TIỂU LUẬN: Khoa học - công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH - HĐH ở Việt Nam potx - Pdf 12


TIỂU LUẬN:

Khoa học - công nghệ là nền tảng và
động lực của sự nghiệp CNH - HĐH ở
Việt Nam I. Đặt vấn đề Thế giới đã bước vào thế kỷ 21 với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học -
công nghệ (KH - CN). Ngày nay KH - CN được ứng dụng rất nhiều vào cuộc

Quá trình phát triển nền kinh tế nước ta đầu thế kỷ XXI trong điều kiện
của kinh tế tri thức theo tinh thần Đại hội Đảng IX là “Công nghiệp hóa gắn với
hiện đại hóa ngay từ bây giờ và trong suốt các giai đoạn. Nâng cao hàm lượng tri
thức trong các nhân tố phát triển kinh tế - xã hội, từng bước phát triển kinh tế tri
thức ở nước ta”. [Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX].
Tại Đại hội lần thứ IX, Đảng ta đã đưa ra chiến lược phát triển kinh tế nêu
rõ: “Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ
công nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh
thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn, phổ biến hơn những thành
tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”. [Văn
kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ IX - NXB Chính trị Quốc gia Hà Nội,
2001].
Do đó KH - CN được coi là nền tảng và động lực của sự nghiệp CNH -
HĐH ở Việt Nam. Nhiệm vụ phát triển tri thức KH - CN là một nhiệm vụ cấp
thiết hiện nay, và gắn chặt hơn nữa KH - CN với kinh tế xã hội.
II. Giải quyết vấn đề
1. Nội dung lý luận triết học
a. ý thức
Trong lịch sử triết học, triết học duy tâm quan niệm ý thức là một thực thể
độc lập, là thực tại duy nhất, từ đó cường điệu tính năng động của ý thức đến mức
coi ý thức sinh ra vật chất chứ không phải là sự phản ánh của vật chất. Còn các
nhà triệt học duy vật đều thừa nhận vật chất tồn tại khách quan và ý thức là sự
phản ánh sự vật đó. Tuy nhiên, do ảnh hưởng bởi quan niệm siêu hình - máy móc
nên họ đã coi ý thức là sự phản ánh sự vật một cách thụ động, giản đơn, máy
móc, mà không thấy được tính năng động sáng tạo của ý thức, tính biện chứng
của quá trình phản ánh.
Khách với các quan điểm trên, chủ nghĩa duy vật biện chứng dựa trên cơ

và ý thức, làm mất ý nghĩa của đối lập giữa vật chất và ý thức, từ đó dẫn đến làm
mất đi sự đối lập giữ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Thứ hai, khi nói cái phản ánh - tức ý thức - là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan, thì nó không phỉa là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động
vật về sự vật. ý thức là của con người, mà con người là một thực thể xã hội năng
động sáng tạo. ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thé giới,
cho nên ý thức con người mang tính năng động, sáng tạo lại hiện thực theo nhu
cầu thực tiễn xã hội. Theo C.Mac, ý thức “chẳng qua chỉ là vật chất được đem
chuyển vào trong đầu óc con người và được cải biến đi trong đó”
(1)
.
Tính sáng tạo của ý thức thể hiện ra rất phong phú. Trên cơ sở những cái
đã có trước, ý thức có khả năng tạo ra tri thức mới về sự vật, có thể tưởng tượng
ra cái không có trong thực tế, có thể tiên đoán, dự báo tương lai, có thể tạo ra
những ảo tưởng, những huyền thoại, những giả thuyết lý thuyết khoa học hết sức
trìu tượng và khái quát cao. Những khả năng ấy càng nói lên tính chất phức tạp
và phong phú của đời sống tâm lý - ý thức ở con người mà khoa học còn phải tiếp
tục đi sâu nghiên cứu để làm sáng tỏ bản chất của những hiện tượng ấy.
ý thức ra đời trong quá trình con người hoạt động cải tạo thế giới, cho nên
quá trình phản ánh hiện thực khách quan vào bộ óc người là quá trình năng động
sáng tạo thống nhất ba mặt sau:
Một là, trao đổi thông tin giữa chủ thể và đối tượng phản ánh. Sự trao đổi
này mang tính chất hai chiều, có định hướng, có chọn lọc các thông tin cần thiết.

