TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN, NHỮNG BẤT CẬP TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN - Pdf 28

i
MỤC
LỤC
Trang
LỜI MỞ
đ
ẦU 1
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
........... 2
1.1. Khái niệm tội trộm cắp tài
sản.......................................................................... 2
1.2.
đ
ặc
điểm, nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài
sản

............................. 2
1.2.1.
đ
ặc
điểm của tội trộm cắp tài sản
................................................................. 2
1.2.2. Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài
sản........................................... 5
1.3. Phương thức, thủ đoạn hoạt động của tội trộm cắp tài sản
.............................. 7
1.4. Lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam quy định về tội trộm cắp
tài
sản…


ội
H
trộ

m
c
c
l

i
p
ệu
tài
Đ
sả
H
n
tr
C
on

g
n
qu
T
y
h
đ
ơ
ịnh

...
n
...
g
..
h
...
i
.
ê
...
n
.
1
c
4

ứu
CHƯƠNG 2: TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN TRONG LUẬT HÌNH SỰ
VI

T
NAM...................................................................................................................... 16
2.1. Khái niệm tội trộm cắp tài
sản........................................................................ 16
2.2. Các dấu hiệu pháp lý của tội trộm cắp tài
sản

................................................ 17
2.2.1. Về mặt chủ thể của tội

138
Bộ
luật hình sự
............................................................................................................ 26
2.3.5. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội trộm cắp tài sản
....................... 27
2.4. So sánh tội trộm cắp tài sản với một số tội phạm sở hữu khác trong Bộ
luật
hình sự
................................................................................................................... 28
2.4.1. So sánh tội trộm cắp tài sản với tội cưỡng đoạt tài
sản

............................... 28
2.4.2. So sánh tội trộm cắp tài sản với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản
.................. 29
2.4.3. So sánh tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài
sản

.................. 30
ii
CHƯƠNG 3: TÌNH HÌNH TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN, NHỮNG BẤT CẬP
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN TRỘM CẮP TÀI SẢN VÀ CÁC GIẢI PHÁP
HOÀN THIỆN
.....................................................................................................
33
3.1. Tình hình tội trộm cắp tài sản trên cả
nước

....................................................

ẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Pháp luật hình sự là một trong những công cụ sắc bén, hữu hiệu của Nhà nước
để đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần đắc lực vào việc bảo vệ độc
lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của tổ quốc Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền lợi ích hợp pháp của tổ chức và công
dân, đảm bảo giữ vững thành quả của cách mạng, duy trì trật tự an toàn xã hội, trật tự
quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi công dân được sống trong một môi trường xã hội
lành mạnh. Tuy nhiên, trong thực tế vẫn còn nhiều diễn biến phức tạp, tình hình tội
phạm không giảm mà luôn có chiều hướng gia tăng đặc biệt là tội trộm cắp tài sản đã
gây nhiều thiệt hại nghiêm trọng về tài sản của Nhà nước.
đ
ây
là điều cấp thiết cần
được quan tâm và cũng là lý do để em chọn đề tài.
2. Mục đích nghiên
c

u
Mục đích mà em chọn đề tài này là nhằm để hiểu sâu hơn về tội trộm cắp tài sản,
từ đó cũng muốn tuyên truyền cho mọi người hiểu hơn về phương thức, thủ đoạn
của tội phạm này, không phải chỉ nhờ vào cơ quan chức năng không mà tự mình
cũng phải biết cách phòng chống.
3. Phạm vi nghiên
c

u
đ
iều
15 Hiến pháp năm 1992 quy định: “Nhà nước phát triển kinh tế hàng hóa

n
k
T
in
h
h
ơ
tế
@
nhiề
T
u
à
th
i

à
l
n
iệ
h
u
ph
h
ần
ọc

tậ

p

u
đ

tài được trình bày với phương pháp là luận văn thu thập tài liệu phân tích
và tổng hợp.
5. Cơ cấu của đề tài
đ

