Khoa học công nghệ là nền tảng và động lực của sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở Việt Nam - Pdf 29

I. Đặt vấn đề
Thế giới đã bớc vào thế kỷ 21 với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học -
công nghệ (KH - CN). Ngày nay KH - CN đợc ứng dụng rất nhiều vào cuộc
sống của con ngời. Đặc biệt, ứng dụng tri thức KH - CN trong phát triển kinh tế
là một hớng đi đúng.
ở các nớc phát triển hiện nay, nền kinh tế phát triển có ứng dụng tri thức
KH - CN. Đối với Việt Nam đang trong quá trình phát triển nền kinh tế theo
định hớng XHCN, mặc dù đã đạt đợc những thành tựu to lớn trong 15 năm đổi
mới vừa qua, song nền kinh tế vẫn còn kém phát triển so với các nớc khu vực và
thế giới, đồng thời đang gặp phải những thách thức không nhỏ: đó là nguy cơ tụt
hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nớc trong khu vực do xuất phát của Việt Nam
quá thấp, lại phải phát triển trong môi trờng cạnh tranh quyết liệt. Sự khác biêt
về trình độ công nghệ của Việt Nam so với các nớc phát triển là rất lớn, nhìn
chung công nghệ nớc ta tục hậu so với trình độ chung của thế giới khoảng 3, 4
thập kỷ.
Quá trình CNH - HĐH dẫn đến sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao
động giữa các ngành, đặc biệt là sự chuyển lao động từ nông nghiệp sang các
lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ. Mục tiêu trong chiến lợc phát triển kinh tế - xã
hội đến năm 2010 là đẩy mạnh nhanh quá trình đổi mới kỹ thuật công nghệ
trong sản xuất, mở rộng các khu công nghiệp, khu chế suất đa Việt Nam trở
thành một nớc có trình độ KTCN ở trung bình tiên tiến so với các nớc trong khu
vực. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hớng tăng trởng công nghiệp và dịch vụ,
giảm tỷ trọng của nông nghiệp trong GDP, đồng thời điều chỉnh cơ cấu lao động
đến năm 2010 chỉ còn khoảng 50% lao động trong lĩnh vực nông nghiệp.
Hội nhập nền kinh tế thế giới đang là một xu thế tất yếu của thời đại. Vì
vậy bên cạnh sử dụng năng lực nội sinh, các nớc đang phát triển nh Việt Nam,
không có con đờng nào khác phải biết vận dụng những thành tựu của khoa học
công nghệ và phải bắt kịp tri thức mới để phát triển nhanh nền kinh tế. Vì vậy
1
vấn đề đặt ra cho Việt Nam hiện nay là phát triển nguồn nhân lực có tri thức,
trình độ, tay nghề cho sj phát triển nền kinh tế

ý thức theo nghĩa thông thờng theo một số quan niệm của khoa học
chuyên ngành, ý thức thờng đợc hiểu là tính có chủ ý. Nhng theo nghĩa triết học
đợc hiểu theo nghĩa là toàn bộ những sự phản ánh tinh thần của con ngời về thế
giới khách quan. Phản ánh là năng lực, khả năng của một hệ thống vật chất ghi
nhận và tái hiện những đặc điểm, những tính chất của một hệ thống khác. Phản
ánh là nhiệm vụ phổ biến của một tổ chức.
Xét về cấu trúc ý thức bao gồm những yếu tố; tri thức, sự hiểu biết, tâm
lý, tình cảm, ý chí con ngời, lý tởng, ớc mơ con ngời. Trong đó nhân tố tri thức
là trung tâm bao hàm biểu hiện nhất định. Tri thức là nhân tố quan trọng nhất
của ý thức, bất cứ một hình thức phản ánh của ý thức chỉ là tồn tại một khi trong
nó có tri thức.
b. Bản chất của ý thức.
Theo Mac nói: ý thức chẳng qua là cái vật chất đợc di chuyển vào bộ
óc con ngời và cải biến đi ở trong đó. Còn theo Lênin: ý thức là hình ảnh
chủ quan.
3
Để hiểu bản chất của ý thức, trớc hết, chúng ta thừa nhận cả vật chất và ý
thức đều là hiện thực nghĩa là đều tồn tại. Nhng giữa chúng có sự khác nhau
mang tính đối lập. ý thức là sự phản ánh, là cái phản ánh; còn vật chất là cái đợc
phản ánh. Cái đợc phản ánh - tức là vật chất - tồn tại khách quan, ở ngoài và độc
lập với cái phản ánh tức là ý thức. Cái phản ánh - tức là ý thức - là hiện thực chủ
quan, là hình ảnh chủ quan hay hình ảnh tinh thần của sự vật khách quan, lấy cái
khách quan làm tiền đề, bị cái khách quan quy định, không có tính vật chất. Vì
vậy không thể đồng nhất, hoặc tách rời cái đợc phản ánh - tức vật chất, với cái
phản ánh - tức ý thức. Nếu coi cái phản ánh - tức ý thức - là hiện tợng vật chất
thì sẽ lẫn lộn giữa cái đợc phản ánh và cái phản ánh - tức lẫn lộn giữa vật chất và
ý thức, làm mất ý nghĩa của đối lập giữa vật chất và ý thức, từ đó dẫn đến làm
mất đi sự đối lập giữ chủ nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm.
Thứ hai, khi nói cái phản ánh - tức ý thức - là hình ảnh chủ quan của thế
giới khách quan, thì nó không phỉa là hình ảnh vật lý hay hình ảnh tâm lý động

