ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP. HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ - LUẬT
------000------
BÀI THUYẾT TRÌNH MÔN
LỊCH SỬ NHÀ NƯỚC VÀ PHÁP LUẬT
ĐỀ TÀI: Quyền tài sản, quyền nhân thân
trong Bộ luật Hồng Đức
TP.HCM, 21/03/2016
Quốc triều hình luật (hay còn gọi là Lê triều hình luật) được xây dựng, bổ sung, hoàn
chỉnh trong thời Lê sơ và được Lê Thánh Tông ban hành vào năm 1483 trong thời gian
ông lấy niên hiệu là Hồng Đức nên còn có tên gọi khác là Luật Hồng Đức. Đây là một
công trình pháp luật tiêu biểu được nhà Hậu Lê xây dựng, có thể khẳng định rằng, Luật
Hồng Đức là bộ luật tiến bộ nhất, hoàn chỉnh nhất trong các bộ luật ở Việt Nam thời
phong kiến; là công trình có giá trị đặc biệt trong lịch sử pháp luật Việt Nam; là một trong
những thành tựu tiêu biểu của nền văn hiến nước ta. Bộ luật ấy chứa đựng nhiều giá trị
nhân văn sâu sắc và nội dung tư tưởng rộng lớn, là cơ sở nền tảng trong việc xây dựng
nhà nước phong kiến thịnh trị thời Lê sơ. Mặc dù mang bản chất giai cấp phong kiến
nhưng bộ luật Hồng Đức lại chứa đựng nhiều yếu tố, giá trị tích cực, tiến bộ với những
quy phạm bảo vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới, của nô tì, người cô quả, tật
nguyền… chống lại sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại, trong đó cần phải
nhấn mạnh và khẳng định đến một giá trị nổi bật là những quyền tối thiểu nhưng cơ bản
của con người, đặc biệt là của người dân được thừa nhận, được tôn trọng và được bảo vệ
bằng pháp luật.
Luật Hồng Đức xứng đáng là niềm tự hào của dân tộc Việt Nam trên cả hai bình diện
quốc tế và quốc gia. Trên bình diện quốc tế, phân tích đối chiếu các điều khoản của Luật
con người (các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,…). Lợi ích tinh thần là yếu tố chi
phối quan hệ nhân thân để phân biệt với quan hệ tài sản, luôn liên quan đến tài sản.
+ Các lợi ích tinh thần không thể bị hạn chế hoặc tước bỏ, trừ trường hợp được
pháp luật quy định. Mỗi chủ thể có những giá trị nhân thân khác nhau nhưng được bảo vệ
như nhau khi các giá trị đó bị xâm phạm.
+ Quan hệ nhân thân không xác định bằng tiền – Giá trị nhân thân và tiền tệ
không phải là những đại lượng tương đương và trao đổi ngang giá, nói cách khác về mặt
pháp lý thì quan hệ nhân thân mang tính phi tài sản.
1.2.Quyền nhân thân
1.2.1 Khái niệm
Quyền nhân thân là thuật ngữ pháp lý để chỉ những quyền gắn với bản thân con
người, gắn liền với đời sống riêng tư của mỗi cá nhân.Từ xưa đến nay khi nói đến quyền
nhân người ta thường liên tưởng ngay đến những quyền có liên quan mật đến danh dự,
nhân phẩm, uy tín của cá nhân. Nói chung, quyền nhân thân là quyền để bảo vệ cái
“danh” của mỗi con người bao gồm: danh dự, danh tiếng, danh hiệu…. và còn có thể hiểu
theo nghĩa rộng là những quyền thuộc nhóm quyền tự do của con người như quyền tự do
cư trú, quyền tự do kinh doanh, tự do việc làm,…nó cũng gắn với cá nhân và thỏa mãn
nhu cầu tinh thần của cá nhân. Điều 24 Bộ luật dân sự năm 2005 quy định “Quyền nhân
thân được quy định là quyền dân sự gắn liền với mỗi cá nhân, không thể chuyển giao cho
người khác, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác. Không ai được lạm dụng quyền
nhân thân của mình xâm phạm đến lợi ích nhà nước, lợi ích công cộng, quyền, lợi ích hợp
pháp của người khác. Mọi người có nghĩa vụ tôn trọng quyền nhân thân của người khác”.
4
1.2.2 Đặc điểm
Quyền nhân thân là quyền dân sự gắn liền với cá nhân mà không thể chuyển giao cho
các chủ thể khác, nói cách khác quyền nhân thân không thể là đối tượng trong các giao
dịch dân sự giữa các cá nhân.Cụ thể, quyền nhân thân là một quyền dân sự đặc biệt bởi
5
đảm đời sống tinh thần của mỗi cá nhân, tạo điều kiện cho cá nhân lao động và sáng tạo.