(1)
C.Mác và Ph.Ăngghen: Toàn tập. Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993. t.23, tr. 35
Hai là, mô hình hóa đối tượng trong tư duy dưới dạng hình ảnh tinh thần.

Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học
thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức không phải có nguồn
gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất như các nhà thần học và
duy tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là một thuộc tính của vật chất,
nhưng không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng
vật chất có tổ chức cao là bộ óc con người. Bộ óc người là cơ quan vật chất của ý
thức. ý thức là chức năng của bộ óc con người. ý thức phụ thuộc vào hoạt động
bộ óc người, do đó khi óc bị tổn thương thì hoạt động của ý thức sẽ không bình
thường. Vì vậy, không thể tách rời ý thức ra khỏi hoạt động của bộ óc. ý thức
không thể diễn ra, tách rời hoạt động sinh lý thần kinh của bộ óc người.
Khoa học đã xác định, con người là sản phẩm cao nhất của quá trình phát
triển từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp của vật chất vận động, đồng thời
đã xác định bộ óc của con người là một tổ chức sống đặc biệt có cấu trúc tinh vi
và phức tạp bao gồm khoảng 14-15 tỷ tế bào thần kinh. Các tế bào này có liên hệ
với nhau và với các giác quan, tạo thành vô số những mối liên hệ thu nhận, điều
khiển hoạt động của cơ thể trong quan hệ với thế giới bên ngoài qua các phản xạ
không điều kiện và có điều kiện. Quá trình ý thức và quá trình sinh lý trong bộ óc
không đồng nhất, không tách rời, không song song mà là hai mặt của một quá
trình sinh lý thần kinh mang nội dung ý thức. Khi khoa học - kỹ thuật tạo ra
những máy móc thay thế cho một phàn lao động trí óc của con người thì không
có nghĩa là máy móc có ý thức như con người. Máy móc là một kết cấu kỹ thuật
do con người tạo ra, còn con người là một thực thể xã hội. Máy không thể thay
thế cho hoạt động trí tuệ của con người, không thể sáng tạo lại hiện thức dưới
dạng tinh thần trong bản thân nó như con người. Do đó chỉ có con người với bộ
óc của nó mới có ý thức.
Nhưng tại sao bộ óc con người - một tổ chức vật chất cao - lại có thể sinh
ra được ý thức? Để trả lời câu hỏi này chúng ta phải nghiên cứu mối liên hệ vật

ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thức. ý thức chỉ
nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất hiện con
người. ý thức là ý thức con người, nằm trong con người, không thể tách rời con
người. ý thức bứt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh -
phát triển thành. ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản ánh
của vật chất. Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật được
phản ánh. ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài và đầu óc con người. Bộ óc
người là cơ quan phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì chưa thể có ý thức.
Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ
óc thì hoạt động ý thức không thể xảy ra.
Như vậy, bộ óc người [cơ quan phản ánh về thế giới vật chất xung quanh]
cùng với thế giới bên ngoài tác động lên bộ óc - đó là nguồn gốc tự nhiên của ý
thức.
Những điều đã trình bày về nguồn gốc tự nhiên của ý thức cho thấy “sự
đối lập giữa vật chất và ý thức chỉ có nghĩa tuyệt đối trong những phạm vi hết sức
hạn chế: trong trường hợp này, chỉ giới hạn trong vấn đề nhận thức luận cơ bản là
thừa nhận cái gì là cái có trước và cái gì là cái có sau? Ngoài giới hạn đó ra, sự
đối lập đó là tương đối
(1)
. ý thức chính là đạc tính của một dạng vật chất sống có
tổ chức cao mà thôi.
 Nguồn gốc xã hội
Để cho ý thức ra đời, những tiền đề, nguồn gốc tự nhiên là rất quan trọng,
không thể thiếu được, song chưa đủ; điều kiện quyết định cho sự ra đời của ý
thức là những tiền đề, nguồn gốc xã hội. ý thức ra đời cùng với quá trình hình
thành bộ óc con người nhờ lao động, ngôn ngữ và những quan hệ xã hội.
Lao động theo C.Mác, là một quá trình diễn biến giữa người và tự nhiên,