tài có cơ cấu gồm ba chương:
- Chương 1: Khái quát chung về tội trộm cắp tài sản.
- Chương 2: Tội trộm cắp tài sản theo quy định của luật hình sự Việt
Nam.
- Chương 3: Tình hình tội trộm cắp tài sản, những bất cập trong giải quyết vụ
án trộm cắp tài sản và các giải pháp hoàn thiện.
Song đề tài chưa thật sự toàn diện, em chỉ hy vọng rằng đề tài sẽ giúp bạn
đọc trong việc nghiên cứu, học tập, tuyên truyền phổ biến và tuân thủ pháp luật hình
sự. Vậy rất mong sự đóng góp ý kiến của thầy cô và bạn đọc, để đề tài của em được
hoàn chỉnh hơn.
SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 2
Luận văn tốt nghiệp GVHD: Phạm Văn Beo
CHƯƠNG
1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ TỘI TRỘM CẮP TÀI SẢN
1.1. Khái niệm tội trộm cắp tài
s

n
Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có người khác
quản lý.
Trộm cắp tài sản là hành vi nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu


i
i

q
u
uả
Đ
n
H
lý.
C
đ

ó

n

T
nh
h

ơ
ng
@
tài
T
sả
à
n

i
ê
v
n
ề m
c


t
u
thực tế của người có trách nhiệm hoặc là tài sản đang còn trong khu vực quản lý,
bảo quản của chủ tài sản.
đ
ây
là dấu hiệu cho phép phân biệt giữa tội trộm cắp tài sản
với hành vi chiếm giữ trái phép tài sản.
Hành vi trộm cắp tài sản chỉ bị coi là tội phạm khi thỏa mãn điều kiện được
quy định cụ thể trong luật, thể hiện hành vi đó có tính nguy hiểm đáng kể của tội
phạm. Những điều kiện đó hiện nay là:
- Tài sản bị trộm cắp phải có giá trị từ năm trăm nghìn đồng trở lên, hoặc
-
đ
ã
gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc
- Chủ thể đã bị xử phạt hành chính hoặc đã bị kết án về hành vi chiếm đoạt
mà còn vi phạm.
Hình phạt được quy định cho tội trộm cắp có mức cao nhất là tù trung thân
(PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa – Từ điển pháp luật hình sự - NXB Tư Pháp – 2006 –
Trang 283-285).
1.2.

thể coi đó là hành vi trộm cắp mà hành vi trộm cắp phải được thực hiện một cách
lén lút, cố giấu giếm, vụng trộm không để lộ ra do có ý gian đối với chủ tài sản.
Trong tội “trộm cắp tài sản”, hành vi “lén lút” chiếm đoạt tài sản có đầy đủ những
dấu hiệu này, thiếu một trong những dấu hiệu đó sẽ không thể hiện được bản chất của
sự “lén lút”, bởi nếu làm một việc quang minh thì không bao giờ phải lén lút. Nói
cách khác, “lén lút” là hành vi của một người cố ý thực hiện một việc làm bất minh,
vụng trộm, giấu giếm không để lộ cho người khác biết, nhằm mục đích chiếm đoạt
trái phép tài sản của họ. Tuy nhiên, nếu tất cả các hành vi “lén lút” của tội “trộm
cắp tài sản” đều được thực hiện một cách giấu giếm, vụng trộm, thì việc nhận biết
chúng sẽ dễ dàng hơn và việc định tội danh cũng sẽ đơn giản hơn. Nhưng thực tế
hành vi “lén lút” có nhiều cách thể hiện. Có những hành vi lén lút được thực hiện một
cách giấu giếm vụng trộm; nhưng cũng có những hành vi lén lút lại được thực
Trun
hi
g
ện