Tuy vậy khác với các quyền dân sự khác quyền nhân thân của mỗi cá nhân không được
định giá bằng tiền nên nếu có hành vi xâm phạm đến quyền nhân thân thì việc bồi thường
khắc phục thiệt hại không thể tính toán cụ thể, chỉ là tương đối và mang tính giáo dục là
chủ yếu.
2. Khái quát về Quyền tài sản
Tài sản, vật và quyền. Theo nghĩa thông dụng và hầu như không có tính pháp lý, thuật
ngữ tài sản dùng để chỉ một vật được con người sử dụng, một vật hữu hình, như cái bàn,
cái ghế, chiếc xe máy,… nghĩa là vật mà ta có thể nhận biết bằng giác quan tiếp xúc. Tuy
nhiên, không phải vật hữu hình nào cũng là tài sản. Tất cả mọi người đều sử dụng không
khí, nhưng cho đến nay, không khí chưa bao giờ được coi là tài sản theo nghĩa của luật
dân sự. Suy cho cùng, chỉ có thể được coi là tài sản những vật mà trên vật đó chủ thể của
quan hệ pháp luật xác lập được các quyền cho phép khai thác lợi ích vật chất từ vật và lợi
ích đó có giá trị tiền tệ. Bởi vậy, ta nói rằng một vật hữu hình là tài sản trong điều kiện nó
là đối tượng của các quyền định giá được bằng tiền. Nói cách khác, vật hữu hình trở thành
tài sản một khi nó được pháp lý hoá thành các quyền định giá được bằng tiền.
Khái niệm quyền có giá trị tiền tệ gắn với vật hữu hình, một khi được định hình trong
pháp luật về tài sản, có tính độc lập tương đối với vật hữu hình và tính độc lập tương đối
đó cho phép đi xa hơn trong việc xác định phạm vi bao quát của khái niệm tài sản bằng
cách xây dựng khái niệm tài sản không phải là vật hữu hình. Một mặt, có những quyền
định giá được bằng tiền, nhưng lại không được thực hiện trên một vật mà lại gắn liền với
một hoạt động: phát minh, sáng chế, giải pháp hữu ích, tác phẩm văn chương, khoa học,
nghệ thuật, mạng lưới tiêu thụ hàng hoá hoặc cung ứng dịch vụ của thương nhân, thương
hiệu,… Mặt khác, quyền đòi nợ rõ ràng cũng là một quyền có giá trị tiền tệ nhưng không
có đối tượng là một vật hữu hình nào: người có quyền đòi nợ thực hiện quyền của mình
bằng cách yêu cầu người mắc nợ thực hiện nghĩa vụ trả nợ và tiếp nhận việc thực hiện
chính và vật phụ,… Với hệ thống phân loại đó, ta có một bên là các tài sản hữu hình
(động sản và bất động sản hữu hình), bên kia là các quyền tài sản, tức là các động sản vô
hình (quyền đòi nợ, quyền sở hữu trí tuệ,…). Quyền tài sản trở thành một khái niệm rất
hẹp và không đủ tầm vóc để đảm đương vai trò đối trọng với quyền nhân thân, là những
quyền không có giá trị tài sản, trong luật dân sự.
Bởi vậy, vấn đề, suy cho cùng, không phải là làm thế nào để bổ sung, hoàn thiện Ðiều
188 BLDS, mà là làm thế nào để xây dựng chế định quyền tài sản với tư cách là sự biểu
hiện pháp lý của một vật có giá trị tiền tệ, chứ không chỉ đơn giản là quyền đòi nợ hay
quyền sở hữu trí tuệ như trong suy nghĩ của người soạn thảo điều luật đã dẫn.
Chúng ta chia Quyền tài sản thành hai phạm trù sau để dễ phân tích :
2.1. Quyền sở hữu
Khái niệm: Quyền sở hữu là quyền của cá nhân đối với tài sản của mình trong việc
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt, cá nhân có quyền sở hữu đối với tài sản có được một cách
hợp pháp, không ai có quyền tước đoạt trái pháp luật tài sản của người khác, chỉ trong
7
trường hợp thật cần thiết vì lý do an ninh quốc phòng, lợi ích quốc gia, lợi ích xã hội thì
nhà nước trưng mua có bồi thường theo quy định của pháp luật.
