nghiên cứu - trao đổi
60 Tạp chí luật học số tháng 3/2003
Dơng Tuyết miên *
1. Khái niệm tội phạm kinh tế
Các tội phạm kinh tế gây ra hoặc đe doạ gây ra
thiệt hại cho nền kinh tế nói chung cũng nh
cho từng lĩnh vực, từng ngành kinh tế nói
riêng, làm rối loạn trật tự quản lí kinh tế, ảnh
hởng xấu về chính trị, kinh tế văn hoá x hội.
Mặt khác, các tội phạm kinh tế còn gây thiệt
hại đến sức khoẻ, tài sản thậm chí tính mạng
của công dân. Nh vậy, tội phạm kinh tế đ có
tác động tiêu cực đối với lợi ích cả cộng đồng
chứ không đơn thuần gây thiệt hại đến lợi ích
của cá nhân nào đó. Tội phạm kinh tế còn làm
xói mòn niềm tin của quần chúng nhân dân
vào hiệu lực của bộ máy nhà nớc cũng nh hệ
thống pháp luật hiện hành.
Xu thế toàn cầu hoá trên thế giới hiện nay
đ tác động nhất định đối với tội phạm kinh tế
ở Việt Nam. Các tội phạm kinh tế ngày nay
không chỉ xuất hiện trong phạm vi quốc gia
riêng lẻ nào đó mà chúng mang tính chất quốc
tế. Hàng loạt các yếu tố nh sự tăng cờng hợp
tác trong các lĩnh vực nhất là trong lĩnh vực
kinh tế giữa các quốc gia trên thế giới, tự do
quỹ và vốn đầu t của các nhà kinh doanh
trong nớc và nớc ngoài. Khi các tổ chức
tội phạm ở các nớc có sự móc nối, liên kết
với nhau thì thiệt hại do bọn tội phạm gây
ra không chỉ trong quốc gia riêng lẻ nào đó
mà nó có thể dẫn đến phản ứng dây chuyền
là hàng loạt các quốc gia bị thiệt hại nặng
nề về kinh tế.
* Giảng viên Khoa t pháp
Trờng đại học luật Hà Nội
nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003 61
Tóm lại, tội phạm kinh tế gây thiệt hại rất
lớn không chỉ đến lợi ích của từng quốc gia,
của tổ chức cũng nh cá nhân công dân mà còn
có thể gây thiệt hại cho lợi ích của các quốc
gia trong khu vực cũng nh toàn cầu. Chính vì
vậy, đấu tranh phòng chống tội phạm kinh tế là
vô cùng cần thiết, đó không chỉ là nhiệm vụ
của từng quốc gia riêng lẻ mà còn đòi hỏi các
quốc gia phải hợp tác với nhau trong việc đấu
tranh phòng chống tội phạm kinh tế.
Tội phạm kinh tế ở Việt Nam hiện nay
diễn biến ngày càng phức tạp. Trong năm 2002,
lực lợng cảnh sát kinh tế trong cả nớc đ
phát hiện, điều tra 9.921 vụ tội phạm kinh tế
đầu tiên phải tiếp cận là khái niệm tội phạm
kinh tế. Theo luật hình sự Việt Nam, tội phạm
kinh tế chỉ đợc quy định trong Bộ luật hình sự
và không đợc quy định ở các văn bản pháp lí
chuyên ngành. Trên thực tế, thuật ngữ "tội
phạm kinh tế" thờng đợc sử dụng nhng ít
khi đợc định nghĩa. Tội phạm kinh tế trớc
hết là tội phạm chứ không đơn thuần là hoạt
động nào đó bị coi là tội phạm chỉ vì nhà lập
pháp muốn trừng trị loại hoạt động đó do họ
không a. Trên thực tế, khái niệm tội phạm
kinh tế khó đợc xác định một cách rõ ràng.