m
m
ột c
H
ác

h
c

li
n

g

iệ
e
u
đậy
họ
ha
c
y
t
g

iấ
p
u
v
gi
à
ếm
ng

h
n
i
h
ê
v
n
i c
c


quyền chiếm hữu, quyền sử dụng và quyền định đoạt tài sản theo quy định của pháp
luật. Có đầy đủ ba quyền này mới là chủ sở hữu hợp pháp đối với tài sản và được
pháp luật bảo vệ.
Như vậy, với việc thực hiện ba quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối
với tài sản, thì chủ sở hữu tài sản là đối tượng chủ yếu mà tội phạm hướng tới để
thực hiện hành vi “lén lút”.
1.2.1.4. Người quản lý tài
s

n
Người quản lý tài sản là người đang nắm giữ hoặc trông coi, bảo vệ tài sản,
nhưng lại không phải là chủ sở hữu tài sản và không có quyền định đoạt tài sản.
đ

làm rõ vai trò, ý nghĩa của người quản lý tài sản trong việc xác định đối tượng mà
tội phạm hướng tới để thực hiện hành vi lén lút, ta có thể phân chia người quản lý
tài sản theo những góc độ sau:
X Xét về góc độ nắm giữ, kiểm soát tài sản:
Có thể chia người quản lý tài sản thành hai dạng: trực tiếp và gián tiếp
- Người quản lý tài sản trực tiếp:
Trung tâ
+
m
L
H
à n

h
c
ữn

l
c
i
ô

n
u
g
h
qu


c
n
t

ập
tài
v
s
à
ản
n
, g
g
i
h
ao



đến mức là tội phạm hình sự.
X Xét về góc độ sự kiện:
Ta có thể chia thành hai trường hợp: người quản lý tài sản trong trường hợp
bình thường và trong trường hợp đặc biệt.
- Người quản lý tài sản trong trường hợp bình thường: Là trường hợp người
được giao quyền quản lý tài sản được diễn ra một cách hợp pháp, thuần túy và có sự
đồng ý của chủ sở hữu tài sản.
- Người quản lý tài sản trong trường hợp đặc biệt:
đ
ây
là vấn đề phức tạp khi
phân biệt đối tượng mà người phạm tội hướng tới để thực hiện hành vi lén lút chiếm
đoạt tài sản. Xác định chính xác đối tượng này, ta có thể làm rõ việc người phạm tội
có thực hiện hành vi lén lút hay không, từ đó cơ sở để định tội danh sẽ rõ ràng hơn,
không bị lẫn lộn giữa tội “trộm cắp tài sản” với các tội khác có cùng tính chất chiếm
đoạt.
Vậy dấu hiệu nào để phân biệt người quản lý tài sản trong trường hợp đặc
biệt với trường hợp bình thường?
đ
ó
chính là sự kiện làm phát sinh trách nhiệm quản
lý tài sản của người đó. Người này nếu không có một sự kiện nào đó xảy ra thì
Trun
họ
g
k
t
h
â
ô

@
ì
đố
T
i
à
v
i

l
i
iệ

u
i
s
h
ản

.

