Báo cáo " Tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật Hồng Đức" - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
36 Tạp chí l
uật học số 5/2006
Ths. Hoàng văn Hùng *
1. Theo B lut Hng c, ti trm cp
ti sn l ti phm cú tớnh cht v mc nguy
him cao trong cỏc ti phm xy ra trong xó
hi phong kin. S ỏnh giỏ ny c th
hin ti quy nh v hỡnh pht i vi ngi
phm ti trm cp ti sn v cỏch thc sp
xp v trớ ca cỏc quy nh ca ti trm cp
ti sn trong cỏc quy nh v ti phm.
(1)

Ngi phm ti trm cp ti sn trong mt
s trng hp c th b e do ỏp dng hỡnh
pht cao nht l t hỡnh v c thc hin
bng hỡnh thc chộm u (iu 430, 431, 433).
(2)

Trong Chng o tc ca B lut Hng
c, ti trm cp ti sn c quy nh sau
cỏc ti xõm phm an ninh quc gia, ti xõm
phm tớnh mng, sc kho, danh d nhõn phm
con ngi nh cỏc ti mu lm phn, ti mu
i nghch, ti phn nc theo gic, ti git

vn t cm c (iu 448).
Trong cỏc ti trm cp ti sn trờn õy
hnh vi trm cp ti sn ca vua cú tớnh cht
nguy him cho xó hi cao nht, ngi phm
cỏc ti ny b x chộm. i vi cỏc ti trm
cp ti sn khỏc, ngi phm ti ch b pht
kh sai hoc lu y. Hnh vi ly i cỏc ti
sn ca tr em, ngi iờn, ngi say cng
c coi l trm cp ti sn. Trong trng
hp c th ny, ngi b hi khụng th nhn
thc hoc nhn thc khụng y v hnh vi
ca ngi phm ti v theo quy nh ca B
lut Hng c thỡ chỳng vn thuc v ti
trm cp ti sn, ngi phm ti trong trng
* Ging viờn chớnh Khoa lut hỡnh s
Trng i hc Lut H Ni nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số 5/2006
37

hp ny s b pht kh sai v bi thng gp
ụi giỏ tr ti sn ó ly ca ngi b hi.
i tng tỏc ng ca ti trm cp ti
sn theo B lut Hng c khụng ch l
nhng vt nht nh, chỳng cú th l
quyn v ti sn.Trong trng hp cm c
ti sn, ngi ó nhn cm c ti sn ca
ngi khỏc li i ly trm cỏc vn t cm c

ch th thng. Bt kỡ ngi no cú nng lc
trỏch nhim hỡnh s v t tui lut nh
cng cú th tr thnh ch th ca ti trm
cp ti sn. B lut Hng c khi quy nh
v ti trm cp ti sn chỳ ý c bit n
mi quan h gia ngi phm ti v ngi
b hi, tu theo tớnh cht ca mi quan h
ny hỡnh pht i vi ngi trm cp ti sn
cú th c tng lờn hoc gim i so vi
trng hp trm cp ti sn thụng thng.
i vi mt s ti phm c th khỏc cng cú
cỏch quy nh tng t.
(4)

Nu ngi phm ti l y t trong nh
ly ti sn ca ngi ch thỡ hỡnh pht i
vi ngi ú c tng lờn. Nu l ngi
thõn thuc cựng chung vi nhau li ly trm
ti sn ca nhau thỡ hỡnh pht li c gim
nh. Trng hp con, chỏu trong gia ỡnh
cũn ớt tui a ngi ngoi v ly ti sn ca
bc tụn trng thỡ hỡnh pht i vi ngi
phm ti l con, chỏu cng c gim i.
Tuy khụng cú quy nh chung v tỏi
phm hoc tỏi phm nguy him nh lut
hỡnh s hin i nhng trong B lut Hng
c cỏc nh lp phỏp ó phõn hoỏ trỏch
nhim hỡnh s ngi phm ti trm cp ti
sn theo c im v nhõn thõn ngi phm
ti. Ngi trm cp ti sn ln u thỡ b