của mình.
Tính sáng tạo của ý thức không có nghĩa là ý thức đẻ ra vật chất. Sáng tạo
của ý thức là sáng tạo của sự phản ánh, theo quy luật và trong khuôn khổ của sự
phản ánh mà kết quả bao giờ cũng là những khách thể tinh thần. Sáng tạo và
phản ánh là hai mặt thuộc bản chất ý thức. ý thức là sj phản ánh vào chính thực
tiễn xã hội của con ngời tạo ra sự phản ánh phức tạp, năng động, sáng tạo của bộ
óc.
ý thức là một hiện tợng xã hội. Sự ra đời, tồn tại của ý thức gắn liền với
hoạt động thực tiễn lịch sử, chịu sự chi phối không chỉ các quy luật sinh học mà
chủ yếu là của quy luật xã hội, do nhu cầu giao tiếp xã hội và các điều kiện sinh
hoạt hiện thực của con ngời quy định. ý thức mang bản chất xã hội.
c. Nguồn gốc của ý thức
Nguốc gốc tự nhiên
Chủ nghĩa duy tâm cho rằng ý thức có trớc, vật chất có sau, ý thức sinh ra
vật chất, chi phối sự tồn tại và vận động của thế giới vật chất. Học thuyết triết
học duy tâm khách quan và triết học duy tâm chủ quan có quan niệm khác nhau
5
nhất định về ý thức, song về thực chất họ giống nhau ở chỗ tách ý thức ra khỏi
vật chất, lấy ý thức làm điểm xuất phát để suy ra giới tự nhiên.
Các nhà duy vật trớc Mác đã đấu tranh phê phán lại quan điểm trên của
chủ nghĩa duy tâm, không thừa nhận tính chất siêu tự nhiên của ý thức, đã chỉ ra
mối liên hệ khăng khít giữa vật chất và ý thức, thừa nhận vật chất có trớc ý thức,
ý thức phụ thuộc vào vật chất. Do khoa học cha phát triển, do ảnh hởng của quan
điểm siêu hình - máy móc nên họ đã không giải thích đúng nguồn gốc và bản
chất của ý thức.
Dựa trên cơ sở những thành tựu của khoa học tự nhiên, nhất là sinh lý học
thần kinh, chủ nghĩa duy vật biện chứng cho rằng, ý thức không phải có nguồn
gốc siêu tự nhiên, không phải ý thức sản sinh ra vật chất nh các nhà thần học và
duy tâm khách quan đã khẳng định mà ý thức là một thuộc tính của vật chất, nh-
ng không phải là của mọi dạng vật chất, mà chỉ là thuộc tính của một dạng vật

