quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay - Pdf 26

Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Gia đình là tế bào của xã hội, sự ổn định và phát triển lành mạnh của gia
đình sẽ góp phần vào sự phát triển chung của toàn bộ xã hội. Mỗi gia đình được
xây dựng dựa trên những sợi dây liên kết của hôn nhân, huyết thống và nuôi
dưỡng trong đó quan hệ hôn nhân có thể xem là quan hệ nền tảng. Nhận định
được vị trí của gia đình trong xã hội, Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng quan
tâm đến việc xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc qua việc ban hành, hoàn
thiện các quy phạm pháp luật, điều chỉnh quan hệ hôn nhân và gia đình cho phù
hợp với sự phát triển của xã hội. Trong quan hệ vợ chồng, bên cạnh đời sống
tình cảm, tình yêu thương lẫn nhau, không thể không quan tâm tới đời sống vật
chất. Quan hệ tài sản giữa vợ chồng là một vấn đề hết sức quan trọng, nó là một
trong những tiền đề giúp cho vợ chồng xây dựng cuộc sống hạnh phúc, đáp ứng
những nhu cầu về vật chất, tinh thần cho gia đình. Bản chất của quan hệ hôn
nhân và gia đình là các yếu tố nhân thân và tài sản gắn liền với các chủ thể nhất
định, không thể tách rời và không có tính đền bù ngang giá do đó đã làm nảy
sinh các quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ với nhau mà quyền sở hữu tài sản
của vợ chồng là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hôn nhân và gia
đình.
Cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội, các quy định của pháp luật hiện
nay nói chung và Luật hôn nhân và gia đình nói riêng ở nước ta ngày càng được
hoàn thiện, đáp ứng được đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa. Các quy định đó
từng bước đi vào cuộc sống, phát huy được hiệu quả điều chỉnh, củng cố chế độ
hôn nhân và gia đình Việt Nam. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đã đạt được
thì việc áp dụng quy định của pháp luật vào thực tiễn không tránh khỏi những
vướng mắc, khó khăn trong việc giải quyết các tranh chấp liên quan đến tài sản
ở các cấp Tòa án. Do vậy, việc nghiên cứu vấn đề quyền sở hữu tài sản của vợ
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
chồng ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc nhằm đảm bảo

4. Phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu, đánh giá các vấn đề trong khóa luận dựa trên cơ sở
phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lê Nin về chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh.
Để đạt được mục đích nghiên cứu tác giả có sử dụng kết hợp nhiều phương pháp
như: phân tích, tổng hợp, so sánh…
5. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo khóa luận còn
có phần nội dung được cơ cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền sở hữu tài sản của vợ
chồng
Chương 2: Một số vấn đề về pháp luật điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của
vợ chồng ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định pháp luật về quyền
sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện nay

Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN SỞ HỮU TÀI SẢN
CỦA VỢ CHỒNG
1.1. Khái niệm tài sản và quyền sở hữu tài sản của vợ chồng
1.1.1. Khái niệm tài sản
Theo Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 (sau đây viết tắt là BLDS năm
2005): “ tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”.
Trong đó:
- Vật được hiểu là cái có hình khối, tồn tại trong không gian, có thể nhận
biết được.
Vật có thực chính là đối tượng của thế giới vật chất theo nghĩa rộng bao
gồm cả động vật, thực vật, vật với ý nghĩa vật lý ở mọi trạng thái (rắn, lỏng,
khí). Với ý nghĩa là một phạm trù pháp lý, vật là bộ phận của thế giới vật chất

