hàng và tăng
giảm tồn kho.
Để đa ra đợc một bản kế hoạch hoàn chỉnh thì điều vô cùng quan trọng là
cần phải thu thập đầy đủ các thông tin phục vụ cho việc lập ngân sách.
1.3.2.1 Các thông tin cần thiết sử dụng trong hoạch định ngân sách doanh
nghiệp.
Sự phát triển của một doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố :
Các yếu tố bên ngoài :
Tăng trởng kinh tế, các tiến bộ kỹ thuật, các chính sách của Nhà nớc về tiền
tệ, về thuế, ... qua từng thời kì khác nhau.
Các yếu tố bên trong :
Tổ chức của doanh nghiệp, cơ cấu sản phẩm, quy trình công nghệ, năng lực
của lao động, v.v...
Do đó, để công việc phân tích đạt kết quả cao và chính xác, nhằm mục tiêu
đi tới dự đoán tài chính giúp cho việc ra các quyết định tài chính và đi tới dự
đoán kết quả tơng lai của doanh nghiệp, không thể chỉ giới hạn trong nghiên
cứu các bảng biểu tài chính mà còn phải bắt đầu từ việc tập hợp các thông tin,
gồm có thông tin bên ngoài và thông tin bên trong.
-10-
1.3.2.2 Hệ thống dự thảo ngân sách
Hệ thống hoạch định ngân sách doanh nghiệp cho hoạt động sản xuất
Ngân sách
tài chính
Ngân sách
chi phí tài
chính
Ngân sách
chi phí quản
lý chung
Ngân sách
chi phí bán
hàng
Ngân
sách sản
xuất
Ngân sách tiêu thụ
sản phẩm
Ngân sách
sản xuất - kinh doanh
Ngân sách
chi phí
nguyên liệu
Ngân sách
chi phí sản
xuất chung
Ngân sách
chi phí nhân
công
Giá vốn sản
phẩm bán
Kế hoạch lãi, lỗ
kiến thực hiện
bằng tiền ở kỳ
(n)
1.3.3.2 Lập kế hoạch sản xuất
Kế hoạch sản xuất là cơ sở để lập dự toán ngân sách chi phí cho sản xuất,
kinh doanh, kế hoạch sản xuất đợc lập trên cơ sở của ngân sách bán hàng và
ngân sách dự trữ sản phẩm, hàng hoá cuối kỳ ở mức thờng xuyên, an toàn.
Khối lợng sản xuất đợc dự tính phải đáp ứng hai yêu cầu cơ bản:
- Thứ nhất: đảm bảo lợng hàng bán theo dự kiến trong năm.
- Thứ hai: đảm bảo mức độ dự trữ thành phẩm, hàng hoá cuối kỳ ở mức thờng
xuyên, an toàn và hợp lý qua dự kiến tồn kho.
Công thức xác định mức sản xuất hoặc mua vào hàng bán theo dự kiến
nh sau:
1.3.3.3 Dự thảo ngân sách cung ứng nguyên vật liệu
Trên cơ sở nhu cầu sản lợng cần sản xuất đã tính toàn, doanh nghiệp cần
lập bản dự toán cung ứng nguyên vật liệu cần cho quá trình sản xuất; từ nhu cầu
nguyên vật liệu trực tiếp phát sinh các khoản chi cho thực hiện kế hoạch sản
xuất.
Hoạch định ngân sách cung ứng nguyên vật liệu trớc hết đợc xác định dới dạng
vật chất: số lợng, loại nguyên vật liệu với chất lợng đảm bảo yêu cầu sử dụng và
tính kịp thời cho sử dụng, sau đó đợc tính thành nhu cầu tiền tệ cho cung ứng.
Sau đó đợc tính thành nhu cầu tiền tệ cho cung ứng. Về nguyên tắc, lập dự thảo
ngân sách cung ứng nguyên vật liệu đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phải lập kế hoạch cung ứng theo cơ cấu nguyên vật liệu (loại, thứ, quy cách,
chất lợng, );
- Phải có tính kịp thời và liên tục cho nhu cầu sử dụng;
- Phải trên cơ sở định mức dự trữ, tiết kiệm nguyên vật liệu, tiền vốn;
-14-
Khối lượng sản
phẩm hàng hoá
loại lao động gắn với quá trình sản xuất, nên lợng lao động trực tiếp đợc biểu
hiện bằng thời gian lao động trực tiếp.
- Giá giờ công lao động trực tiếp.
Tính dự toán ngân sách chi trả cho hao phí lao động trực tiếp sản xuất sản
phẩm thực chất là tính toán số lợng loại lao động, thời gian cần để sản xuất, đơn
giá lao động một giờ, từ đó tính tổng chi phí lao động trực tiếp.
Đơn giá lao động phải đủ thoả mãn nhu cầu tối thiểu nhất của ngời lao
động, bù đắp thu nhập, khuyến khích lao động nâng cao năng suất lao động.