c
Bở
tậ
i
p

v
họ
à

1.2.2. Nguyên nhân, điều kiện của tội trộm cắp tài
s

n
- Do nền kinh tế thị trường với những quy luật khắc nghiệt của nó đã dẫn đến
những thay đổi lớn của xã hội, đối tượng thất nghiệp gia tăng, nạn nghiện hút ngày
càng lan rộng, trong khi đó chúng ta lại chưa có những chính sách phù hợp để giải
quyết tình trạng thất nghiệp, giải quyết tình trạng di dân tự do…Thất nghiệp và
nghiện hút gia tăng là một trong những nguyên nhân dẫn số đối tượng này vào con
đường trộm cắp tài sản.
- Do bên bị hại có nhiều sơ hở, chủ quan tạo điều kiện cho số đối tượng trộm
cắp cơ hội để hoạt động phạm tội. Hoặc do quá mải mê với việc làm ăn, họ không
chú ý theo dõi trên các phương tiện thông tin đại chúng đã cảnh báo về các phương
thức thủ đoạn hoạt động của bọn tội phạm trộm cắp tài sản.
đ
ặc
biệt, rất nhiều
người bị mất tài sản nhưng không trình báo với cơ quan công an, vì vậy, cũng tạo cơ
sở cho bọn tội phạm có cơ hội di chuyển đến các địa phương khác nhau tiếp tục
hoạt động phạm tội với cùng một thủ đoạn.
- Do lòng tham, ham muốn, đua đòi của một số người.
Ví dụ: chỉ vì muốn có phương tiện đi lại như bao người khác nhưng cuộc
sống khó khăn không có tiền mua, mà Huỳnh H Kh ngụ tại ấp Phụng
đ
ức
A, xã
Phú Phụng, huyện Chợ Lách, tỉnh Bến Tre đã thực hiện hành vi trộm cắp. Vào lúc
22 giờ Nguyễn Hùng Th ngụ tại thị trấn Mỹ An huyện Tháp Mười cùng nhóm bạn
đi nhậu tại một quán ở khu vực khóm 2, do bất cẩn nên Th không rút chìa khóa xe.
Nghe tiếng ồn ào, Huỳnh H Kh ra xem và nhìn thấy chiếc xe của anh Th có ghim


a
u
số
Đ
q
H
uần
C
ch

ú
n
ng
T
n
h
h
ơ
ân
@
dân.
Tài
liệu học tập và nghiên
cứu
- Do hiện nay khoa học kỹ thuật phát triển, các dụng cụ có thể được sử dụng
làm phương tiện trộm cắp: điện thoại di động, kìm công lực, thang gấp, đèn xì…cũng
rất dễ kiếm.
- Do công tác quản lý nhân khẩu, hộ khẩu của cơ quan Công An có nhiều sơ
hở. Nhiều đối tượng trộm cắp chuyên nghiệp lợi dụng sự sơ hở này để di chuyển địa

nhẹ mà chỉ nói: “Tôi chỉ xin quý tòa xem xét sau khi tôi chấp hành xong bản án mới
này, bản thân mong mỏi có một chổ làm thuê để có cái ăn, cái mặt, tránh xa con
đường phạm pháp”.
Phiên tòa kết thúc, Thành đã quay lại trại giam với mức án năm năm tù. Thế
nhưng những lời khai của Thành tại phiên tòa khiến những người thực thi pháp luật
Trun

g
ng

n
m

n
H
h

ữn
c
g

l
a
iệ
i
d
u


Đ

h


i
c
ch
t
o

n
p
hữ
v
n
à
g m
n

g
n
h
h
i
đ
ê

n
i
l
c

chúng nhanh tay dùng chìa khóa “vạn năng” tự chế mở công tắt điện xe tẩu thoát.
Có những vụ bọn trộm đi rảo trên đường, khu dân cư, cơ quan xí nghiệp…phát hiện
xe honda không có người trông coi thì ra tay trộm cắp ngay; thậm chí có vụ bọn
trộm giả dạng công nhân, thợ điện…để vào các cơ quan xí nghiệp để thực hiện hành
vi trộm cắp.
-
đối
với các vụ trộm tài sản vào ban đêm, bọn tội phạm thường mang theo
các dụng cụ cạy phá như: dao, kìm, tua vít, dây…để trèo tường, chui vào các lổ
thông gió không có chắn sắt bảo vệ, các cửa sổ nhà cao tầng không đóng khóa, cạy
cửa sổ, cửa chính…đột nhập vào nhà để trộm tài sản, nhất là vào mùa mưa, mùa
bóng đá, chủ nhà mệt mỏi, ngủ say. Có vụ bọn trộm còn lợi dụng các mối quan hệ là
bạn bè lâu ngày gặp lại, giả dạng người bị mất hết tài sản, lỡ đường, người tu hành,
Trun
ng
g
ườ

i ă
m
n x
H
in


c
để
liệ
xi
u

th
u
ì
th
h


c
c
hi
t


n

p

v
nh
à
v
n
i
g
trộ
h
m

c
n

8-01-09.7 6 53291 1 6 9 ) .
1.4. Lịch sử phát triển của luật hình sự Việt Nam quy định về tội trộm
cắp tài
s