Bởi vì, trong thời đại ngày nay, đời sống kinh
tế x hội biến đổi không ngừng cho nên nhiều
loại tội mới sẽ xuất hiện. Chính vì vậy bất cứ
khái niệm nào cũng đều phải căn cứ vào tính
chất của hoạt động sai trái chứ không phải căn
cứ vào đặc tính kinh tế hoặc x hội của ngời
phạm tội. ở nhiều nớc trên thế giới, thuật ngữ
"tội phạm kinh tế thờng đợc sử dụng nhng
cũng ít khi đợc định nghĩa. Trớc đây, tội
phạm kinh tế thờng đợc cho là tội phạm cổ
cồn trắng bởi vì tội phạm này chỉ có ở tầng lớp
trung, thợng lu hoạt động thơng mại hay
hoạt động trong bộ máy nhà nớc. Khi Bộ luật
hình sự năm 1985 còn hiệu lực thì quan điểm
phổ biến đợc lu hành trong giáo trình giảng
dạy ở bậc đại học cho rằng: "Tội phạm kinh tế
là các hành vi nguy hiểm cho x hội xâm phạm
đến nền kinh tế quốc dân, gây thiệt hại đến lợi
niệm tội phạm kinh tế đợc hiểu theo hai
nghĩa: Nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa
rộng thì tội phạm kinh tế không chỉ bao gồm
các tội trong chơng các tội xâm phạm trật tự
quản lí kinh tế mà còn bao gồm một số tội
phạm khác có liên quan đến tài sản nh tội
lạm dụng tín nhiệm, tội lừa đảo, nhóm tội
phạm tham nhũng Theo nghĩa hẹp thì tội
phạm kinh tế chỉ bao gồm các tội trong chơng
các tội xâm phạm trật tự quản lí kinh tế.
Để đấu tranh phòng chống tội phạm kinh
tế ở nớc ta đạt hiệu quả cao thì cần phải nhận
diện đợc loại tội phạm này và phân biệt với
loại tội phạm khác. Tội phạm kinh tế có các
đặc điểm sau:
- Các tội phạm kinh tế mang tính kĩ thuật
cao và phức tạp.
Các tội phạm kinh tế thờng xảy ra trong
những lĩnh vực chuyên môn phức tạp nh tài
chính ngân hàng, sở hữu công nghiệp, thuế,
chứng khoán, đấu thầu do đó, ngời phạm tội
thờng là ngời có học thức, khá hiểu biết về
lĩnh vực chuyên ngành. Để thực hiện tội phạm
trót lọt cũng nh để che giấu hành vi phạm tội,
ngời phạm tội thờng thực hiện tội phạm với
thủ đoạn chuyên môn, nghiệp vụ rất tinh vi xảo
quyệt, không phải trờng hợp nào cơ quan
chức năng cũng khám phá ra dễ dàng.
- So với một số loại tội phạm khác, tội
phạm kinh tế khó xác định đợc nạn nhân cụ
và nền kinh tế thị trờng. Nhiều tội phạm kinh
tế xảy ra do kết quả của sự quản lí yếu kém,
quan liêu của một số cơ quan nhà nớc, một số
quy định của pháp luật còn lỏng lẻo và một số
quy định khác còn xa rời thực tế. nghiên cứu - trao đổi
Tạp chí luật học số tháng 3/2003 63
2. Những khó khăn trong đấu tranh
phòng chống tội phạm kinh tế ở Việt Nam
hiện nay
- Về luật pháp, các quy định về tội phạm
kinh tế hiện nay cha đồng bộ với hệ thống
pháp luật chung nhất là với pháp luật về quản lí
kinh tế của Nhà nớc. Các quy định về tội
phạm kinh tế của Nhà nớc ta cha có sự phối
hợp chặt chẽ với quy định của luật chuyên
ngành nh luật tài chính nhân hàng, luật đất
đai, luật môi trờng, pháp luật sở hữu trí tuệ,
luật đầu t Các quy định về tội phạm kinh tế
hiện nay chủ yếu mang tính đối phó tức thời
hơn là mang tính dự phòng trớc.
- Nạn nhân của các tội phạm kinh tế
thờng chỉ phát hiện ra hành vi phạm tội sau
một thời gian đáng kể đ trôi qua. Điều này
gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử
ngời phạm tội.
- Trên thực tế, nạn nhân của các tội phạm
tin học vẫn còn rất hạn chế. Điều này ảnh
hởng không nhỏ đến công tác đấu tranh
phòng chống tội phạm kinh tế ở nớc ta.