1.3.3.5 Lập dự thảo ngân sách chi phí sản xuất chung
-15-
Dự tính nhu cầu
nguyên vật liệu
cho sản xuất cần
mua vào
=
Nguyên vật
liệu thoả
mãn yêu cầu
sản xuất
+
Nguyên vật
liệu còn tồn
kho cuối kỳ
-
Nguyên vật
liệu tồn đầu
kỳ
Dự thảo chi phí sản xuất chung, phải tính toán trớc cho năm kế hoạch
những chi phí của bộ phận sản xuất- kinh doanh ngoài chi phí nguyên vật liệu
trực tiếp và chi phí lao động trực tiếp, chi phí sản xuất đa vào dự thoả phải thể
chiếm tỷ trọng chi lớn, thì cần lập riêng dự thảo ngân sách chi phí chung này
theo từng chức năng lu thông, quản lý.
1.3.3.8 Dự thảo cân đối chi ngân sách tiền
Sau khi lập dự thảo ngân sách của các ngân sách bộ phận: bán hàng, sản
xuất, chi phí nguyên vật liệu cung cấp trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, chi
phí sản xuất chung, chi phí bán hàng và quản lý, doanh nghiệp cần thiết lập
bảng dự thảo thu chi ngân sách tổng hợp bằng tiền.
Bảng dự thảo cân đối thu, chi tiền mặt gồm 4 phần, có quan hệ với các
ngân sách bộ phận đã lập liên hoàn.
- Phần thu ngân sách: gồm các khoản thu từ bán hàng bằng tiền có thể trong
năm dự thảo và số tiền còn đầu kỳ.
- Phần chi ra: gồm các khoản chi bằng tiền là dự toán trong dự thảo ngân sách:
chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí lao động trực tiếp, chi phí sản xuất
chung, chi phí bán hàng và quản lý.
- Phần cân đối thu, chi ngân sách bằng tiền.
- Phần tài chính: dự kiến số tiền sẽ vay và hoàn trả vay cộng lãi vay đảm bảo
bù đắp kế hoạch ngân sách thâm hụt và số tiền mặt dự kiến sẽ tồn cuối kỳ.
Phần tài chính vào cân đối thu chi, chi ngân sách cho trị số âm hay dơng,
phần thu vợt chi thì phần tiền nhàn rỗi có thể đa đi đầu t ngắn hạn. Nếu có sự
thiếu hụt tiền mặt để trang trải chi, thì phần tài chính trong cân đối ngân sách
sẽ vay nợ, kỳ hạn lập bảng dự thảo tiền mặt có thể tuỳ thuộc yêu cầu quản lý
ngân sách ngày, tuần, tháng, quý. Phổ biến là lập ngân sách theo tháng hoặc
quý.
1.3.3.10 Lập dự thảo báo cáo tài chính
-17-
a) Báo cáo kết quả kinh doanh
Dự thảo báo cáo kế quả hoạt động kinh doanh thực chất là bảng tính toán
dự kiến lợi nhuận sẽ đợc mang lại từ hoạt động kinh doanh cho kỳ dự toán sắp
tới. Đây là mục tiêu về khoản lợi nhuận mong muốn đạt đợc từ tiềm lực tài
chính hiện có và tiềm ẩn sẽ khai thác chi kỳ dự thảo ngân sách.
và các thức đạt mục tiêu trong năm tài chính sắp tới. Đây là công cụ hữu hiệu
cho việc điều hành và kiểm tra quá trình thu, chi, kết quả tài chính của ngời
quản lý nội bộ doanh nghiệp. Hệ thống dự thảo ngân sách lập đồng bộ là cơ sở
để đánh giá hiệu quả hoạt động, khai thác huy động vốn kinh doanh và khả năng
chi trả nợ đến hạn của bất kỳ doanh nghiệp nào.
Phần II :
Phân tích công tác thực hiện ngân sách tại Công ty
TNHH TM & XD Tân Thịnh
-19-
2.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH Thơng Mại và Xây dựng Tân Thịnh
2.1.1/ Quá trình hình thành và phát triển của công ty TNHH Thơng Mại và
Xây dựng Tân Thịnh.
Tên công ty: TNHH Thơng Mại và Xây Dựng Tân Thịnh
Trụ sở chính : 38B Trần Phú- Ba Đình- Hà Nội
Điện thoại: (84-4)-9145072
Fax: (84-4)-9145073
Xuất phát từ nhu cầu xã hội về phát triển nhà đô thị, sau một thời
gian tìm kiếm thị trờng cung cấp và nhu cầu về các sản phẩm đồ gỗ trong nớc.
Công ty TNHH Thơng Mại và Xây dựng Tân Thịnh đợc thành lập với giấy phép
đăng ký kinh doanh số 012003530 của Sở Kế hoạch đầu t Hà nội cấp ngày
01/10/2001.
Công ty đợc phép hoạt động trong lĩnh vực: t vấn, khảo sát thiết kế, xây
lắp và bảo dỡng các sản phẩm đồ gỗ dân dụng.