Theo pháp luật hôn nhân và gia đình, tài sản của vợ chồng có thể được hiểu
là vật và những lợi ích vật chất khác thuộc quyền của vợ chồng, bao gồm vật có
thực, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản.
Tuy nhiên, nếu hiểu theo khái niệm này, thì tài sản của vợ chồng mới chỉ
nhắc tới tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng mà không bao gồm tài sản nợ
thuộc nghĩa vụ của vợ chồng [22, tr7]. Vì khi tham gia vào các quan hệ dân sự,
họ có thể xác lập các quyền về tài sản, đồng thời cũng phải chịu trách nhiệm về
các nghĩa vụ tài sản phát sinh. Đó có thể là nghĩa vụ chung hoặc nghĩa vụ riêng
của một bên vợ chồng. Việc thực hiện nghĩa vụ tài sản được bảo đảm bằng tài
sản chung hay bằng tài sản riêng là một vấn đề còn phát sinh nhiều tranh chấp
trong thực tế.
Do đó, tài sản của vợ chồng là vật và những lợi ích vật chất khác thuộc
quyền sở hữu của vợ chồng (bao gồm vật có thực, tiền, giấy tờ có giá và các
quyền tài sản) và những tài sản nợ thuộc nghĩa vụ tài sản của vợ chồng.
Pháp luật hôn nhân gia đình quy định về tài sản của vợ chồng nhằm cụ thể
hóa quy định quyền sở hữu tài sản trong BLDS và chế độ tài sản của vợ chồng
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
trong Luật hôn nhân gia đình năm 2000, phù hợp với sự vận động, phát triển của
gia đình, trình độ phát triển kinh tế xã hội.
Quyền sở hữu tài sản có thể hiểu theo hai nghĩa. Theo nghĩa rộng: Quyền
sở hữu tài sản là hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để
điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những tài sản khác theo quy định tại
Điều 163 BLDS. Hoặc theo nghĩa hẹp: Quyền sở hữu tài sản là mức độ xử sự
mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu,
sử dụng, định đoạt trong những điều kiện nhất định [18, tr178].
Tóm lại: Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh về tài sản của vợ chồng, bao gồm các quy định về căn cứ xác lập
tài sản, quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng,

Ví dụ: Giải quyết tranh chấp tài sản của vợ chồng khi ly hôn, khi một bên
vợ chồng chết trước cần phải chia tài sản chung hoặc giải quyết các món nợ của
vợ chồng đối với những người khác.
Như vậy, pháp luật quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng có ý nghĩa
vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh các quan hệ hôn nhân và gia đình, tạo
điều kiện để vợ chồng thực hiện các quyền và nghĩa vụ về tài sản trong suốt thời
kỳ hôn nhân, góp phần điều tiết, ổn định quan hệ tài sản trong các giao dịch dân
sự, kinh tế, thương mại.
1.2. Đăng ký tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng
Đăng ký quyền sở hữu tài sản của vợ chồng là công nhận và chứng thực
của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với tài sản nhằm xác định về mặt pháp
lý tài sản đó thuộc sở hữu chung hay sở hữu riêng của vợ chồng.
Đây được coi là một trong những biện pháp công khai các quyền về tài sản bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của chủ sở hữu đối với tài sản đó. Do đó, Điều 167 BLDS
năm 2005 quy định: quyền sở hữu đối với bất động sản được đăng ký theo quy
định pháp luật, quyền sở hữu đối với động sản không phải đăng ký trừ trường
pháp luật có quy định khác. Trên cơ sở này, khoản 2 Điều 27 Luật hôn nhân và
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
gia đình năm 2000 quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của
vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng
nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng. Đây là một trong những quy
định mới của Luật hôn nhân và gia đình 2000 liên quan đến quyền sở hữu của
vợ chồng đối với tài sản chung và những tài sản thuộc tài sản chung của vợ
chồng khi đăng ký quyền sở hữu phải ghi tên của cả hai vợ chồng gồm: nhà ở,
quyền sử dụng đất là các loại tài sản mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền
sở hữu (khoản 1 Điều 5 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP của chính phủ ngày 03
tháng 10 năm 2001 quy định chi tiết thi hành Luật hôn nhân và gia đình 2000
(sau đây viết tắt là Nghị định số 70/2001/NĐ-CP)
+ Nhà ở, quyền sử dụng đất là các loại tài sản có tính đặc thù. Theo Điều

