Lời nói đầu
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế toàn cầu hoá và khu vực hoá hiện nay, hoạt động kinh tế đối ngoại,
đặc biệt là xuất khẩu của mỗi quốc gia, có vị trí ngày càng quan trọng và ngày càng
đợc mở rộng. Xu thế này ngoài những tác động tích cực cũng đặt ra nhiều thách thức
cho các nớc đang phát triển, đòi hỏi mỗi nớc phải có những định hớng phát triển
kinh tế cho phù hợp với điều kiện, lợi thế riêng của mình. Với truyền thống là một n-
ớc có thế mạnh về hàng nông sản xuất khẩu, ngay từ những ngày đầu của công cuộc
đổi mới, xuất khẩu nông sản đã đợc quan tâm chú trọng phát triển.
Là một nhóm hàng rất quan trọng trong hàng nông sản xuất khẩu với tỷ trọng kim
ngạch xuất khẩu hàng năm chiếm tới gần một nửa tỷ trọng xuất khẩu của hàng nông
sản và khoảng 10% trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nớc, nhóm hàng cây công
nghiệp dài ngày tỏ rõ u thế của mình trên thị trờng thế giới, góp phần nâng cao vị thế
của Việt Nam. Với những thành tựu đạt đợc trong hơn 10 năm qua, nhóm hàng này
đã góp phần không nhỏ trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đáng khích lệ đó, vẫn còn nhiều điều tồn tại
đối với nhóm hàng về mặt quản lý của Nhà nớc cũng nh việc thực hiện ở các cơ sở,
cùng với những khó khăn đang đặt ra cho thời kỳ tới. Khoá luận mang tên: Thực
trạng và một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng cây công nghiệp dài
ngày sẽ nghiên cứu, phân tích thực trạng sản xuất và xuất khẩu của nhóm hàng
trong suốt thời kỳ 1990-2000 với mong muốn có một cái nhìn toàn diện về nhóm
hàng cây công nghiệp dài ngày nói chung và chi tiết về 3 mặt hàng xuất khẩu chủ yếu
đang có mặt trong những mặt hàng chủ lực của nớc ta. Trên cơ sở đó, đa ra những
kiến nghị chung nhằm mục đích đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng, đạt hiệu quả sản
xuất và xuất khẩu cao hơn.
2. Mục đích và nhiệm vụ
Mục đích: đa ra những định hớng lớn đối với nhóm hàng cây công nghiệp dài
ngày cũng nh một số nhóm hàng chủ yếu, đồng thời tìm ra những giải pháp chính
nhằm nâng cao hiệu quả, ổn định và tăng trởng xuất khẩu nhóm hàng này vào giai
đoạn từ năm 2000 đến năm 2010.
nh những ngời quan tâm đóng góp ý kiến xây dựng cho khoá luận đợc tốt hơn. Em xin
đợc bảy tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới thầy giáo GS.TS.NGƯT. Bùi Xuân Lu,
chủ nhiệm khoa kinh tế Ngoại Thơng, là ngời thầy đã trực tiếp hớng dẫn em rất tận
2tình với tất cả sự tận tâm và tinh thần trách nhiệm. Nhân đây em cũng xin cám ơn
các anh Nguyễn Trung Khoa, Phạm Lu Hng, cô Nguyễn Thị Kim Phợng, các chuyên
viên Vụ Xuất nhập khẩu-Bộ Thơng Mại và các thầy cô giáo Trờng Đại học Ngoại Th-
ơng đã giúp đỡ em rất nhiều trong quá trình thực hiện và hoàn thành tốt khoá luận
này.
3Ch ơng I:
Vị trí, vai trò của nhóm hàng cây công nghiệp dài
ngày trong xuất khẩu của Việt Nam
I. Vị trí, vai trò của xuất khẩu
1. Ngoại thơng và lợi ích của Ngoại thơng
Thơng mại quốc tế ra đời từ hàng ngàn năm nay, là một bộ phận quan trọng của
hoạt động kinh tế, trở thành một phần trong đời sống hàng ngày, và hiện nay vẫn
giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế. Thơng mại quốc tế là sự trao
đổi hàng hoá và dịch vụ (hàng hoá hữu hình và vô hình) giữa các quốc gia thông
qua mua bán. Cơ sở của thơng mại quốc tế chính là trao đổi và chuyên môn hoá. Sự
trao đổi đó là một hình thức của mối quan hệ xã hội và phản ánh phụ thuộc lẫn nhau
về kinh tế giữa những ngời sản xuất hàng hoá riêng biệt của các quốc gia.