động của con người.
Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang
tính tập thể xã hội. Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi tư
tưởng cho nhau xuất hiện. Chính nhu cầu đó đòi hỏi phải xuất hiện ngôn ngữ.
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn
ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì ý
thức không thể tồn tại và thể hiện được.
Ngôn ngữ cũng cổ xưa như ý thức. Ngôn ngữ vừa là phương tiện giao tiếp
trong xã hội, đồng thời là công cụ của tư duy nhằm khái quát hóa, trừu tượng hóa
hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con người tổng kết được thực tiễn, trao đổi thông
tin, trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. ý thức không phải thuần túy là
hiện tượng cá nhân mà là một hiện tượng xã hội, do đó không có phương tiện trao
đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển được.
Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nấht quyết định sự ra đời và phát triển
của ý thức là lao động, là thực tiễn xã hội. ý thức phản ánh hiện thức khách quan
vào bộ óc con người thông qua lao động, ngôn ngữ và các quan hệ xã hội. ý thức
là sản phẩm xã hội, là một hiện tượng xã hội.
2. Vai trò của tri thức khoa học công nghệ đối với việc phát triển kinh
tế ở Việt Nam hiện nay
a. Quan niệm về KH - CN
 Quan niệm về khoa học
Trong lịch sử phát triển tư duy của nhân loại có rất nhiều các quan niệm
khác nhau về khoa học, một mặt nó phụ thuộc vào trình độ phát triển của xã hội;
mặt khác phụ thuộc vào trình độ nhận thức. Xét về phương diện xã hội, khoa học
là một hiện tượng xã hội có nhiều mặt, trong đó biểu hiện sự thống nhất giữa
những yếu tố vật chất và những yếu tố tinh thần. Về phương diện triết học, khoa
học là một hình thái ý thức xã hội đặc biêt. Đặc biệt, bởi vì khoa học không chỉ

thịnh vượng của mọi quốc gia, dân tộc và cá nhân.
- Hệ thống tri thức khoa học là sản phẩm của quá trình phát triển lâu dài,
liên tục của tư duy nhân loại từ thế hệ này sang thế hệ khác. Ngày nay nó đang
trở thành tài sản chung của xã hội loài người.
Như vậy, qua một số những đặc trưng cơ bản trên đây về quan niệm khoa
học, ta thấy nổi lên cái cốt lõi của khoa học - đó là hệ thống tri thức chân thực về
tự nhiên, xã hội và tư duy. Khoa học là hệ thống tri thức chân thực, nhưng có
phải mọi tri thức chân thực đều là khoa học hay không? Để hiểu rõ điều này,
chúng ta phải đi tìm hiểu nguồn gốc, bản chất của tri thức, con đường từ tri thức
đến khoa học.
 Quan niệm về công nghệ
Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự
hiểu biết của con người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu
sống của con người, sự tồn tại và phát triển của xã hội. Công nghệ trong sản xuất
là một tập hợp các phowng tiện vật chất, các phương pháp, các quy tắc, các kỹ
năng được con người sử dụng để tác động vào đối tượng lao động nhằm tạo ra
một sản phẩm nào đó cần thiết cho xã hội.
Có ba nghĩa chủ yếu về công nghệ được sử dụng phổ biến nhất hiện nay:
Một là, công nghệ được coi như một bộ môn khoa học ứng dụng, triển
khai (trong tương quan với khoa học cơ bản), trong việc vận dụng các quy luật tự
nhiên và các nguyên lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần
ngày càng cao của con người.
Hai là, công nghệ được hiểu với tư cách như là các phương tiện vật chất -
kỹ thuật, hay đó là sự thể hiện cụ thể của tri thức khoa học đã được vật thể hóa
thành các công cụ, các phương tiện kỹ thuật cần cho sản xuất và đời sống.
Ba là, công nghệ bao gồm các cách thức, các phương pháp, các thủ thuật,
các kỹ năng có được nhờ dựa trên cơ sở tri thức khoa học và được sử dụng vào