ký quyền sở hữu, quyền sử dụng chỉ ghi tên một bên vợ hoặc chồng. Có trường
hợp vợ hoặc chồng là người nước ngoài không thuộc diện được sở hữu nhà hoặc
không thuộc diện được nhà nước giao đất thì dù nhà ở, quyền sử dụng đất là tài
sản chung của vợ chồng nhưng khi đăng ký vẫn chỉ ghi tên một bên vợ hoặc
chồng. Đối với phương tiện giao thông, thủ tục đăng ký khá phức tạp và liên
quan đến nhiều cơ quan nhà nước gây khó khăn cho việc đăng ký. Đối với tài
sản là quyền sở hữu trí tuệ, thì tài sản đó chỉ do một bên vợ hoặc chồng sáng tạo
ra trong thời kỳ hôn nhân nên theo quy định của pháp luật khi đăng ký chỉ ghi
tên vợ hoặc chồng sáng tạo ra tài sản đó.
- Chưa thấy được ý nghĩa và tầm quan trọng của giấy chứng nhận quyền
sở hữu tài sản đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích của vợ chồng [25, tr22].
Xuất phát từ thực tế trên, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, và Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao ngày 23
tháng 12 năm 2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật hôn nhân và
gia đình 2000 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP) đã có
hướng dẫn cụ thể:
Để bảo vệ quyền lợi chính đáng của các bên trong trường hợp tài sản
chung do vợ, chồng có được trong thời kỳ hôn nhân mà pháp luật quy định phải
đăng ký quyền sở hữu, nhưng trong giấy chứng nhận quyền sở hữu thường chỉ
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
ghi tên của vợ hoặc chồng, nếu không có tranh chấp thì đó là tài sản chung của
vợ chồng; nếu có tranh chấp là tài sản riêng thì người có tên trong giấy chứng
nhận quyền sở hữu phải chứng minh được tài sản này do thừa kế riêng, được
tặng riêng trong thời kỳ hôn nhân hoặc tài sản có được từ nguồn tài sản riêng.
Trong trường hợp không chứng minh được tài sản đang có tranh chấp này là tài
sản riêng thì đó là tài sản chung của vợ chồng (điểm 3b Nghị quyết số
02/2000/NQ-HĐTP).
Hiện nay, có ý kiến cho rằng áp dụng nguyên tắc suy đoán để giải quyết
trình trường hợp này không thỏa đáng, cả hai bên đều phải có nghĩa vụ chứng

hợp nhất đó.
Bên cạnh đó, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 còn quy định hai
trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng. Đó là chia tài sản chung khi vợ
hoặc chồng chết trước và chia tài sản chung khi vợ chồng ly hôn.
Việc quy định quyền sở hữu tài sản vợ chồng theo quy định của Luật hôn
nhân và gia đình năm 1959 là hoàn toàn phù hợp với điều kiện kinh- tế xã hội
lúc bấy giờ, đặc biệt trong việc bảo vệ lợi ích chung của gia đình, giải phóng
phụ nữ thoát khỏi sự bất bình đẳng trong quan hệ gia đình nói chung và quan hệ
sở hữu nói riêng.
1.3.2. Quyền sở hữu tài sản của vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ
năm 1986
Sau gần ba mươi năm thực hiện Luật hôn nhân và gia đình năm 1959, đất
nước ta bắt đầu bước vào thời kì đổi mới, các quan hệ xã hội ngày càng phong
phú, đa dạng, đặc biệt là về mặt kinh tế. Để đảm bảo thực sự quyền tự định đoạt
của công dân, ngày 29 -12-1986 tại kỳ họp thứ 12 Quốc hội khóa VII đã thông
qua Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 gồm 10 chương 57 điều. Luật hôn
nhân và gia đình năm 1986 quy định quyền sở hữu tài sản của vợ chồng được
thực hiện theo chế độ tài sản pháp định, trong đó có quy định khác về căn bản
so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 (như: dự liệu trường hợp chia tài sản
chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân, ghi nhận vợ chồng có quyền có tài
sản riêng...).
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
Các quan hệ liên quan đến tài sản của vợ chồng rất phức tạp, trong khi
Luật Hôn nhân và gia đình năm 1986 vẫn mang tính khái quát cao và khó áp
dụng trong việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ chồng...Tình hình đó
đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 một
cách đầy đủ, toàn diện. Do đó, trên cơ sở Hiến pháp năm 1992, Luật hôn nhân
và gia đình năm 2000 đã được ban hành và đây cũng chính là văn bản pháp luật
chính, chủ yếu điều chỉnh quyền sở hữu tài sản của vợ chồng ở Việt Nam hiện

Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất.
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng mà pháp luật quy
định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy chứng nhận quyền sở hữu phải ghi
tên của cả hai vợ chồng.
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung.
Theo đó, pháp luật đã dự liệu về căn cứ, nguồn gốc, thành phần các loại tài
sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng. Đặc biệt, pháp luật quy định cả nguyên
tắc suy đoán để xác định những tài sản giữa vợ chồng đang có tranh chấp nhưng
không đủ cơ sở chứng minh là tài sản riêng của vợ chồng thì được coi là thuộc
khối tài sản chung của vợ chồng (khoản 3 Điều 27). Đây là quy định mới của
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000.
Như vậy, các căn cứ xác định tài sản chung của vợ chồng bao gồm:
- Thời điểm phát sinh tài sản chung của vợ chồng
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 khi quy định về tài sản chung của vợ
chồng dựa trên hai nguyên tắc: tài sản chung chỉ hình thành từ khi có sự kiện kết
hôn và sẽ không còn khi hôn nhân chấm dứt. Khi hôn nhân còn tồn tại về mặt
pháp lý, thì tính chất cộng đồng của hôn nhân cũng vẫn còn tồn tại. Tính chất
cộng đồng này dẫn đến vợ, chồng phải chung sức, chung lòng, chung ý chí trong
việc tạo lập khối tài sản chung. Do đó, những tài sản được xác lập trong “thời kỳ
hôn nhân” được xác định là tài sản chung của họ (trừ những tài sản mà pháp luật
quy định thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng).
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, tính từ
ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân (khoản 7 Điều 8 Luật hôn
nhân và gia đình năm 2000 ).
Như vậy, thời kỳ hôn nhân được tính từ khi hai bên nam nữ kết hôn, việc
kết hôn đó được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận theo thủ tục và các
điều kiện luật định.

dứt hôn nhân chưa có hiệu lực pháp luật thì quan hệ hôn nhân vẫn tồn tại trước
pháp luật. Những tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
gia đình năm 2000 phát sinh trong thời gian này về nguyên tắc được xác định là
tài sản chung của vợ chồng.
- Dựa vào nguồn gốc tài sản
+ Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng được xác lập dựa vào nguồn gốc tài
sản gồm các tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân: Đây là loại tài
sản phổ biến trong khối tài sản của vợ chồng. Sau khi kết hôn, quan hệ vợ chồng
được xác lập, vợ chồng cùng chung sức, đồng lòng trong việc tạo dựng tài sản
để nuôi sống gia đình, bảo đảm các nhu cầu của đời sống chung, đáp ứng nghĩa
vụ chăm sóc lẫn nhau, nuôi dưỡng và giáo dục các con. Tài sản do vợ chồng tạo
ra, có thể được hiểu là tài sản do cả hai vợ chồng hoặc do một bên vợ hoặc
chồng lao động trực tiếp bằng sức lao động của mình để tạo ra tài sản cho gia
đình (Ví dụ: đóng bàn ghế, giường tủ, xây dựng nhà ở...). Cũng có thể được hiểu
là vợ chồng sử dụng tiền bạc của mình thuê người khác trực tiếp tạo ra tài sản đó
hoặc mua sắm các tài sản đó, chuyển quyền sở hữu từ người khác sang quyền sở
hữu của vợ chồng (mua nhà ở, tivi, ô tô, xe máy ...) thì những tài sản đó cũng
được coi là tài sản do vợ chồng tạo ra.
+ Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng bao gồm những thu nhập hợp pháp của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (đây được coi là loại tài sản chủ yếu thuộc tài
sản chung của vợ chồng). Kế thừa Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986,
khoản 1 Điều 27 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: Thu nhập do
lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh và những thu nhập hợp pháp khác của
vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân cũng là tài sản chung của vợ chồng.
Theo từ điển Tiếng Việt, thu nhập là: “nhận được tiền bạc, của cải vật
chất từ một hoạt động nào đó”, còn theo từ điển thuật ngữ về thuế thì thu nhập
là: “quyền lợi kinh tế, tiền hay giá trị nhận được”.
Như vậy có thể hiểu: thu nhập của vợ chồng là những lợi ích vật chất mà