Thơng mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau, nhng xét trên giác độ
một quốc gia thì đó chính là hoạt động ngoại thơng. Quốc gia cũng nh cá nhân
không thể sống riêng rẽ mà vẫn đầy đủ đợc. Thơng mại quốc tế nói chung và hoạt
động xuất khẩu nói riêng có tình chất sống còn vì một lý do cơ bản là mở rộng khả
chế của lý thuyết trọng thơng và minh chứng rằng cả hai bên sẽ có lợi trong mậu
dịch quốc tế nếu thực thi nguyên tắc phân công. Nguyên tắc này có nghĩa là mỗi
quốc gia nên chuyên môn hoá vào những ngành sản xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối
cho phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí thấp hơn các nớc khác. Lý thuyết này lại
tỏ ra thiếu sót khi xét đến việc liệu một nớc không có lợi thế tuyệt đối về mặt hàng
nào thì có lợi trong thơng mại quốc tế hay không. Và lý thuyết lợi thế so sánh của
David Ricardo ra đời giải quyết hạn chế đó.
Theo David Ricardo- nhà kinh tế học ngời Anh thì cơ chế xuất hiện lợi ích của
ngoại thơng là:
- Mọi nớc đều có lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế bởi vì ngoại thơng
cho phép mở rộng khả năng tiêu dùng của mỗi nớc do chỉ chuyên môn hoá vào sản
xuất một số sản phẩm nhất định và xuất khẩu hàng hoá của mình để đổi lấy hàng
nhập khẩu từ nớc khác.
- Những nớc có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn nớc khác, hoặc bị kém lợi thế tuyệt
đối hơn so với nớc khác trong việc sản xuất mọi sản phẩm thì vẫn có thể và vẫn có
lợi khi tham gia vào phân công lao động quốc tế bởi vì mỗi nớc có một lợi thế so
sánh nhất định về một số mặt hàng và kém lợi thế so sánh về một số mặt hàng
khác.
Ông cho rằng lợi ích của thơng mại quốc tế chính là bắt nguồn từ sự khác nhau
về chi phí cơ hội ở các quốc gia. Khi các cơ hội ở tất cả các quốc gia đều giống
5nhau thì không có lợi thế so sánh và cũng không có khả năng nảy sinh các lợi ích
do chuyên môn hoá sản xuất và thơng mại quốc tế. Đó chính là nội dung cơ bản của
quy luật lợi thế so sánh: các nớc sẽ có lợi khi chuyên môn hoá sản xuất và xuất
khẩu những sản phẩm mà họ làm ra với chi phí cơ hội nhỏ hơn các nớc khác.
Phát triển lý thuyết của D. Ricardo, Eli Hecksher và Bertil Ohlin - hai nhà kinh
tế học ngời Thuỵ Điển- đã đa ra thuyết u đãi về các nguồn lực sản xuất vốn có, gọi
là lý thuyết H-O và đề ra quy luật H-O về tỷ lệ cân đối các yếu tố sản xuất: một n-
xung cho nền kinh tế trong nớc mà còn phải cọi sự phát triển kinh tế trong nớc thích
nghi với lựa chọn phân công lao động tối u. Bí quyết thành công của nhiều nớc
trong chiến lợc phát triển kinh tế là nhận thức đợc mối quan hệ hữu cơ giữa kinh tế
trong nớc và mở rộng quan hệ kinh tế với nớc ngoài.
2. Khái niệm về xuất khẩu
Trong nền kinh tế hiện đại, không một quốc gia nào bằng chính sách đóng cửa
lại phát triển có hiệu quả nền kinh tế trong nớc. Đối với những nớc mà trình độ phát
triển kinh tế còn thấp nh nớc ta, thì hoạt động xuất khẩu là một biện pháp hữu hiệu
trong chiến lợc mở cửa nền kinh tế để tạo ra sự tăng trởng mạnh cho đất nớc, góp
phần rút ngắn khoảng cách chênh lệch với các nớc giàu.
Hoạt động xuất khẩu là hoạt động chủ yếu của ngoại thơng, nó mang tính chất
tất yếu của mỗi quốc gia trong quá trình phát triển kinh tế. Do những điều kiện khác
nhau, mỗi quốc gia có lợi thế về những lĩnh vực này và bất lợi về những lĩnh vực
khác trong việc sản xuất những hàng hoá khác nhau. Để có thể dung hoà đợc nguy
cơ và lợi thế, tạo ra sự cân bằng trong quá trình sản xuất và tiêu dùng, các quốc gia
phải tiến hành trao đổi với nhau, bán những gì mình có thể sản xuất nhiều hơn nhu
cầu trong nớc và phải mua những gì mình cha có hoặc không có khả năng sản xuất
từ những nớc khác.