Nội dung của Quyền sở hữu bao gồm:
- Quyền chiếm hữu là quyền nắm giữ, quản lý tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
- Quyền sử dụng là quyền khai thác công dụng, hưởng hoa lợi, lợi tức từ tài sản.
- Quyền định đoạt là quyền của các chủ sở hữu chuyển giao quyền sở hữu tài sản của
mình cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó.
Căn cứ xác lập quyền sở hữu:
- Do lao động, do hoạt động sản xuất, kinh doanh hợp pháp;
- Được chuyển quyền sở hữu theo thoả thuận hoặc theo quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền;
- Thu hoa lợi, lợi tức;
- Đặc điểm di sản:
Theo quy định tại Điều 634 Bộ luật dân sự: “Di sản bao gồm tài sản riêng của người
chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” Di sản thừa kế có
thể là hiện vật, tiền, giấy tờ trị giá được thành tiền, quyền tài sản thuộc sở hữu của người
để lại di sản.
- Các trường hợp thừa kế:
+ Thừa kế theo di chúc: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản
của mình cho người khác sau khi chết.
- Các điều kiện để di chúc có hiệu lực pháp luật
+ Người lập di chúc phải là người thành niên, trừ trường hợp người đó bị bệnh
tâm thần hoặc các bệnh khác mà không thể nhận thức và làm chủ hành vi của mình
9
(Người đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi có thể lập di chúc, nếu được cha mẹ hoặc người
giám hộ đồng ý).
+ Nội dung di chúc không vi phạm điều cấm của pháp luật và đạo đức xã hội.
+ Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện, minh mẫn, sáng suốt.
+ Hình thức di chúc phải phù hợp với quy định của pháp luật: di chúc bằng văn
bản hoặc di chúc bằng lời nói.
Thừa kế theo pháp luật: Thừa kế theo pháp luật là thừa kế theo hàng thừa kế, điều
kiện và trình tự thừa kế do pháp luật quy định.
- Các trường hợp thừa kế theo pháp luật:
+ Không có di chúc;
+ Di chúc không hợp pháp;
+ Những người thừa kế theo di chúc đều chết trước hoặc chết cùng thời điểm
vấn đề gia đình, coi gia đình là cơ sở quan trọng bậc nhất để tạo lập kỉ cương và ổn định
xã hội nên Bộ luật đã điều chỉnh các quan hệ như quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng,
giữa cha mẹ và con cái, giữa các thân thuộc khác (vợ cả-vợ lẽ, anh-chị-em, cha mẹ-con
nuôi, vai trò của người tôn trưởng tức trưởng họ).
1.1.
Quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng:
Đây là mối quan hệ cơ bản nhất quyết định sự bền vững trong hôn nhân. Thông qua
mối quan hệ này phản ánh khá đầy đủ và toàn diện về đời sống thực tế của một gia đình
và biểu hiện trên các phương diện sau:
1.1.1. Quyền và nghĩa vụ đồng cư:
Phong tục tập quán và lễ nghĩa Nho giáo đã điều chỉnh quan hệ vợ-chồng, tuy nhiên
luật Hồng Đức cũng có các quy định nhằm điều chỉnh các quyền và nghĩa vụ nhân thân
như: Nghĩa vụ phải chung sống tại một nơi và phải có trách nhiệm với nhau, chăm sóc lẫn
nhau (các Điều 321 và 308). Người chồng với tư cách là gia trưởng, là người chủ trong
gia đình phải có trách nhiệm với vợ con, không được ngược đãi vợ (Điều 482).
Trong hệ thống ngũ luân, quan hệ vợ chồng được xếp hàng thứ ba, một vị trí không
kém phần quan trọng để thiết lập trật tự xã hội thời phong kiến, cho nên người chồngđược
phép có nhiều vợ nhưng không được ruồng bỏ vợ con. Rằng nếu người chồng chểnh
mảng hay bỏ bê vợ mình vì si mê một người đàn bà khác thì bị trừng phạt nếu vợ y cáo
11
giác trước cửa quan (có thể bị đánh trọng thương hay xử đồ được quy định tại Điều 309).
Người vợ chỉ không kiện được nếu người chồng xa nhà vì thừa hành công vụ.
