Báo cáo " Quyền sở hữu tài sản của người phụ nữ trong Bộ luật Hồng Đức" doc - Pdf 12



nghiên cứu - trao đổi
42
Tạp
chí luật học số tháng 3/2003

ộ luật Hồng Đức (BLHĐ) là bộ luật có giá
trị trong pháp luật phong kiến Việt Nam.
Một trong những nội dung làm nên giá trị của
BLHĐ là bộ luật đ có những quy định thừa
nhận và bảo vệ quyền lợi của ngời phụ nữ mà
quan trọng nhất là quyền sở hữu của họ. Đây là
quyền có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, bởi vì
"bản chất của các mối quan hệ về sở hữu tài sản
là cơ sở để hiểu những quyền lợi và nghĩa vụ
của từng cá nhân thành viên trong một gia đình
và địa vị tơng ứng của họ trong đó "
(1)
. Trong
chế độ phong kiến, ruộng đất là t liệu sản xuất
chủ yếu, là tài sản chính của gia đình. Vì vậy,
đối tợng chủ yếu của quyền sở hữu trong
BLHĐ là ruộng đất. Quyền sở hữu tài sản của
ngời phụ nữ đợc thể hiện qua vị trí của họ ở
ba phơng diện: Là ngời con trong gia đình, là
ngời vợ và là ngời mẹ.
1. Quyền sở hữu của ngời phụ nữ với t

ngời lao động. Ruộng đất đợc chia để cày cấy
không phải là tài sản thuộc sở hữu riêng của
ngời đợc chia, vì vậy theo quy định tại Điều
372 BLHĐ thì "ruộng đất khẩu phần thì không
đợc bán cho ngời khác hay chuyển riêng cho
ai; trái luật thì phải khép vào tội chiếm bán
ruộng đất công". Quy định này nhằm hạn chế và
ngặn chặn khả năng tích luỹ ruộng đất. Triều
đình nhà Lê đặc biệt quan tâm đến việc sử dụng
đất đai và hiệu quả của việc sử dụng đó. Đối với
ruộng đất của mình mà không sử dụng thì bị
trừng phạt khá nặng. Điều 387 quy định: "Con
trai từ 16 tuổi, con gái từ 20 tuổi trở lên, mà
ruộng đất của mình để ngời trong họ hay ngời
ngoài cày hay ở, đ quá niên hạn mới miễn
cỡng đòi lại, thì bị phạt 80 trợng và mất
B

* Giảng viên chính Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội
ThS. Nguyễn Phơng Lan * nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003
43

ruộng đất (niên hạn: ngời trong họ 30 năm,
ngời ngoài 20 năm). Nếu vì chiến tranh hay
đi phiêu bạt mới về, thì không theo luật này".

quyền sở hữu và làm chủ tài sản nh nhau. Con
không có quyền sở hữu tài sản riêng. Do đó, khi
ông bà, cha mẹ còn sống mà con cháu đòi chia
tách tài sản ra ở riêng là bất hiếu, không phải
đạo làm con và không đợc pháp luật cho phép.
- Quyền thừa kế của ngời con gái đợc
thừa nhận và bảo vệ. Theo quy định tại Điều
388 BLHĐ thì nếu cha mẹ mất cả, có ruộng đất,
cha kịp để lại chúc th thì anh chị em đợc tự
chia nhau, sau khi để lại 1/20 số ruộng đất làm
hơng hoả, giao cho ngời con trởng giữ. Phần
của con vợ lẽ, nàng hầu thì ít hơn. Nh vậy, con
trai và con gái của vợ cả đều đợc hởng phần
thừa kế nh nhau, con trai và con gái của vợ lẽ
cũng đợc thừa kế bằng nhau nhng ít hơn con
của vợ cả. Sự thừa nhận quyền thừa kế của con
gái nh con trai là điểm tiến bộ của pháp luật
nhà Lê. Hơn thế nữa, nhà lập pháp triều Lê còn
cho phép con gái cũng đợc thừa kế tài sản
hơng hoả. Điều 391 BLHĐ quy định: "Ngời
giữ hơng hoả có con trai trởng thì dùng con
trai trởng, không có con trai trởng thì dùng
con gái trởng, ruộng đất hơng hoả thì cho lấy
một phần hai mơi". Các Điều 395, 397 BLHĐ
cũng quy định tơng tự và cụ thể hơn về quyền
thừa kế tài sản hơng hoả của ngời con gái.
Đây là quy định rất tiến bộ chỉ có riêng trong
pháp luật nhà Lê. Theo pháp luật Trung Quốc,
con gái thờng bị loại ra khỏi việc phân chia gia
sản nên không thể là ngời thừa kế tài sản