- Sự hợp tác giữa Việt Nam với các nớc
có kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội
phạm kinh tế còn hạn chế, các chơng trình
trao đổi chuyên gia nhằm nâng cao trình độ
chuyên môn của cán bộ chức năng ở nớc ta
còn quá ít so với yêu cầu thực tế.
3. Một số biện pháp đấu tranh phòng
chống tội phạm kinh tế ở nớc ta
a. Hoàn thiện BLHS trong đó có các quy
định về tội phạm kinh tế
Bộ luật hình sự hiện hành là bộ luật đợc
sửa đổi, bổ sung một cách toàn diện nhất so
với những lần sửa đổi trớc đó. Đây thực sự là
cơ sở pháp lí quan trọng trong đấu tranh phòng
chống tội phạm nói chung cũng nh tội phạm
kinh tế nói riêng. Tuy nhiên, trớc xu thế toàn
cầu hoá nh đ phân tích ở trên, tội phạm kinh
tế càng trở nên nguy hiểm hơn. Do vậy, hoàn
thiện các quy định của Bộ luật hình sự là hoàn
toàn cần thiết nhằm đáp ứng những yêu cầu
của tình hình mới mà trớc hết là sớm khắc
phục những hạn chế của Bộ luật này. Những
hạn chế đó thể hiện ở các điểm sau:
- Nhiều hành vi nguy hiểm mới xuất hiện
nhng vẫn cha bị coi là tội phạm và cha
muốn vay vốn để có điều kiện kinh doanh đ
thuê các đơn vị kiểm toán không thuộc kiểm
toán nhà nớc để cố ý nâng cao hơn giá trị thế
chấp của mình bằng kết quả kiểm toán. Do các
đơn vị kiểm toán ấy không phải chịu trách
nhiệm trớc pháp luật về kết quả kiểm toán của
mình cho nên họ làm sai cũng không phải chịu
trách nhiệm gì. Do vậy, có đơn vị kiểm toán
độc lập đ tạo giá trị ma cho Tổng kho Sóng
Thần của Tăng Minh Phụng lên đến 163 tỉ
đồng trong khi hội đồng định giá của Nhà nớc
xác định chỉ là 50 tỉ đồng. Theo pháp luật hiện
hành có 3 loại kiểm toán:
- Kiểm toán tuân thủ: Mục đích là nhằm
kiểm tra xem tổ chức kinh tế đ tuân thủ các
quy định của hội đồng quản trị, các luật lệ của
Nhà nớc nh thế nào.
- Kiểm toán các hoạt động nhằm xem xét
tính hữu hiệu và các ảnh hởng có liên quan
đến hoạt động đợc kiểm toán.
- Kiểm toán các báo cáo tài chính: Đây là
loại phổ biến nhất nhằm vào các báo cáo tài
chính của đơn vị có trung thực hợp lí so với các
chuẩn mực kế toán và đáng tin cậy hay không
(trờng hợp kiểm toán của Minh Phụng thuộc
dạng này). Điều đáng nói trong báo cáo kết
quả kiểm toán, công ti kiểm toán chỉ xác nhận
các mức độ hợp lí và phù hợp với chuẩn mực
kế toán trên các tài liệu có sẵn, không chịu
trách nhiệm về nội dung những báo cáo mà các
tội phạm trong lĩnh vực này trong khi các vi
phạm trong lĩnh vực chứng khoán và thị trờng
chứng khoán đ và đang xuất hiện.
+ Trong lĩnh vực cạnh tranh
Hiện nay, hầu hết các nớc trên thế giới
đều có luật chống độc quyền và cạnh tranh bất
hợp pháp trong đó quy định nhiều hành vi là
tội phạm. Trong khi đó ở Việt Nam các hành vi
độc quyền, cạnh tranh không lành mạnh xảy ra
khá phổ biến nh: Quảng cáo nói xấu sản
phẩm của hng khác, ỷ thế mình vốn lớn để hạ
giá hàng hoá xuống thấp quá mức nhằm bóp
chết các cơ sở sản xuất nhỏ, sau khi chiếm lĩnh
thị trờng lại tăng giá hàng hoá gây thiệt hại
cho ngời tiêu dùng hoặc hạ giá đấu thầu
xuống mức thái quá khiến các doanh nghiệp
khác phải bỏ cuộc nhng sau khi trúng thầu lại
bán lại cho doanh nghiệp khác hởng phí trung
gian làm cho chất lợng các công trình đấu
thầu xuống thấp Kết quả là các hành vi nói
trên gây mất ổn định nền kinh tế, gây thiệt hại
cho lợi ích của Nhà nớc, các tổ chức và công
dân. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, Bộ luật
hình sự vẫn cha có quy định gì về tội phạm
trong lĩnh vực chống độc quyền và cạnh tranh
không lành mạnh.