Nghĩa vụ trên đồng thời cũng đặt ra với người vợ. Nếu người vợ vô cớ bỏ nhà đi,
bên nội của mình sang gia đình chồng như ở Trung Quốc. Và bên cạnh sự ưng thuận của
12
cha mẹ hay các bậc tôn thuộc rất quan trọng thì sự ưng thuận của hai bên trai - gái cũng là
một thành tố được nhà lập pháp chú ý đến. Quy định như vậy quyền lợi của người phụ nữ
đã được bảo đảm và quan trọng vì nếu người chồng không làm tròn nghĩa vụ với vợ thì
người vợ cũng không buộc phải làm tròn bổn phận của mình. Sau khi ly hôn người vợ vẫn
có quyền được nuôi con nếu hợp lý. Những quy định này không có trong bất kỳ bộ luật
nào của Trung Quốc cũng như các văn bản cổ luật trước hay sau triều Lê và được các nhà
luật học quốc tế đánh giá cao vì theo họ ở phương Tây mãi tới cách mạng tư sản quyền
lợi, địa vị người phụ nữ mới được để ý. Đây là quy định nổi bật phản ánh tính sáng tạo
của nhà làm luật nhằm duy trì trật tự ổn định trong gia đình.
Theo tam tòng của Nho giáo đang rất thịnh hành vào thời Lê thì thân phận người phụ
nữ: “Tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Với quyền ly hôn của người
phụ nữ thì rõ ràng Nho giáo du nhập vào Việt Nam đã trở thành Nho giáo Việt Nam,
mang sắc thái của người Việt chứ không còn là thứ Nho giáo nguyên bản nữa. Đúng như
một nhà nghiên cứu đã nhận xét Nho giáo ở nước ta như những lớp trầm tích đan xen, bện
chặt lấy nhau, gần như một khu rừng nhiệt đới rậm rạp.
1.1.2. Nghĩa vụ phục tùng nhà chồng
Truyền thống tôn trọng và phục tùng gia đình chồng vẫn ăn sâu vào tiềm thức của các
người dân Việt Nam. Đối với người vợ cả thì phải tỏ rõ vai trò quan trọng của mình trong
việc thờ tự, phụng sự chồng và là người vợ mẫu mực để các thê thiếp của chồng noi theo.
Trong Hồng Đức thiện chính thư nói rằng: “đạo làm vợ cả phải phục tùng nhà chồng,
siêng năng việc nữ công, không được tiện thiện đi về. Người vợ cả phải có đức hạnh mẫu
mực làm gương cho nàng hầu”. Người chồng dù có như thế nào thì vợ vẫn phải phục
tùng quyền uy tuyệt đối thậm chí ngay cả khi người chồng vi phạm pháp luật, người vợ
cũng không được tố giác; nếu ngược lại sẽ bị khép vào tội thập ác ( khoản 8 Điều 2 Bộ
nàng hầu của người thì bị xử lưu, đánh 100 trượng; nếu gian dâm với bà góa thì chỉ xử đồ;
nếu thông dâm với vợ thầy dạy học thì xử tội chết…
Qua đó có thể nhận thấy quy định này mặc nhiên thừa nhận những quyền và nghĩa vụ vợ
chồng do Nho giáo và tục lệ đặt ra nhằm mục đích bảo vệ tuyệt đối chế độ gia tộc phụ
quyền: thiên về quyền lợi pháp lý của người chồng, bảo vệ quyền lợi của người chồng với
tư cách là gia trưởng. Ở đây có nhiều quy định khắt khe về nghĩa vụ của người vợ và rõ
ràng, gia đình phụ quyền gia trưởng – hạt nhân, nền tảng của xã hội phong kiến, được nhà
nước bảo vệ với nhiều đặc quyền của người đàn ông. Thực chất đó cũng chính một
phương thức để củng cố chế độ phong kiến trung ương tập quyền ngày càng cao hơn của
nhà Lê.
1.1.3. Nghĩa vụ để tang nhau:
Ngoài nghĩa vụ tang chế (tang phục của vợ đối với chồng) thì trong lúc có tang mà
quên buồn làm chuyện vui hay đi dự tiệc thì bị đánh 80 trượng. Tại khoản 9 Điều 2 Bộ
luật Hồng Đức quy định: “Hành vi không để tang chồng thuộc nhóm tội Thập ác và có
thể bị xử tử (bất mục)”.
1.2.
Quan hệ giữa cha mẹ với con cái
14
Nho giáo khái quát mối quan hệ này trong chữ “ hiếu”, phạm trù đứng thứ hai sau chữ
“ trung” trong hệ thống ngũ luân. Chính vì chữ hiếu có tầm quan trọng trong trật tự xã
hội phong kiến nên được các nhà làm luật rất quan tâm và quy định rất nhiều trong các
văn bản luật. Trong mối quan hệ này, nhà làm luật chủ yếu đưa ra các nghĩa vụ của con
cái đối với cha mẹ. Có thể khái quát mối quan hệ nhân thân giữa cha mẹ và con cái trên
mấy phương diện sau:
luật thời kỳ nhà Lê quy định con cái có nghĩa vụ phụng dưỡng, hiếu thảo với cha mẹ và
cho phép người trong gia đình được che chở lẫn nhau, nghiêm cấm sự tố cáo ông bà, cha
mẹ - đó là đạo hiếu truyền thống của người Việt từ ngàn đời nay được thể chế hoá vào
trong luật, ngay cả trong trường hợp có sự xung đột giữa pháp luật và đạo đức thì đạo đức
vẫn được coi là cái gốc để điều chỉnh hành vi của con người.