chí luật học số tháng 3/2003

hiếu ". Để tránh việc ruộng đất hơng hoả có
thể chuyển ra khỏi gia đình họ nội và bảo vệ tài
sản hơng hoả mà tổ tiên để lại với mục đích
duy trì việc cúng giỗ, pháp luật quy định mọi tài
sản mà các con đợc thừa kế từ cha mẹ hay ông
bà đều là tài sản riêng của con cái. BLHĐ bảo
vệ quyền thừa kế tuyệt đối của con cái và trừng
phạt mọi hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu
đó của các con. Điều 377 BLHĐ quy định hình
phạt đối với ngời vợ đem bán tài sản thừa kế
của con từ ngời chồng mình đ chết là 50 roi,
trả tiền lại cho ngời mua, trả ruộng cho con.
Ngời chồng sau hoặc vợ sau mà đem bán tài
sản của con chồng trớc hoặc vợ trớc thì bị xử
nặng hơn nh: Phạt 60 trợng, biếm hai t. Điều
379 BLHĐ cũng không cho phép ngời trởng
họ bán điền sản của con cháu đợc thừa kế từ
cha mẹ chúng. Nếu bán mà không có lí do chính
đáng thì phạt 60 trợng, biếm hai t, và giao
dịch bị huỷ bỏ, không có hiệu lực.
Tuy nhiên, nếu con cha trởng thành thì
cha mẹ có trách nhiệm quản lí tài sản của
con. Trong trờng hợp một bên vợ hoặc
chồng chết trớc thì ngời còn sống sẽ quản
lí tài sản của con.
Nh vậy, trong quyền sở hữu của con cái
không hề có sự phân biệt giữa con trai và con
gái. Con gái và con trai đều có quyền sở hữu tài

thì điền sản của vợ phải để lại cho chồng.
Nếu một bên vợ hoặc chồng chết thì phần
tài sản riêng của ngời chết sẽ đợc chia nh
sau:
- Nếu vợ chồng có con thì toàn bộ tài sản
riêng của ngời vợ hoặc chồng đ chết sẽ đợc
chia đều cho các con nhng tạm thời phần tài
sản ấy vẫn do ngời chồng (hoặc vợ) còn sống
quản lí (Điều 374 BLHĐ).
- Nếu vợ chồng không có con thì phần tài
sản riêng của ngời chồng (hay vợ) đ chết sẽ
đợc chia làm hai phần. Một phần thuộc về cha
mẹ đẻ của ngời chết (hoặc về ngời tế tự) để lo
cúng giỗ. Một phần thuộc về ngời vợ (hay
chồng) còn sống để bảo đảm nuôi dỡng ngời
đó, ngời vợ (hay chồng) còn sống chỉ có quyền
hởng hoa lợi từ phần tài sản đó để sinh sống
mà không đợc biến thành của riêng. Khi ngời
vợ hay ngời chồng này cũng chết đi thì phần
tài sản đó lại đợc trả về cho gia đình cha mẹ đẻ
của ngời chồng (hoặc vợ) đ chết trớc (Điều
375, 376 BLHĐ). Trong trờng hợp vợ chồng có
con, một ngời chết trớc, sau đó con cũng chết
thì cách giải quyết cũng tơng tự. Song nếu cha
mẹ vợ đều đ chết thì ngời chồng đợc hởng nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003
45

đình cha mẹ đẻ của ngời đó. Việc chia đôi tài
sản chung chứng tỏ rằng sự đóng góp của ngời
vợ vào khối tài sản chung là ngang bằng với
ngời chồng. Vị trí của ngời vợ trong hoạt
động kinh tế quyết định đến vị trí của họ trong
gia đình. Vì là ngời có đóng góp vào kinh tế
gia đình nên ngời vợ cũng có quyền làm chủ
đối với tài sản gia đình. Việc thừa nhận quyền
của ngời vợ đối với tài sản chung đ thể hiện
sự bình đẳng trong quan hệ tài sản giữa vợ và
chồng. Đây là điểm tiến bộ và độc đáo của
pháp luật nhà Lê.
Sự bình đẳng đó còn thể hiện ở quyền định
đoạt tài sản chung. Pháp luật và phong tục đều
đòi hỏi phải có sự đồng ý của cả hai vợ chồng
trong việc chuyển nhợng tài chung cho ngời
khác. Điều đó đợc chứng minh qua các bằng
chứng là các văn tự bán tài sản có chữ kí của cả
vợ chồng hoặc các tờ mẫu văn tự về bán, cầm
cố, trao đổi các tài sản thực thụ và các điền nô ở
thời nhà Lê bao giờ cũng đòi hỏi sự thoả thuận
của cả hai vợ chồng.
(5)