n
Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc ta đã đạt
được nhiều thành tựu quan trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện một Nhà nước
độc lập, tự chủ vững mạnh, để lại cho các thế hệ sau nhiều di sản quý báo về kinh
nghiệm quản lý và điều hành đất nước qua các bước thăng trầm của lịch sử dân tộc.
Một trong những di sản quý báo đó là thành quả to lớn, đầy tính sáng tạo trong xây
dựng nền pháp luật độc lập, tự chủ phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của mỗi
giai đoạn lịch sử, trong đó, những thành tựu và kinh nghiệm về pháp luật hình sự có
vị trí trọng yếu. Với tư cách là công cụ có hiệu quả trong công cuộc bảo vệ và duy
Trun
tr
g
ì N
t
h
â
à
m

H
ớc

đ
c
ộc

l
i
ư
l

iệ
t
t
u
iềm
họ

c
ng
tậ
củ
p
a
v
b
à
ên

n
n
g
go
h
à
i

đ
ường
ở chương thứ bảy. Thời kì nhà Lý để
củng cố quyền hành của mình ổn định tình hình xã hội, năm 1042, Lý Thái Tông sai
Trung Thư Sảnh sửa định luật lệ, chia môn loại, biên ra điều, khoản lập ra hình thư.
đ
ây
là bộ luật thành văn đầu tiên của nước ta. Nhưng rất tiếc là Bộ luật đó hiện nay
không còn nữa, nhưng theo lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy
SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 10
Chú, trong thời kì nhà Minh đô hộ nước ta (1407-1427) họ đã thu nhiều sách quý
trong đó có Bộ Hình Thư, pháp luật thời kỳ này quy định về tội trộm cắp tài sản
từng trường hợp cụ thể hơn “kẻ nào ăn trộm trâu của công thì bị xử 100 trượng, 1
con phạt thành 2 con”. “Kẻ nào ăn trộm lúa giống, đồ vật, nếu lấy được rồi thì phạt
100 trượng, nếu chưa lấy được mà đánh người thành thương, thì bị tội lưu”.
đ
ến
thời nhà Trần thì chế tài hình sự nghiêm khắc hơn nhiều so với thời kỳ nhà Lý. Tội
ăn trộm thì phải chặt ngón chân tay hay là cho voi dầy chết (TS. Trần Quang Tiệp –
Lịch sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản
2003 – Trang 10).
1.4.2. Giai đoạn từ thời kỳ nhà Hồ đến thời kỳ nhà Lê
s
ơ
Triều đại Lê Thánh Tông đã cho ra đời Quốc Triều hình luật hay còn gọi là
Bộ luật Hồng
đ
ức
nổi tiếng vào năm 1483 và Hồng
đ

,
4
li
3

3
u
).
ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và
nghiên
cứu
Trong chương

đ
ạo
tặc” của Bộ luật Hồng
đ
ức,
tội trộm cắp tài sản được
quy định sau các tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội xâm phạm tính mạng, sức
khỏe, danh dự nhân phẩm con người như các tội mưu làm phản, tội mưu đại nghịch,
tội phản nước theo giặc, tội giết người, tội làm người bị thương, tội hiếp dâm. Như
vậy, theo cách sắp xếp này tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội trộm
cắp tài sản chỉ thấp hơn các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm con người.
Bộ luật Hồng
đ
ức
không có quy định chung về tội trộm cắp tài sản. Tội trộm
cắp tài sản được quy định tại nhiều điều luật theo đối tượng tác động của tội phạm,