1.2.2. Nghĩa vụ tế tự, cư tang, thờ cúng cha mẹ
Không chỉ lúc còn sống, khi cha mẹ mất đi con cái phải có trách nhiệm, lo lắng cho
chu toàn việc cư tang. Vi phạm nghĩa vụ này tùy mức độ nặng nhẹ mà gánh chịu những
hình phạt tương xứng và mức nặng nhất có thể là xử tử. Có tang cha mẹ mà không khóc
thì bắt tội đồ, không cúng kính mà còn mặt đồ lành, áo tốt, dự tiệc vui thì bắt tội trượng
(Điều 130). Cha mẹ chết mà nói láo là còn tang người khác nên không để tang là xử đồ.
Viện lý xử biếm (Điều 534). Hồng đức thiện chính thư còn dành ra hai mươi đoạn để quy
định rất chi tiết “ Lệ để tang”. Trong đó có các tang chính như: cha mẹ đẻ để tang ba năm
( đối với con trai hay con gái chưa chồng ) và 1 năm đối với con gái đã có chồng; với cha
mẹ chồng, con dâu để tang 3 năm; cha mẹ vợ, con rể để tang 3 tháng ( riêng bố mẹ của vợ
cả thì người chồng để tang 1 năm)…
Sách Trung dung có câu “Thờ cha mẹ lúc chết rồi cũng như lúc còn sống, ấy là hiếu đến
rất mực vậy…”. Sách Luận ngữ có câu: “Cẩn thận lúc cha mẹ chết, nhớ đến cha mẹ mà
thương xót thì cái đức của dân trở nên hậu…”. Vậy “ Cẩn thận lúc cha mẹ chết” là gì nếu
không phải lo việc cư tang, cúng kính, thờ tự. Tư tưởng này của Nho giáo rất phù hợp với
đạo đức, truyền thống của người dân Việt. Chính vì vậy mà được nhà làm luật quan tâm
rất đúng mức.
Ngoài ra, giữa cha mẹ và con cái còn có một số quyền và nghĩa vụ khác. Cha mẹ làm
quan thì con cái được tập ấm ( dẫn dắt vào chốn quan trường) (Điều 13 BLHĐ); con cái
có cha mẹ thuộc hàng bát nghị khi phạm tội được ân giảm theo phẩm hàm của cha mẹ
(Điều 12 BLHĐ); nếu con cái của quan lại mang hàm cửu phẩm trở lên khi phạm tội nhẹ
được dùng tiền chuộc tội tương ứng với phẩm hàm của cha ( Điều 22 BLHĐ).
mẹ, chị dâu em chồng, con ruột con nuôi … Điều 478 BLHĐ quy định: “ Đánh anh chị
em hàng ti ma trở lên ( để tang 5 tháng ) thì xử biếm tư, đánh bị trọng thương thì xử nặng
hơn đánh người thường một bậc, đánh chết thì xử chém”.Điều 512 quy định: “ Anh em
không còn hòa thuận đến nỗi đưa nhau đến kiện tụng, ai trái lẽ bị xử tội nặng hơn người
thường một bậc”.
Kết luận: Đối với quan hệ hôn nhân và gia đình, nhà làm luật thời Lê đã chịu ảnh
hưởng sâu sắc tư tưởng của Nho giáo nhưng có cân nhắc cho phù hợp với tập quán,
truyền thống đạo đức của người Việt, qua đó biểu lộ được nét tinh vi, sự tiến bộ vượt bậc
trong kỹ thuật lập pháp. Việc qui định chặt chẽ những lễ nghi trong gia đình và trừng phạt
nghiêm khắc những người xâm hại lễ nghi thì Quốc Triều Hình Luật đã thể hiện sự kết
hợp chặt chẽ giữa Lễ và Hình. Qua đó, Bộ luật đã bảo vệ giá trị đạo đức truyền thống của
dân tộc như lòng hiếu thảo, sự tôn kính ông bà, cha mẹ của con cháu; sự hoà thuận chung
17
thuỷ giữa vợ chồng; sự kính nhường hoà thuận giữa anh chị em, truyền thống tôn sư trọng
đạo. Đồng thời các qui định nghiêm khắc áp dụng trong mỗi vi phạm lễ nghi gia đình của
Quốc Triều Hình Luật có tác động rất lớn đến sự tự điều chỉnh hành vi trong gia đình
khiến họ sớm có ý thức về nghĩa vụ, trách nhiệm với bản thân và làm tròn bổn phận ở
từng vị trí cụ thể với gia đình mình. Như vậy, bộ luật đã hỗ trợ đắc lực cho sự giáo dục
đạo đức trong gia đình, trong xã hội, đã dùng pháp luật để xây dựng, củng cố những
chuẩn mực và giá trị đạo đức truyền thống.