Ngoài một nửa tài sản đợc chia trong khối
tài sản chung mà vợ chồng làm ra, ngời vợ còn
đợc hởng hoa lợi từ 2/3 phần tài sản của
chồng (tức là 2/3 của một nửa khối tài sản
chung mà vợ chồng làm ra) để bảo đảm nuôi
dỡng đời mình sau khi ngời chồng chết. Chỉ

chí luật học số tháng 3/2003

nếu ngời vợ chết mà không có con càng khẳng
định tính chất độc lập trong quan hệ sở hữu giữa
vợ và chồng và càng hạn chế quyền uy của
chồng đối với vợ. Nh vậy có thể thấy, mặc dù
đạo đức Nho giáo đòi hỏi ngời vợ phải phục
tùng và phụ thuộc vào chồng song với sự độc lập
làm chủ tài sản, ngời vợ không nhất thiết phải
phụ thuộc vào chồng; nếu có thì chỉ vì lí do đạo
đức và phong tục chi phối mà không phải vì lí
do kinh tế. Sự độc lập nhất định trong quyền sở
hữu tài sản của ngời vợ là điều kiện quan trọng
nhất để bảo đảm vị thế độc lập, bình đẳng của
vợ trớc chồng - vị trí mà ngời vợ không thể có
đợc theo đạo lí Nho giáo. Vì vậy có thể nói, so
với quan điểm Nho giáo thì trong BLHĐ địa vị
của ngời vợ đ đợc cải thiện hơn hẳn.
3. Quyền về tài sản của ngời mẹ
Ngời vợ có quyền quản lí tài sản chung,
cùng chồng làm chủ tài sản gia đình, chăm sóc
con cái. Tài sản chung của vợ chồng thuộc
quyền sở hữu độc lập của vợ chồng. Con cái chỉ
đợc hởng tài sản của cha mẹ khi cả cha và mẹ
đều chết.
Trong trờng hợp ngời chồng chết trớc,
ngời vợ sẽ thay chồng quản lí tài sản gia đình.
Theo quy định tại các Điều 374, 375, 376
BLHĐ thì khi một bên vợ hoặc chồng chết
trớc, cha phát sinh việc chia tài sản thừa kế

của họ. Từ đó cho thấy ngời đàn bà goá cũng
có vị trí nhất định trong x hội phong kiến thời
Lê nếu họ c xử phù hợp với các chuẩn mực đạo
đức của đạo lí Nho giáo.
Từ các quy định trên cho thấy, pháp luật
triều Lê đ có những bớc tiến bộ vợt bậc so
với thời đại lúc đó khi công nhận và bảo vệ
quyền độc lập làm chủ tài sản của ngời phụ nữ.
Đó là điều kiện cơ bản để xác định địa vị pháp lí
của ngời phụ nữ với vị thế đợc cải thiện và
bảo đảm hơn hẳn so với triết lí Nho giáo và qua
đó mà quyền, lợi ích hợp pháp của họ trong gia
đình và x hội phong kiến thời Lê đợc bảo đảm
hơn. Các quy định về quyền sở hữu tài sản của
ngời phụ nữ là một trong những nội dung tiến
bộ đ tạo nên giá trị của BLHĐ mà nhà lập pháp
vẫn cần tiếp nhận, kế thừa trong việc xây dựng
pháp luật hiện nay./.

(1).Xem: Insun Yu, Luật và x hội Việt Nam thế kỉ
XVII- XVIII, Nxb. KHXH - Hà Nội 1994, tr.160.
(2).Xem các điều 313, 16, 285 BLHĐ.
(3).Xem: Insun Yu, Sđd, tr. 162.
(4).Xem: Insun Yu, Sđd, tr. 93.
(5).Xem: Insun Yu, Sđd, tr. 167.
(6).Xem: Insun Yu, Sđd, tr. 171.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status