Sau một thời chuẩn bị cơ sở vật chất cần thiết, công ty đã bắt đầu đi vào
hoạt động tháng 11 năm 2001. Do đợc chuẩn bị chu đáo, nắm bắt nhanh nhạy
nhu cầu của thị trờng, Công ty đã có những bớc phát triển không ngừng. Đến
giữa năm 2002 công ty đã chuyển trụ sở về 52A Lý Thờng Kiệt để thuận tiện
hơn trong quá trình hoạt động của mình.
Phạm vi hoạt động của công ty ngày một đợc mở rộng không chỉ dừng lại
ở Hà nội mà công ty đã có những hợp đồng cung cấp sản phẩm và hợp đồng
- Hoàn thành nhiệm vụ, kế hoach mà công ty đã đặt ra.
- Thực hiện đúng chính sách pháp luật của nhà nớc.
- Đảm bảo nhu cầu cuộc sống cho cán bộ công nhân viên công ty.
2.1.3/ Đặc điểm tình hình tổ chức sản xuất kinh doanh của công ty
2.1.3.1 Tình hình tổ chức và quản lý của công ty
Công ty TNHH Thơng mại và Xây dựng Tân Thịnh với gần ba năm kinh
nghiệm hoạt động và phát triển, tuy là một doanh nghiệp trẻ mới đi vào hoạt
động, song công ty đã biết cách tổ chức bộ máy quản lý của mình một cách
hợp lý. Giám đốc công ty là những ngời có năng lực, trình độ trong quản lý và
-21-
điều hành sản xuất kinh doanh. Đội ngũ cán bộ CNV là những ngời rất trẻ có
trình độ, năng động và nhiệt huyết trong công tác.
Bộ máy quản lý của công ty đợc tổ chức theo cơ cấu trực tuyến,đợc chia
làm hai cấp: cấp lãnh đạo( ban giám đốc) và hệ thống các phòng ban trực
thuộc. Với cơ cấu tổ chức quản lý này, mọi quyết định của công ty đều đợc
thông qua ban giám đốc. Điều này tạo cho hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty thành một khối thống nhất, phù hợp với đặc thù của công ty, đáp ứng
đợc yêu cầu đặt ra trong việc quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh
doanh của đơn vị.
Là một công ty có quy mô vừa và nhỏ, số lợng nhân viên không nhiều, lại
đang trong giai đoạn tạo dựng niềm tin nơi khách hàng, vì vậy đây là cơ cấu tổ
chức đợc coi là phù hợp nhất với doanh nghiệp.
-22-
Sơ đồ cơ cấu tổ chức quản lý công ty TNHH Thơng mại và Xây dựng
Tân Thịnh
Ban giám đốc:
- Chịu trách nhiệm trớc pháp luật về mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của
công ty.
- Tổ chức điều hành mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty đảm cáo
cân đối hiệu quả.
- Sắp xếp bảo quản các vật t trong kho ngăn nắp gọn gàng để thuận tiện trong
việc xuất nhập
Phòng kinh doanh (cửa hàng): Bộ phận giúp giám đốc công ty tiêu thụ sản
phẩm hàng hoá
- Nghiên cứu đề xuất thực hiện các biện pháp để đẩm bảo việc tổ chức tiêu thụ
hàng hoá.
- Làm tốt công tác marketing, chủ động khai thác nguồn khách hàng.
- Lập hợp đồng với khách hàng.
- Lập phơng án lắp đặt trên cơ sở biên bản khảo sát hiện trờng trình giám đốc
duyệt đảm bảo tính chính xác hiệu quả.
- Triển khai lắp đặt cho khách hàng trên cơ sở phơng án lắp đặt đã đợc giám
đốc duyệt.
- Khi công trình hoàn thành:
+ Tổ chức nghiệm thu với khách hàng, nhận thanh toán nộp về công ty.
+ Tổ chức nghiệm thu với tổ thợ, tập hợp các chứng từ lập bản quyết toán công
trình theo quy định thủ tục xuất vật t vật t và quyết toán công trình .
- Hàng tháng đối chiếu việc nhập xuất vật t với kho và bộ phận kế toán.
- Hàng tháng lập báo cáo tổng hợp doanh thu và tổng quyết toán.
- Nghiên cứu đề xuất các biện pháp giảm mức tiêu hao vật t chống thất
thoát lãng phí.
Trên cơ sở chức năng nhiệm vụ chung, cửu hàng có trách nhiệm xây dựng
nhiệm vụ cụ thể cho các nhân viên.
-24-
Bộ phận marketing: là bộ phận giúp công ty trong lĩnh vực quảng bá sản
phẩm hàng hoá và chức năng ngành nghề của công ty với thị trờng.
- Nghiên cứu đề xuất các loại hình quảng các cho phù hợp với các đối tợng sử
dụng sản phẩm hàng hoá của công ty.
- Lập kế hoạch quảng các theo chơng trình ngắn hạn, dài hạn, chơng trình nội
tỉnh, ngoại tỉnh trình giám đốc duyệt, hàng tháng có báo cáo kết quả, phân
tích tình hình thị trờng, đề xuất các biện pháp khắc phục kịp thời.