trong di chúc của người chết tuyên bố tặng cho hay để lại thừa kế cho hai vợ
chồng mà không phân biệt tỷ lệ tài sản, phần quyền mà mỗi bên được hưởng.
Nếu có xác định rõ tỷ lệ đó từ trước thì về nguyên tắc những tài sản đó sẽ thuộc
tài sản riêng của vợ chồng và chúng chỉ trở thành tài sản chung của vợ chồng khi
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
vợ chồng tự nguyện nhập khối tài sản đó vào khối tài sản chung hay thỏa thuận
đó là tài sản chung.
+ Thứ tư, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm quyền sử dụng đất mà
vợ chồng có được sau khi kết hôn: Quyền sử dụng đất là loại quyền đặc thù, theo
quy định tài Điều 688 BLDS năm 2005: “Đất đai thuộc hình thức sở hữu Nhà
nước, do Chính phủ thống nhất quản lý. Quyền sử dụng đất của cá nhân, pháp
nhân, hộ gia đình, chủ thể khác được xác lập do Nhà nước giao đất, cho thuê đất
hoặc công nhận quyền sử dụng đất”. Do đó, vợ chồng chỉ có được quyền tài sản
này khi được nhà nước giao đất hay cho thuê đất. Xuất phát từ tính đặc thù, tầm
quan trọng và vị trí đặc biệt của quyền sử dụng đất trong đời sống gia đình, Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000 đã có quy định cụ thể về loại tài sản này mà
trước đó Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 chưa có quy định: “Quyền sử
dụng đất mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng trừ
trường hợp được thừa kế riêng”.
Như vậy, cũng có thể hiểu, quyền sử dụng đất mà cả vợ chồng hoặc mỗi
bên vợ hay chồng được Nhà nước giao khoán, cho thuê, hay nhận thế chấp từ
người khác... là tài sản chung của vợ chồng. Quyền sử dụng đất mà vợ hoặc
chồng có được trước khi kết hôn, được thừa kế riêng chỉ là tài sản chung khi vợ,
chồng có thỏa thuận.
+ Thứ năm, tài sản chung của vợ chồng còn bao gồm những tài sản được
vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung
Trong đời sống chung của vợ chồng, để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia
đình vợ chồng đã tự nguyện nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung hoặc vợ
chồng đã thỏa thuận tài sản riêng của một trong hai bên là tài sản chung của vợ

bằng trên cơ sở vì lợi ích chung của gia đình và vợ chồng.
Tuy nhiên, với tư cách là một nguyên tắc suy đoán, tác dụng của nguyên tắc
này chỉ dừng lại ở chỗ thiết lập một sự suy đoán, không có ý nghĩa khẳng định
chắc chắn tất cả tài sản trong thời kỳ hôn nhân đều là tài sản chung của vợ
chồng. Mặt khác, nguyên tắc này còn có ý nghĩa như một trở ngại không những
đối với vợ, chồng trong việc chứng minh tài sản là của riêng, mà còn là trở ngại
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
đối với người thứ ba, cụ thể là các chủ nợ riêng của vợ, chồng (các chủ nợ chỉ
được đảm bảo thanh toán bằng tài sản riêng) trong việc yêu cầu kê biên tài sản
riêng. Các chủ nợ riêng này muốn kê biên tài sản riêng của vợ, chồng mắc nợ,
buộc phải chứng minh tài sản mà họ yêu cầu kê biên là tài sản riêng của người
mắc nợ

[21].
Do đó, để bảo vệ lợi ích gia đình và tạo cơ sở pháp lý để giải quyết tranh
chấp, bảo đảm nguyên tắc công bằng hợp lý, khoản 3 Điều 27 Luật hôn nhân và
gia đình năm 2000 đã quy định: Trong trường hợp tài sản thuộc sở hữu chung
của vợ chồng mà pháp luật quy định phải đăng ký quyền sở hữu thì trong giấy
chứng nhận quyền sở hữu phải ghi tên của cả vợ chồng.
Thực hiện đúng quy định này góp phần công khai, minh bạch khối tài sản
của vợ chồng, bảo vệ quyền lợi đúng đắn của các bên khi phát sinh tranh chấp.
Qua phân tích trên có thể thấy:
+ Tài sản chung của vợ chồng không cần phải do cả hai vợ chồng cùng
trực tiếp tạo ra tài sản đó,
+ Tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào điều
kiện vợ chồng ở chung hay ở riêng mà chỉ cần đó là tài sản do vợ chồng tạo ra
trong thời kỳ hôn nhân,
+ Vợ chồng có quyền bình đẳng khi thực hiện quyền sở hữu đối với khối
tài sản chung đó mà không phụ thuộc vào công sức đóng góp.