Mặt khác, đốivới những sáng kiến độc đáo hơn so với pháp luật Trung Hoa, đã tinh
giản một cách linh động những giáo điều cứng nhắc của Nho giáo nhưng lại không làm
mất đi những tư tưởng nền tảng trong kinh sách Nho giáo cho phù hợp với thực trạng của
xã hội đương đại. Những tiến bộ này đã được các nhà lập pháp hiện đại rất chú ý, quan
tâm và tìm ra những hạt nhân hợp lí để kế thừa và phát huy chúng, vừa để bảo tồn di sản
văn hóa phi vật thể này. Và một sự thật của lịch sử không thể chối cãi được: gia đình luôn
là nền tảng của xã hội. Đấy là những hạt nhân tiến bộ, là những nét đặc sắc trong pháp
hạnh của người phụ nữ, kẻ nào “hiếp dâm thì xử lưu hay chết.Phải nộp tiền tạ tội hơn một
bậc đối với tiền tạ tội gian dâm thường. Nếu gây thương tích cho người đàn bà thì xử
nặng hơn một bậc đánh người bị thương. Nếu làm chết người đàn bà thì điền sản kẻ
phạm tội phải giao cho nhà người bị chết” (Điều 403); “gian dâm với con gái nhỏ 12 tuổi
trở xuống, dù nó thuận tình thì vẫn xử như tội hiếp dâm” (Điều 404).
“Quan coi ngục, lại ngục, ngục tốt gian dâm với đàn bà, con gái có chuyện thưa kiện
thì tội nặng hơn một bậc so với tội gian dâm thông thường. Nếu có thuận tình thì giảm 3
bậc tội cho các gian phụ ấy. Nếu họ bị hiếp thì không xử tội họ” (Điều 409). Đặc biệt tại
Điều 680 quy định: “Đàn bà phạm tội tử hình trở xuống, nếu đang mang thai thì phải đợi
sau khi sinh đẻ 100 ngày mới đem hành hình. Nếu chưa sinh mà đem hành hình thì ngục
quan bị biếm hai tư, ngục lại bị tội đồ làm bản cục đinh. Dù đã sinh nhưng chưa hết hạn
100 ngày mà hành hình thì ngục quan và ngục lại bị xử biếm hay bị phạt. Nếu khi chưa
sinh mà thi hành tội đánh roi thì ngục quan bị phạt 20 quan tiền, ngục lại bị đánh 80
trượng. Nếu do đánh roi dẫn đến trọng thương hay chết thì xử vào tội “quá tất sát
thương” (lỡ tay giết người, làm bị thương người)…”.
Bên cạnh bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ, Bộ luật Hồng Đức còn chú ý đến đối
tượng trẻ em,Điều 313 quy định: “Trẻ nhỏ mồ côi và phụ nữ tự bán mình làm người ở nếu
không người bảo lãnh thì kẻ mua và kẻ viết văn khế, kẻ làm chứng đều bị xử roi, trượng
theo luật (nữ bị đánh 50 roi, nam bị đánh 80 trượng) đòi lại tiền trả cho kẻ mua, hủy bỏ
văn khế. Kẻ cô độc, khốn cùng từ 15 tuổi trở lên tự nguyện bán mình thì cho phép”.Điều
436 quy định “kẻ nào trấn lột lấy quần áo và đồ vật của trẻ con... thì phải chịu tội đồ và
phải bồi thường gấp đôi”.
Nếu ai “bắt được trẻ con đi lạc thì phải báo quan làm bằng chứng thật, có ai đến
nhận thì được lấy tiền nuôi dưỡng (mỗi tháng 5 tiền) trái luật không cho người ta nhận
con thì xử tội nhẹ hơn tội quyến rũ một bậc” (Điều 604). Trường hợp kẻ nào “làm chuyện
ngược ngạo (lượm trẻ lạc về, không nuôi còn hành hạ) để đến nỗi con người ta chết thì
đánh 80 trượng, đền 5 quan tiền nhân mạng cho cha mẹ đứa trẻ chết” (Điều 605).