(
đ
iều
438), tội đào và lấy trộm đồ vật nơi
SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 11
mồ mả
(
đ
iều
442), tội bắt trộm cá tại đầm ao
(
đ
iều
445), tội bắt trộm gà, lợn, lấy
trộm lúa
(
đ
iều
446) và tội lấy trộm văn tự cầm cố
(
đ
iều
448).
- Trong các tội trộm cắp tài sản trên đây hành vi trộm cắp tài sản của vua có
tính chất nguy hiểm cho xã hội cao nhất, người phạm các tội này bị xử chém.
đ
ối
với
các tội trộm cắp tài sản khác, người phạm tội chỉ bị phạt khổ sai hoặc lưu đày.
đối

iều
440), tội
trộm cắp lần đầu
(
đ
iều
429).
Theo quan niệm của luật hình sự hiện đại thì tội trộm cắp tài sản là tội phạm
có chủ thể thường. Bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi
luật định cũng có thể trở thành chủ thể của tội trộm cắp tài sản. Bộ luật Hồng
đ
ức
Trun
kh
g
i q

uy
m
đị
H
nh

v
c
ề t
l

iệ
i

đ

ế
u
n
m
h


i
c
qu
t
a

n
p
hệ
v
c
à
ủa
n
n
g
g
h
ư
i


435
Bộ luật Hồng
đ
ức,
người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh thiên tại như lụt, cháy hoặc
khi có trộm cướp xảy ra mà trộm cắp tài sản của người khác thì hình phạt của người
phạm tội không bị tăng mà lại được giảm so với trường hợp thông thường.
Ngoài các đặc điểm chung của luật hình sự phong kiến Việt Nam như hình
phạt có tính chất tàn khốc khi dựa vào ngũ hình, hình phạt được áp dụng không bình
đẳng đối với người phạm tội có thân nhân khác nhau, quan lại hoặc họ hàng thân
thích của nhà vua giảm hoặc miễn hình phạt…thì các quy định về hình phạt và biện
SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 12
pháp tư pháp đối với người phạm tội trộm cắp tài sản còn có một số đặc điểm riêng
sau:
T
Thứ nhất, hình phạt đối với người phạm tội trộm cắp tài sản của nhà vua
luôn là tử hình.
T
Thứ hai, bên cạnh các hình phạt chính trong ngũ hình, Bộ luật Hồng
đ
ức
còn quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội như tịch thu điền sản
(
đ
iều
430, 431), tịch thu trang trại
(
đ
iều
455).

đ
ức
thì việc phạm tội đã được xếp thành thứ bậc để dễ
Trun
tr
g
uy
t
t
â
ìm
m
, c
H
òn

s
c
ắc
li
l

ượ
u
t t
Đ

H
rất
C

ho
tậ
n
p
ên
v
v
à
ua
n
G
g
ia
h
L

o
n
ng
c
đ

ã
u
nhấn mạnh trong lời tựa “Ta ra lệnh cho triều thần lấy luật lệ của các triều đại nước
ta làm căn bản, tham chiếu luật Hồng
đ
ức
biên tập thành bộ luật tiện dụng” (TS. Trần
Quang Tiệp – Lịch sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội –

được đồ, phạt 50 roi, miễn xăm chữ. Trong trường hợp lấy được đồ, không kể là
SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 13
chia tang vật hay không, đem một chủ làm trọng, lấy tang vật ấy luận tội…Người
SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 14
phạm đầu, trên cánh tay mặt xăm hai chữ Ăn Trộm” (TS. Trần Quang Tiệp – Lịch
sử luật hình sự Việt Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản 2003 –
Trang 62).
1.4.4. Giai đoạn sau cách mạng tháng tám đến thống nhất đất
n
ư