Điều đó chỉ có thể có được khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực
tiếp, nghĩa là những tri thức khoa học nhanh chóng được vật thể hóa thành công
cụ, phương tiện sản xuất, thành hệ thống công nghệ trực tiếp tham gia vào quá
trình sản xuất xã hội. Nhờ đó, ngày nay, sản xuất xã hội đã gắn liền với những
phát minh, sáng chế trong khoa học và công nghệ; nó luôn được đổi mới và hiện
đại hóa cùng với sự phát triển của khoa học và công nghệ. Hiện đại hóa nền sản
xuất xã hội là nền tảng để thực hiện sự hiện đại hóa toàn bộ đời sống xã hội.
Hiện đại hóa nền sản xuất trước hết là hiện đại hóa trong lực lượng sản
xuất để đẩy nhanh sự phát triển của lực lượng sản xuất nhằm nâng cao năng suất
lao động, từ đó làm chuyển biến mạnh mẽ cơ cấu của nền kinh tế, tạo điều kiện
thuận lợi cho sự phát triển kinh tế - xã hội của một đất nước.
Khoa học và công nghệ là yếu tố cấu thành của lực lượng sản xuất. Tuy
nhiên, nếu như trong những giai đoạn phát triển trước đây, khoa học và công
nghệ là những yếu tố gián tiếp của lực lượng sản xuất, đứng ngoài quá trình sản
xuất trực tiếp theo nghĩa là từ khoa học, công nghệ đến sản xuất phải trải qua một
thời gian biến đổi lâu dài, tới hàng chục năm, thậm chí hàng trăm năm thì ngày
nay, nhìn chung, khoa học và công nghệ đã và đang trở thành lực lượng sản xuất
trực tiếp. Trong một số nước công nghiệp phát triển, tri thức của những phát
minh mới nhất ở một số lĩnh vực khoa học như tin học, điều khiển học, sinh vật
học v.v đã nhanh chóng được đưa vào công nghệ thông tin, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới và từ đó, trực tiếp đi vào sản xuất và dịch vụ của xã hội.
Bằng cách này, lực lượng sản xuất xã hội không ngừng được bổ sung và đổi mới
theo hướng gia tăng tính hiện đại, tiên tiến.
Ngày nay xu hướng vận động chung của lực lượng sản xuất hiện đại là
không ngừng thay thế dần các trang thiết bị kỹ thuật, các quy trình, hệ thống công
nghệ chưa hoàn thiện (cho năng suấtt thấp, tiêu hoa nhiều nguyên, nhiên vật liệu,
thải bỏ nhiều các chấy gây ô nhiễm môi trường v.v ) bằng những thiết bị, những
hệ thống công nghệ cao, công nghệ làm sạch, mang nhiều hàm lượng tri thức.
Điều này chỉ có thể thực hiện được bằng con đường phát triển khoa học và công