Xuất phát từ tính chất của cuộc sống chung, mọi vấn đề liên quan đến
cuộc sống gia đình đều phải gắn liền với lợi ích, nhu cầu chung của mọi thành
viên trong gia đình. Do đó, vợ chồng cùng bàn bạc, thỏa thuận sử dụng tài sản
chung nhằm đảm bảo cuộc sống chung của vợ chồng, bảo đảm nghĩa vụ nuôi
dưỡng con cái cũng như quyền lợi của các thành viên khác trong gia đình.
Do tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và cuộc sống chung của vợ
chồng đòi hỏi vợ chồng phải thực hiện các giao dịch dân sự với những người
khác liên quan đến tài sản chung, nên khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia
đình năm 2000 còn quy định cụ thể: “Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc là nguồn sống duy
nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ
chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh
riêng theo quy định tại khoản 1 Điều 29 của Luật này”.
Theo khoản 3 Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP: Tài sản có giá trị lớn
của vợ chồng được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tài
sản chung của vợ chồng.
Tài sản là nguồn sống duy nhất của gia đình có thể hiểu là tài sản duy nhất
của vợ chồng có giá trị đáp ứng nhu cầu cho cuộc sống chung của gia đình.
Vì vậy, để đảm bảo lợi ích chung của gia đình, Điều 4 Nghị định số
70/2001/NĐ-CP đã cụ thể hóa khoản 3 Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 thông qua quy định: Các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của
vợ chồng mà có “giá trị lớn” hoặc giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt
tài sản riêng thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào
sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất
của gia đình đều phải có sự thỏa thuận của vợ chồng theo đúng hình thức mà
pháp luật quy định.
Trong trường hợp vợ hoặc chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các
giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung của vợ chồng mà không có sự đồng

và chồng cùng ký tên vay hoặc khi vay phải hỏi ý kiến người kia, và khi hậu quả
xảy ra, thì cả vợ và chồng đều phải liên đới trách nhiệm trong việc trả nợ, đó là
nợ chung của vợ và chồng. Trường hợp có tranh chấp, chẳng hạn như một bên
vay để tiêu xài chung mà bên kia không đồng ý liên đới trả nợ, thì người vay
mượn có nghĩa vụ phải chứng minh việc vay mượn là để đáp ứng nhu cầu sinh
hoạt thiết yếu trong gia đình.
Như vậy, quy định tại Điều 25, Điều 28 Luật hôn nhân và gia đình năm
2000 và Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý trong thực tiễn áp
dụng Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 liên quan đến các quy định về các
giao dịch dân sự trong BLDS.
Đại học Luật Hà Nội
Khóa luận tốt nghiệp Nguyễn Thị Thìn - DS31D
2.1.3. Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng
- Chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân (Điều 29 Luật
hôn nhân và gia đình năm 2000)
Theo nguyên tắc chung, chế độ tài sản chung của vợ chồng chỉ tồn tại
trong thời kỳ hôn nhân. Tuy nhiên, trong thực tế nhiều cặp vợ chồng vì những lý
do khác nhau muốn được chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (có thể xuất
phát từ việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung hoặc do có mâu thuẫn về
mặt tình cảm... nhưng không muốn ly hôn mà muốn độc lập về tài sản).
Xuất phát từ thực tế trên, Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 (Điều 29,
Điều 30) trên cơ sở kế thừa và phát triển Luật hôn nhân và gia đình năm 1986
(Điều 18) tiếp tục quy định chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn
nhân: Khi hôn nhân tồn tại, trong trường hợp vợ chồng đầu tư kinh doanh riêng,
thực hiện nghĩa vụ dân sự riêng hoặc có lý do chính đáng khác thì vợ chồng có
thể thỏa thuận chia tài sản chung; việc chia tài sản chung phải lập thành văn
bản; nếu không thỏa thuận được thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
Theo đó, trong trường hợp có lý do chính đáng, việc chia tài sản chung
của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân có thể được thực hiện thông qua thỏa thuận
bằng văn bản giữa vợ chồng hoặc bằng bản án, quyết định của tòa án. Khi chia

trên cơ sở kế thừa và phát triển Điều 18 Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 :
“Các trường hợp chia tài sản chung của vợ chồng khi hôn nhân đang tồn tại đều
do Toà án quyết định”, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cho phép hai vợ
chồng thỏa thuận chia tài sản chung bằng văn hoặc yêu cầu tòa án giải quyết.
Tuy nhiên, Luật Hôn nhân và gia đình không quy định nguyên tắc chia.
Xuất phát từ đặc điểm hình thức sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng,
trong đó tỷ lệ tài sản của mỗi bên vợ chồng trong khối tài sản chung là ngang
nhau. Pháp luật cần phải quy định cụ thể nguyên tắc chia tài sản chung của vợ
chồng theo nguyên tắc chia đôi tài sản chung của vợ chồng, trong đó có xem xét
công sức đóng góp của mỗi bên vợ chồng để tạo cơ sở pháp lý thống nhất áp
dụng trong thực tiễn.
Đại học Luật Hà Nội

Trích đoạn Xác định tài sản của vợ chồng trong quan hệ “hôn nhân thực tế
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status