c
Sau cách mạng tháng 8 năm 1945, Nhà nước Việt Nam kiểu mới được hình
thành, đánh dấu mốc quan trọng trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam. Chỉ trong
gần bốn tháng năm 1945 và năm 1946, Nhà nước ta đã ban hành một loạt các văn bản
quy phạm pháp luật hình sự, đáp ứng yêu cầu giữ vững chính quyền nhân dân, góp
phần xây dựng và phát triển lực lượng chuẩn bị sẵn sàng bước vào cuộc kháng chiến
lâu dài của cả nước. Bên cạnh hoạt động đấu tranh chống bọn thực dân Pháp cùng
bọn tay sai phản động Nhà nước ta còn hết sức chú trọng việc giữ gìn trật tự an toàn
xã hội trong kháng chiến. Các hành vi cướp bóc, nhũng nhiễu dân chúng trong khi có
chiến sự đều bị toàn án binh xử nặng như các tội gián điệp, phản quốc và có thể bị
tuyên đến án tử hình. Sắc lệnh số 73 – SL ngày 17/08/1947 và sắc lệnh số 12 – SL
ngày 12/03/1949 quy định trừng trị rất nặng tội trộm cắp vặt, trộm cắp tài sản.
1.4.5. Giai đoạn từ khi đất nước thống nhất cho đến trước khi ban hành
Bộ luật hình sự năm 1985
Trung tâ
T
m
ron
H


1
i
98
li
5
ệu
đã
h
k

ế
c
thừ
tậ
a
p

v
p
à

n
t
g
tri
h
ển

n

SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 15
quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, của dân, do dân, vì dân, dưới sự lãnh đạo của
SVTH: Lê Thị Kiểu Trang 14
đ
ảng,
đã đặt ra cho chúng ta nhiều thách thức mới trong việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật nói chung và tìm hiểu lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam là một
trong những việc làm cần thiết, nhằm góp phần kế thừa, phát huy có hiệu quả kinh
nghiệm quý báo của cha ông ta (TS. Trần Quang Tiệp – Lịch sử luật hình sự Việt
Nam – NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội – Năm xuất bản 2003 – Trang 149).
1.5. Tội trộm cắp tài sản trong quy định của luật hình sự một số
n
ư

c
1.5.1. Tội trộm cắp tài sản trong quy định của luật hình sự Nhật
B

n
đ
iều
123 Bộ luật hình sự Nhật bản quy định về tội trộm cắp tài sản: “người
nào lấy cắp tài sản của người khác là phạm tội trộm cắp và bị phạt tù có lao động
bắt buộc đến 10 năm.”
1.5.2. Tội trộm cắp tài sản tài sản trong quy định của luật hình sự
Th

y
đ
iển

p
c
hạ
l
t
iệ
tiề
u
n
Đ
ho
H
ặc

C
ph


n
t tù
T
đ
h
ế
ơ
n
6
@
thá
T

g
ê
h
n
ợp
cứ
ít
u
nghiêm trọng.
đ
iều
4 Bộ luật hình sự Thụy
đ
iển
quy định: “phạm tội nói tại
đ
iều
1 trong
trường hợp nghiêm trọng thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 6 năm.”
4*
đ

đánh giá tính chất nghiêm trọng của tội phạm, phải đặc biệt xét xem
liệu việc chiếm đoạt tài sản có xảy ra sau khi người phạm tội đột nhập vào nhà,
người phạm tội có dự tính chiếm đoạt một vật có ý nghĩa đặc biệt thiêng liêng đối với
người khác; thủ phạm có sử dụng vũ khí, vật liệu nổ hay các chất tương tự; hành vi
phạm tội có mang tính chất đặc biệt nguy hiểm hoặc liều lĩnh, thủ phạm có mưu
chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc gây mất mát hoặc thiệt hại nghiêm trọng hay
không.
Trong Bộ luật hình sự của Thụy

so
với pháp luật hình sự Việt Nam. Mức tối thiểu của hình phạt tù giam được quy
định trong pháp luật hình sự Thụy
đ
iển
tương đối thấp.
Trung tâm Học liệu ĐH Cần Thơ @ Tài liệu học tập và nghiên
cứu

Trích đoạn So sánh tội trộm cắp tài sản với tội chiếm giữ trái phép tài sản Tình hình tội trộm cắp tài sản trên một số địa bàn nhất định Những bất cập trong giải quyết vụ án trộm cắp tài sản
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status