19
Từ nhừng luận điểm trên có thể thấy, những quy định trên tuy chưa hoàn thiện nhưng đã
thể hiện tư tưởng đề cao học thức rất tiến bộ, nhưng có học thức mà không có đạo đức thì
20
vẫn không đủ phẩm chất làm quan. Bình đẳng, công bằng trong học tập và thi cử là tiền
đề cho việc nâng cao dân trí và đào tạo được nhiều hiền tài mà trước và sau đó chưa một
vị vua nào làm được như Lê Thánh Tông.
2.3. Quyền được hưởng an sinh xã hội
2.3.1. Quyền được chăm sóc sức khỏe
Lòng từ bi bác ái đã được các đạo giáo, các thánh hiền trên thế giới nói đến từ rất lâu
nhưng đó chỉ là những lời khuyên. Mãi đến cuối thế kỉ XVIII vào đầu thế kỉ XIX, khi các
phong trào đấu tranh đòi nhân quyền của quần chúng lao khổ chống lại sự hà khắc, vô
cảm của chế độ phong kiến lan rộng, các điều luật mang tính nhân đạo mới được ghi nhận
một cách dè dặt trong luật pháp phương Tây. Nhưng ở Việt Nam, vào giữa thế kỉ XV, vấn
đề nhân đạo đã được luật hóa bằng các điều luật trong Bộ luật Hồng Đức. Trong Luật
Hồng Đức đã có hai điều luật khiến các nhà xã hội học, luật học ngày nay rất đỗi ngạc
nhiên và khâm phục. Cụ thể:
Điều 294:“Trong kinh thành hay phường ngõ và làng xóm có kẻ đau ốm mà không ai
nuôi nấng nằm ở đường xá, cầu điếm, chùa quán thì xã quan ở đó dựng lều lên mà giữ
gìn săn sóc và cho họ cơm cháo thuốc men cốt cứu sao cho họ sống, không được bỏ mặc
rên rỉ khốn khổ. Nếu không may mà họ chết thì phải trình quan và tùy theo điều kiện mà
chôn cất, không được để phơi lộ thi hài; nếu trái lệnh này thì quan phường xã phải tội
biếm hay bãi chức. Nếu người ốm đau đến ở những chùa quán mà người trụ trì chùa
quán không trình lên quan biết và tùy tiện nuôi nấng giữ gìn người ta thì cũng phải
phạt.”
Điều 295:“Những người góa vợ, góa chồng, mồ côi và người tàn tật nặng, nghèo khổ
không có người thân thích để nương tựa, không thể tự mình nuôi sống được, quan sở tại
tâm nhiều đến địa vị của người phụ nữ, quan tâm đến quyền lợi của họ, cho họ một sự
bình đẳng tương đối đối với đàn ông trong xã hội và người chồng trong gia đình. Có lẽ vì
thế mà chúng ta mới thấy xuất hiện trong lịch sử những Đoàn Thị Điểm, Hồ Xuân Hương,
Bà huyện Thanh Quan... mạnh mẽ, mãnh liệt, khát khao bày tỏ tình cảm, mà cũng sâu sắc,
trầm lắng biết bao! Họ lên tiếng cho người phụ nữ. Họ đấu tranh cho người phụ nữ... Và
cho đến bây giờ, dưới thời đại Hồ Chí Minh, người phụ nữ đã bình đẳng với nam giới,
không còn sự "trọng nam khinh nữ" nữa, quyền lợi của người phụ nữ đã được công nhận
và bảo vệ như nam giới, thì chúng ta mới thấy được những quyền lợi của người phụ nữ
xưa vẫn còn quá ít ỏi, họ còn bị gò bó, ràng buộc, chi phối bởi biết bao nhiêu nguyên tắc
đạo đức phong kiến, những "tam tòng, tứ đức"... Tuy nhiên, phải thấy rằng, nhà nước thời
Lê đã bắt đầu nhận thấy vai trò lớn lao của người phụ nữ trong sản xuất và trong cuộc
sống. Đó là điều tiến bộ trong các triều đại phong kiến Việt Nam và chính là yếu tố góp
phần làm nên sự đặc biệt và tiến bộ đi trước thời đại của bộ luật này.