để làm sáng tỏ nguồn gốc tự nhiên của ý thức.
Trong quá trình tiến hóa của thế giới vật chất. Các vật thể càng ở bậc
thang cao bao nhiêu thì hình thức phản ánh của nó càng phức tạp bấy nhiêu.
Hình thức phản ánh đơn giản nhất, đặc trng cho giới tự nhiên vô sinh là những
phản ánh vật lý, hóa học. Những hình thức phản ánh này có tính chất thụ động,
cha có định hớng sự lựa chọn. Hình thức phản ánh sinh học đặc trng cho giới tự
nhiên sống là bớc phát triển mới về chất trong sự tiến hóa của các hình thức
phản ánh. Hình thức phản ánh của các cơ thể sống đơn giản nhất là biểu hiện ở
tính kích thích, tức là phản ứng trả lời tác động của môi trờng ở bên ngoài có
ảnh hởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất của chúng. Hình thức phản ánh
tiếp theo của các động vật cha có hệ thần kinh là tính cảm ứng, tính nhạy cảm
đối với sự thay đổi của môi trờng. Hình thức phản ánh của các động vật có hệ
thống thần kinh là các phản xạ. Hình thức phản ánh ở động vật bậc cao khi có hệ
thần kinh trung ơng xuất hiện là tâm lý. Nh vậy, phản ánh sinh học trong các cơ
thể sống đã có sự định hớng, sự lựa chọn, nhờ đó các sinh vật thích nghi với môi
trờng để duy trì sự tồn tại của mình. Phản ánh sinh học đợc thực hiện thông qua
các hình thức kích thích ở thực vật, các phản xã ở động vật có hệ thống thần
7
kinh và tâm lý ở động vật cấp cao. Tâm lý động vật cha phải là ý thức, nó mới là
sự phản ánh có tính chất bản năng do nhu cầu trực tiếp của sinh lý cơ thể và do
quy luật sinh học chi phối.
ý thức là hình thức cao nhất của sự phản ánh thế giới hiện thức. ý thức
chỉ nảy sinh ở giai đoạn phát triển cao của thế giới vật chất cùng với sự xuất
hiện con ngời. ý thức là ý thức con ngời, nằm trong con ngời, không thể tách rời
con ngời. ý thức bứt nguồn từ một thuộc tính của vật chất - thuộc tính phản ánh
- phát triển thành. ý thức ra đời là kết quả phát triển lâu dài của thuộc tính phản
ánh của vật chất. Nội dung của ý thức là thông tin về thế giới bên ngoài, về vật
đợc phản ánh. ý thức là sự phản ánh thế giới bên ngoài và đầu óc con ngời. Bộ
óc ngời là cơ quan phản ánh, song chỉ có riêng bộ óc thôi thì cha thể có ý thức.
Không có sự tác động của thế giới bên ngoài lên các giác quan và qua đó đến bộ

mà con ngời mới có thể phản ánh đợc thế giới khách quan, mới có ý thức về thế
giới đó.
Sự hình thành ý thức không phải là quá trình thu nhận thụ động, mà đó là
kết quả hoạt động chủ động của con ngời. Nhờ có lao động, con ngời tác động
và thế giới khách quan, bắt thế giới khách quan bộc lộ những thuộc tính, những
kết cấu, những quy luật vận động của mình thành những hiện tợng nhất định, và
các hiện tợng ấy tác động vào bộ óc ngời, hình thành dần những tri thức về tự
nhiên và xã hội. Nếu không có lao động thì hoàn cảnh vẫn bí ẩn, vẫn xa lạ đối
với con ngời, con ngời không có cách nào khác ngoài lao động đẻ óc thể phản
ánh đúng đắn thế giới khách quan. Nh vậy, ý thức đợc hình thành chủ yếu do
hoạt động cải tạo thế giới khách quan của con ngời, làm biến đổi thế giới đó. ý
thức với t cách là hoạt động phản ánh sáng tạo không thể có đợc ở bên ngoài quá
trình con ngời lao động làm biến đổi thế giới xung quanh. Vì thế có thể nói khái
quát rằng lao động tạo ra ý thức t tởng, hoặc nguồn gốc cơ bản của ý thức t tởng
là sự phản ánh thế giới khách quan và đầu óc con ngời trong quá trình lao động
của con ngời.
Lao động không xuất hiện ở trạng thái đơn nhất, ngay từ đầu nó đã mang
tính tập thể xã hội. Vì vậy, nhu cầu trao đổi kinh nghiệm và nhu cầu trao đổi t t-
ởng cho nhau xuất hiện. Chính nhu cầu đó đòi hỏi phải xuất hiện ngôn ngữ.
9
Ngôn ngữ do nhu cầu của lao động và nhờ lao động mà hình thành. Ngôn
ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất mang nội dung ý thức. Không có ngôn ngữ thì
ý thức không thể tồn tại và thể hiện đợc.
Ngôn ngữ cũng cổ xa nh ý thức. Ngôn ngữ vừa là phơng tiện giao tiếp
trong xã hội, đồng thời là công cụ của t duy nhằm khái quát hóa, trừu tợng hóa
hiện thực. Nhờ ngôn ngữ mà con ngời tổng kết đợc thực tiễn, trao đổi thông tin,
trao đổi tri thức từ thế hệ này sang thế hệ khác. ý thức không phải thuần túy là
hiện tợng cá nhân mà là một hiện tợng xã hội, do đó không có phơng tiện trao
đổi xã hội về mặt ngôn ngữ thì ý thức không thể hình thành và phát triển đợc.
Vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nấht quyết định sự ra đời và phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status