của lực lượng sản xuất, vừa là những yếu tố của quan hệ sản xuất. Thậm chí, bản
thân con người, xét theo các mối quan hệ của nó trong quá trình sản xuất và tiêu
dùng, là yếu tố chủ thể của quan hệ sản xuất. Do vậy, sự phát triển của khoa học
và công nghệ không chỉ có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của lực lượng sản
xuất, mà còn có ảnh hưởng sâu sắc đến quan hệ sản xuất theo chiều hướng hiện
đại.
3. Tương tự như nhiều nước khác, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ở nước ta cũng có mục đích và nhiệm vụ trước tiên là phải phát triển sản xuất.
Tuy nhiên, từ một nước nông nghiệp còn nghèo nàn, lạc hậu, để có thể đi vào nền
sản xuất hiện đại, chúng ta cần phải tiến hành một quá trình chuyển đổi căn bản
và toàn diện tất cả các hoạt động xã hội, trước tiên là hoạt động sản xuất - từ chủ
yếu là lao động thủ công, sang chủ yếu là lao động có kỹ thuật - nhằm nâng cao
năng suất lao động xã hội. Điều này đã được khẳng định tại Hội nghị lần thứ bảy
Ban chấp hành Trung ương khóa VII, khi Đảng ta chủ trương gắn quá trình công
nghiệp hóa với hiện đại hóa “Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là quá trình chuyển
đổi căn bản, tàon diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý
kinh tế - xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động cùng với công nghệ, phương tiện và phương pháp tiên tiến,
hiện đại, dựa trên sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa học - công nghệ,
tạo ra năng suất lao động xã hội cao”
(1)
.
Vai trò nền tảng, động lực và then chốt của khoa học và công nghệ đối với
quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nói riêng, đối với sự phát triển xã hội
Việt Nam nói chung, được biểu hiện trên những mặt cụ thể sau đây:
Một là, khoa học và công nghệ có vai trò quyết định trong việc trang bị và
trang bị lại các máy móc, trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại, tiên tiến cho

2020, đưa nước ta cơ bản trở thành một ưnứoc công nghiệp theo hướng hiện đại.
Để đạt được mục tiêu chiến lược này, nhất thiết chúng ta phải tiếp cận được nền
khoa học và công nghệ hiện đại, tiên tiến của thế giới, đặc biệt là các ngành công
nghệ mũi nhọn: công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới
và công nghệ năng lượng mới Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Phát
huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ công nghệ
tiên tiến, đặc biệt là ôcng nghệ thông tin và công nghệ sinh học, tranh thủ ứng
dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và phổ biến hơn những thành tựu mới
về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển kinh tế tri thức”
(1)
.
Hai là, khoa học và công nghệ đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc
giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng, khai thác và phát huy nguồn lực con người, đặc
biệt là nguồn lực trí tuệ - một nguồn lực to lớn, có tính chất quyết định đối với sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa ở nước ta. Có nhiều cách thức để chúng ta
thực hiện việc trang bị và trang bị lại công nghệ hiện đại, tiên tiến cho các ngành
kinh tế quốc dân. Tuy nhiên, dù bằng cách thức nào đi chăng nữa, điều quan
trọng và có tính chất quyết định nhất ở đây là cần phải có những con người có đủ