đêm (Điều 439), tội trộm cắp vặt ban ngày
(Điều 429) và tội thừa cơ có trộm, cháy, lụt
lấy tài sản người lâm nạn (Điều 435).
Hoàn cảnh phạm tội là một dấu hiệu
thuộc về mặt khách quan của tội phạm. Trong
luật hình sự hiện đại, nếu người phạm tội lợi
dụng hoàn cảnh khó khăn đặc biệt của xã hội
như chiến tranh, tình trạng khẩn cấp, thiên
tai, dịch bệnh… để phạm tội thì trách nhiệm
hình sự của người phạm tội bị tăng nặng
(điểm l khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự).
(5)

Theo Điều 435 Bộ luật Hồng Đức, người
phạm tội lợi dụng hoàn cảnh thiên tai như
lụt, cháy hoặc khi có trộm cướp xảy ra mà
trộm cắp tài sản của người khác thì hình phạt
của người phạm tội không bị tăng mà lại
được giảm đi so với trường hợp trộm cắp
bình thường. Hình phạt đối với người phạm
tội trong trường hợp này chỉ tương đương
với hình phạt được áp dụng đối với người
nhặt được của rơi không trả lại cho người đã
để mất tài sản.
Giống như luật hình sự hiện đại, thời
gian phạm tội không ảnh hưởng nhiều đến
trách nhiệm hình sự của tội trộm cắp tài sản,
trong quy định về tội trộm cắp tài sản của Bộ
luật Hồng Đức thì trường hợp trộm cắp tài
sản ban đêm có hình phạt tương tự như trộm


nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 5/2006
39

người áp dụng pháp luật trong xét xử tội
phạm. Do cách quy định này nên mỗi điều
luật về tội phạm cụ thể không thể có một tội
danh chung bao quát toàn bộ các hành vi
phạm tội, được coi như tên của điều luật
trong nhiều bộ luật hình sự hiện đại ngày
nay. Với cách quy định này, các nhà lập
pháp cũng không thể xây dựng nên các loại
cấu thành tội phạm cơ bản, tăng nặng, giảm
nhẹ của một tội phạm cụ thể.
Khi quy định về tội trộm cắp tài sản hoặc
một tội phạm khác, các nhà lập pháp luôn căn
cứ chủ yếu vào hành vi phạm tội cụ thể. Hành
vi đó còn được bổ sung bằng các tình tiết về
đối tượng tác động của tội phạn, chủ thể hoặc
nhân thân người phạm tội và hoàn cảnh phạm
tội. Đây là các quy định rất chi tiết về tội
phạm cụ thể nói chung và tội trộm cắp tài sản
nói riêng, tương ứng với mỗi hành vi phạm
tội cụ thể là hình phạt cố định với loại và mức
cụ thể cho người phạm tội trộm cắp tài sản.
3. Ngoài các đặc điểm chung của luật
hình sự phong kiến Việt Nam như hình phạt
có tính chất tàn khốc khi dựa vào ngũ hình,
hình phạt được áp dụng không bình đẳng đối

- Thứ năm, Bộ luật quy định hình thức
khen thưởng cho người cáo giác hành vi
chứa chấp người phạm tội trộm cắp tài sản
trong các trang trại. Hình thức khen thưởng
là một phần mười số ruộng đất trang trại bị
tịch thu (Điều 455)./.

(1).Xem: Quốc triều hình luật, Luật hình triều Lê,
Luật Hồng Đức, Nxb. Chính trị quốc gia (1995).
(2). Tử hình là loại hình phạt cao nhất trong hệ thống
hình phạt có tên là ngũ hình. Ngũ hình bao gồm: xuy
(đánh bằng roi), trượng (đánh bằng gậy), đồ (khổ sai),
lưu (đày đi nơi khác) và tử (tử hình). Người phạm tội
trộm cắp tài sản có thể bị xử tử hình và được thực
hiện bằng hình thức chém đầu.
(3),(4).Xem: PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hoà (2004),
“Vấn đề tội phạm trong Quốc triều hình luật”, Quốc
triều hình luật, Lịch sử hình thành nội dung và giá trị,
Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, tr. 206, 218.
(5).Xem: Bộ luật hình sự của nước Cộng hoà xã hội
chủ nghĩa Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia (2000), tr. 39.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status