“Quốc triều hình luật” còn quan tâm bảo vệ những quyền cơ bản của con người. Mặc
dù mang bản chất giai cấp phong kiến nhưng bộ luật Hồng Đức lại chứa đựng nhiều yếu
tố tiến bộ với những quy phạm bảo vệ quyền lợi của người dân, của tầng lớp dưới, của nô
22
tì, người cô quả, tật … Nhiều quy định của bộ luật tập trung bảo vệ người dân chống lại
sự ức hiếp, sách nhiễu của cường hào, quan lại. Đặc biệt bộ luật Hồng Đức còn có các
quy định về bảo vệ quyền lợi của bà mẹ, trẻ em, người dân tộc thiểu số, điều đó phản ánh
truyền thống nhân đạo, truyền thống tôn trọng phụ nữ, tư tưởng “lấy dân làm gốc”, lấy
làng xã làm nền tảng của quốc gia.
III. Quyền tài sản trong Bộ luật Hồng Đức
Trong Bộ Luật Hồng Đức, có thể nói những quy định về các quyền bình đẳng và các
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa là những nét son nổi bật nhất. Vì trên bình diện quốc tế
lẫn bình diện quốc gia, ta đều có thể nhận ra sự tiến bộ, “đi trước” của BLHĐ so với thế
như : chiếm giữ tài sản bị thất lạc, bỏ quên,…). Quyền chiếm giữ tài sản của chủ sở hữu
chỉ chấm dứt khi chủ sở hữu từ bỏ tài sản, bán, tặng cho, trao đổi tài sản hoặc căn cứ theo
các Điều 377, 379, 411, 426, 430,… BLHĐ.
1.2 . Quyền dùng tài sản
Pháp luật thừa nhận và cho phép cho phép người có tài sản được sử dụng tài sản theo
ý chí của mình, như trực tiếp khai thác lợi ích của tài sản hoặc đem đi cầm cố, thuê mướn,
… Trong các trường hợp nhặt được tài sản thất lạc thì phải trả lại cho chủ, nếu giữ lấy sử
dụng hoặc nuôi thì sẽ bị xử phạt; hoặc nhận giữ tài sản của người khác thì cũng không
được sử dụng.
1.3. Quyền định đoạt tài sản thuộc quyền sở hữu
Trong các hình thức thực hiện quyền sở hữu, quyền định đoạt được pháp luật quy
định khá chi tiết, đầy đủ, rõ ràng. Theo đó, trong BLHĐ quy định quyền định đoạt được
thực hiện bằng các cách: bán, tặng cho, trao đổi, để lại thừa kế,.. Đồng thời, khi tiến hành
thực hiện việc đem tài sản định đoạt, chủ sở hữu phải xác định và viết rằng “tài sản ( bán,
tặng cho,..) là của tôi, không liên quan gì đến người khác”
Như vậy, ngoài chủ sở hữu, không ai có quyền định đoạt tài sản.Bên cạnh đó, ngoài
việc quy định quyền định đoạt của chủ sở hữu, BLHĐ cũng quy định các trường hợp cấm
người khác định đoạt tài sản, bán tài sản của chủ sở hữu như tại các điều 386; 377; 579.
Thậm chí trong BLHĐ cũng nghiêm cấm các hành vi cưỡng bức, đe dọa hay buộc chủ sở
hữu phải chuyển nhượng tài sản trái đối với ý muốn của họ.
Bên cạnh đó, vấn đề về sở hữu ruộng đất trong thời kỳ này cũng khá được coi trọng.
Vì ruộng đất là tư liệu sản xuất quan trọng nhất trong nền kinh tế thuần nông. Ruộng đất
được sử dụng và trở thành phương tiện bóc lột chính của nhà nước phong kiến, tạo ra các
nguồn lợi phục vụ cho nhà nước phong kiến. Có hai hình thức sở hữu chính: sở hữu công
và sở hữu tư. Đồng thời, pháp luật cũng bảo vệ quyền sở hữu tư nhân về ruộng đất (điều
356, 357, 358, 360, 378, …). Ngăn cấm quan lại dựa quyền thế chiếm đoạt ruộng đất tư
(điều 370), xử phạt nặng các hành vi vi phạm quyền sở hữư tư nhân như cấm lấn chiếm,
24
tranh chấp mà đánh người để gặt lấy lúa má (Điều 360), cấy rẽ ruộng công hay tư, không
báo cho chủ mà tự tiện đến gặt (Điều 361), các nhà quyền quý chiếm đoạt ruộng đất ao
đầm của nhân dân, từ một mẫu trở lên thì xử tội phạt, từ năm mẫu trở lên thì xử tội biếm.
Quan tam phẩm trở xuống thì xử tăng thêm hai bậc và phải bồi thường như luật định
(Điều 370).
25