(1)
Đảng Cộng sản Việt Nam. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX. Nxb Chính
trị Quốc gia, Hà nội, 2001, tr.91
tri thức và năng lực để có thể khai thác, sử dụng một cách hiệu quả các trang thiết
bị hiện đại. Điều này chỉ có khoa học và công nghệ tiên tiến mới làm được.
Con người là chủ thể sáng tạo ra khoa học và công nghệ. Đến lượt mình,
khoa học và công nghệ trở thành phương tiện, công cụ và đồng thời là cơ sở để
con người vươn lên tự toàn thiện về mọi mặt, đặc biệt là về năng lực trí tuệ.
không những phải được đào tạo một cách cơ bản và có hệ thống, mà còn phải
thường xuyên được đào tạo bổ sung và đào tạo chuyên sâu.
Con đường bền vững nhất để tiếp thu và phát triển khoa học và công nghệ
là phải dựa vào tiềm năng và năng lực của chính mình, nghĩa là phải tập trung
vào khai thác nội lực, đặc biệt là nguồn lực trí tuệ - nguồn nhân lực khoa học và
công nghệ. Văn kiện Đại hội IX của Đảng đã chỉ rõ: “Phát huy nguồn lực trí tuệ
và sức mạnh tinh thần của người Việt Nam; coi phát triển giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sjư nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa”
(2)
.
Ba là, khoa học và công nghệ giữ vai trò động lực trong việc tạo ra môi
trường thông tin và thị trường thông tin - huyết mạch của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa và của cả nền kinh tế. So với giai đoạn phát triển trước đây, thì ngày nay,
thông tin có một vị trí cực kỳ quan trọng, mang tính quyết định đối với hoạt động
sản xuất, kinh doanh dịch vụ và cả những hoạt động tinh thầnh. Có trang thiết bị,
máy móc hiện đại, có những con người đã được đào tạo tay nghề và có kỹ năng,
kỹ xảo cao, nhưng nếu thiếu thông tin thì sẽ dẫn đến chỗ không biết đâu tư chúng
vào đâu cho đúng để kịp thời sinh lợi nhanh, và vì vậy, rất dễ sa vào chỗ mất
phương hướng phát triển. Bởi vì, thông tin trong lĩnh vực khoa học và công nghệ
có liên quan rất chặt chẽ đến việc nắm bắt các bí quyết, bí mật công nghệ nằm
trong các phương pháp, thiết bị, các dữ liệu khoa học và công nghệ mới nhất.
Thông tin như một người hướng dẫn nắm trong tay chiếc chìa khóa vàng kỳ diệu,
giúp cho người ta có thể mở ra những cánh cửa làm ăn đúng lúc và đúng cách,
tìm kiếm những cơ hội, những lĩnh vứ làm ăn còn tiềm năng và triển vọng, đồng
thời biết khép cửa lại, rút lui đúng lúc khi tiềm năng trong lĩnh vực đó đã cạn kiệt
v.v
Công nghệ thông tin đã chính thức đi vào nước ta khoảng hơn chục năm

nước ta là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện
dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Để thực hiện mục
tiêu này, phải tiến hành đồng thời nhiều hoạt động xã hội với những chức năng
rất khác nhau, như sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, giáo dục, đào tạo, chăm sóc y
tế, v.v Sự phối hợp điều hành các hoạt động đó, sự xếp đặt các mối quan hệ
giữa chúng, cũng như sự phân bổ hợp lý các chức năng của chúng sao cho đều
hướng về các mục tiêu mà công nghiệp hóa, hiện đại hóa đã đề ra, chính là nhiệm
vụ của công tác tổ chức, quản lý trong công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bởi vậy,
công tác tổ chức, quản lý có một vai trò cực kỳ quan trọng trong quá trình đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

(3)
Xem: Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường. Khoa học và công nghệ Việt Nam
1996-2000. Hà nội, 2001, tr.78-79
Những công việc vừa rộng lớn, phức tạp, vừa tỉ mỉ, chi tiết của công tác tổ
chức quản lý ngày nay đang được thực hiện một cách nhanh chóng hơn, chính
xác hơn và hiệu quả hơn nhờ có sự phát triển của khoa học và công nghệ, đặc biệt
là công nghệ thông tin. Nhờ có sự trợ giúp của công nghệ thông tin, thông qua hệ
thống máy vi tính, mạng Internet, ngườ ta có thể tiến hành công tác tổ chức và
quản lý một cách sâu sắc, toàn diện ở tầm vi mô, cũng như vĩ mô.
Năm là, khoa học và công nghệ đóng góp phần quan trọng vào chiến lược
phát triển lâu bền của xã hội. Qua những điều đã trình bày trên đây, hoàn toàn có
thể khẳng định được vai trò cơ sở và động lực của khoa học và công nghệ đối với
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa với bất cứ giá nào. Ngày nay, phát triển
lâu bền đang là mối quan tâm sâu sắc của toàn nhân loại.
Có thể có nhiều cách hiểu khác nhau về phát triển lâu bền, nhưng cách
hiểu chung nhất là, làm sao cho sự phát triển, trước hết là sự phát triển về kinh tế,