- Theo Bộ luật hình sự năm 1999, phạt tiền
là hình phạt đợc áp dụng tơng đối phổ biến
đối với các tội phạm kinh tế. Tuy nhiên, trên
thực tế, phạt tiền lại là hình phạt mang tính khả
quan hệ giữa phạt tù và phạt tiền khiến cho
phạt tiền cha có tính khả thi trên thực tế. Vấn
đề này cần đợc nghiên cứu nghiêm túc và
sớm đợc giải quyết triệt để nâng cao tính khả
thi của hình phạt tiền trong giai đoạn hiện nay.
Tuy nhiên, cần phải hiểu rằng hoàn thiện
pháp luật hình sự quy định về tội phạm kinh tế
phải song song với việc hoàn thiện Bộ luật hình
sự cũng nh các văn bản thuộc các lĩnh vực
kinh tế chuyên ngành. Có nh vậy, Nhà nớc
ta mới có đủ cơ sở pháp lí để đấu tranh phòng
chống tội phạm kinh tế.
b. Một số biện pháp khác
- Sự lên án của công luận. nghiên cứu - trao đổi
66 Tạp chí luật học số tháng 3/2003
áp lực của công luận có giá trị to lớn và
cần phải phát huy mạnh mẽ bên cạnh biện
pháp trách nhiệm hình sự. Thông qua các
phơng tiện thông tin đại chúng nh báo chí,
đài phát thanh, truyền hình các vụ án kinh tế
sẽ đợc tờng thuật. Những ngời phạm tội
thờng không muốn bị hạ thấp danh dự, uy tín
của mình trớc công chúng. Việc bị đa ra
công khai trớc d luận sẽ làm ảnh hởng đến
danh dự, uy tín của họ cũng nh ảnh hởng
đến việc sản xuất kinh doanh của doanh
Khi xét xử vụ xâm phạm quyền sở hữu công
nghiệp thì nên lấy hội thẩm là cán bộ chuyên
môn của cục sở hữu công nghiệp, khi xét xử vụ
lừa đảo liên quan đến hoàn thuế VAT thì hội
thẩm phải là cán bộ chuyên trách của Tổng cục
thuế Không nên lấy hội thẩm nhân dân là cán
bộ hu trí - thờng là những ngời tuổi cao,
sức yếu khó có điều kiện nghiên cứu kĩ hồ sơ
vụ án trong khi tội phạm kinh tế vốn là những
tội phạm mang tính kĩ thuật cao và phức tạp. Ví
dụ: Trong vụ xét xử về tội lừa đảo liên quan
đến hoàn thuế VAT có một hội thẩm là giáo
viên cấp I đ về hu, một hội thẩm là cán bộ
của hội phụ nữ về hu, cả hai ngời này đều
không có trình độ chuyên sâu cũng nh hiểu
biết về quy định cũng nh chính sách thuế của
Nhà nớc thì hội đồng xét xử khó có thể xét xử
đúng đợc khi những hội thẩm này chiếm đa số.
- Về việc đào tạo, bồi dỡng trình độ chuyên
môn nghiệp vụ cho các thành viên của hội
đồng xét xử.
Hiện nay, có nhiều thẩm phán không nắm
vững đợc hết các quy định của các văn bản
pháp luật kinh tế chuyên ngành. Thậm chí có
thẩm phán còn không biết đến sự tồn tại của
văn bản pháp luật về lĩnh vực cụ thể nên trên
thực tế, nhiều thẩm phán còn lúng túng khi xét
xử về tội phạm kinh tế. Do vậy, cần thờng
xuyên cập nhật kiến thức pháp luật nhất là
pháp luật kinh tế cho các thẩm phán và hội