III. Kết luận
Việt Nam xuất phát điểm là một nước nghèo và kém phát triển, việc xây
dựng và phát triển tri thức KHCN là phù hợp với bối cảnh nước ta đang thực hiện
mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2001-2010, các quan
điểm về phát triển kinh tế tri thức nêu trên chính là cơ sở để định hướng, để có
những giải pháp cụ thể cho xây dựng và phát triển kinh tế tri thức. Đồng thời, các
quan điểm đó hướng tới mục tiêu góp phần giải quyết ba thách thức lớn trong quá
trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước: phải phát triển nhanh và bền vững;
xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ và tiến bộ; quản lý có hiệu quả trong
điều kiện nền kinh tế mở và nhanh chóng rút ngắn khoảng cách phát triển so với
khu vực và thế giới.
Sau đây là một số giải pháp:
 Nâng cao vai trò tổ chức và quản lý của Nhà nước
Nhà nước là tổ chức chính trị của xã hội, Nhà nước có một vai trò vô cùng
quan trọng đối với sự phát triển kinh tế. Nhiệm vụ trọng tâm của phát triển kinh
tế nước ta hiện nay là công nghiệp hóa, hiện đại hóa. “Công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nước phải bằng và dựa vào khoa học và công nghệ”. Do đó, Nhà nước ta
có trách nhiệm lớn lao đối với sự phát triển ủca khoa học và công nghệ.
Trong điều kiện cụ thể ở nớc ta, vai trò của Nhà nước đặc biệt quan trọng
trong việc quản lý, điều hành quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa - một hoạt
động kinh tế trọng tâm của đất nước. Đối với sự phát triển của khoa học và công
nghệ, các quy định trong các chính sách và cơ chế quản lý kinh tế do Nhà nước
ban hành trong thời gian qua đã có tác dụng kích thích đổi mới và nâng cao trình
độ công nghệ của sản xuất. Thể hiện:
- Tạo quyền chủ đọng cho các chủ thể sử dụng như các công ty, các doanh
nghiệp, các cơ sở sản xuất.
- Tạo ra nhu cầu bức xúc và cần thiết cho việc đổi mới và nâng cao trình
độ công nghệ.
- Mở ra những hình thức mới trong việc tiếp cận và thu hút công nghệ tiên

HĐH đất nước chúng ta rất cần các nguồn lực bên ngoài. Các nguồn lực bên
ngoài sẽ góp phần giúp chúng ta khai thác nguồn tiềm năng nội lực thành hiện
thực. Vì vậy, sự hợp tác quốc tế là một yếu tố không thể thiếu được trong việc tạo
dựng môi trường thuận lợi cho sự phát triển của khoa học và công nghệ.
Cần tạo môi trường thuận lợi để tăng khả năng thu hút vốn đầu tư của
nước ngoài: FDI, ODA
Thu hút nguồn vốn của nước ngoài để phát triển công nghệ là con đường
ngắn nhất để đưa nước ta từ một nước nông nghiệp lạc hậu có thể đạt mục tiêu
căn bản trở thành một nớc công nghiệp vào năm 2020.
 Tăng cường đầu tư cho giáo dục, đầu tư nghiên cứu khoa học - công
nghệ
Ngoài việc hợp tác với nước ngoài để tranh thủ tiếp nhận KH - CN chúng
ta cần đầu tư cho giáo dục, nâng cao chất lượng con người. Vì con người là yếu
tố trung tâm trong quá trình CNH – HĐH của đất nước. Bên cạnh đó cũng cần
đầu tư hơn nữa vào nghiên cứu khoa học - công nghệ. Có như thế mới đưa đất
nước ta tiến kịp sự phát triển của thế giới.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status