Tuy nhiên, hoạt động xuất nhập khẩu không nhất thiết chỉ diễn ra những quốc
gia có lợi thế về lĩnh vực này hay lĩnh vực khác, các quốc gia không có lợi thế về
các điều kiện nh nhân lực, tài chính, tài nguyên thiên nhiên, công nghệ, thông qua
hoạt động trao đổi thơng mại quốc tế cũng sẽ thu đợc những lợi ích, tạo điều kiện
phát triển kinh tế trong nớc.
Xuất khẩu là một bộ phận cấu thành chủ yếu của nền thơng mại quốc tế cũng
nh ngoại thơng của một đất nớc, đó là việc bán hàng hoá và dịch vụ cho nớc ngoài
(Trích: giáo trình Thơng mại Quốc tế, trờng Đại học Kinh tế quốc dân). Hoạt động
xuất khẩu đã và đang đóng một vai trò quan trọng trong nền kinh tế mở cửa của các
quốc gia. Cơ sở của hoạt động xuất khẩu hàng hoá là hoạt động mua bán trao đổi
hàng hoá trong nớc. Khi việc trao đổi này giữa các quốc gia đem lại lợi ích cho cả
hai bên, các nớc đều quan tâm mở rộng hoạt động này.
động dịch vụ thu ngoại tệ, xuất khẩu lao động,.... Tuy nhiên, các nguồn vốn này th-
ờng kèm theo những điều kiện hoặc hạn chế khác nhau và chúng ta vẫn phải trả
bằng cách này hay cách khác. Bởi vậy, nguồn vốn quan trọng nhất để nhập khẩu
phục vụ cho công nghiệp hoá đất nớc vẫn là xuất khẩu. Xuất khẩu quyết định quy
mô và tốc độ tăng của nhập khẩu.
ở những nớc đang phát triển và chậm phát triển, một trong những nguyên nhân
thiếu vốn trong quá trình phát triển là do ít có cơ hội xuất khẩu. Không xuất khẩu đ-
ợc một mặt không thu đợc ngoại tệ từ hoạt động này, mặt khác các nhà đầu t cũng
không a thích đầu t vào quốc gia mà họ không thấy có khả năng phát triển xuất
8khẩu do đó lại càng thiếu vốn hơn nữa. Trong tơng lai, nguồn vốn bên ngoài sẽ tăng
lên nhng mọi cơ hội đầu t và vay nợi nớc ngoài và các tổ chức quốc tế chỉ thuận lợi
khi các chủ đầu t và những ngời cho vay thấy đợc khả năng của xuất khẩu, nguồn
vốn duy nhất để trả nợ.
Thứ 2, hoạt động xuất khẩu góp phần vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc
đẩy sản xuất phát triển.
Một trong những thành quả của cuộc cách mạng khoa học, công nghệ hiện đại
đó là cơ cấu sản xuất và tiêu dùng trên thế giới thay đổi vô cùng mạnh mẽ. Do đó,
trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc, sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế phù hợp với xu hớng phát triển của kinh tế thế giới là một tất yếu đối với Việt
Nam. Xem xét về vai trò của xuất khẩu đối với sản xuất và chuyển dịch cơ cấu kinh
tế có hai cách nhìn nhận.
Cách nhìn nhận thứ nhất, sản xuất trong nớc có thể vợt quá nhu cầu tiêu dùng
trong nớc, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa đó. Cách nhìn nhận
này mới chỉ thấy đợc một phần nào của hoạt động xuất khẩu và còn mắc phải sai
lầm. Nếu nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển, sản xuất về cơ bản còn cha đủ
đáp ứng tiêu dùng nội địa, chỉ thụ động chờ sản xuất thừa ra, thì xuất khẩu sẽ rất
nhỏ bé, tăng trởng với tốc độ thấp, đồng thời sự thay đổi cơ cấu kinh tế sẽ diễn ra
Thứ ba, xuất khẩu có tác động tích cực đến việc giải quyết công ăn việc làm
và cải thiện đời sống nhân dân.
Sản xuất hàng hoá xuất khẩu thu hút hàng triệu lao đông làm việc, giảm bớt tỷ lệ
thất nghiệp trong xã hội, đồng thời các lao động này có mức thu nhập ổn định và t-
ơng đối cao. Hiện nay, ở Việt Nam, hàng triệu lao động đang làm việc tại các công
ty, dự án có liên quan đến hoạt động xuất khẩu với mức lơng khá cao. Đây là một
điều dễ hiểu vì xuất khẩu có một vai trò quan trọng là mở rộng quy mô sản xuất
trên thị trờng thế giới rộng lớn. Đồng thời, xuất khẩu còn tạo ra nguồn vốn để nhập
nhẩu các vật t thiết yếu phục vụ đời sống và đáp ứng phong phú hơn nhu cầu tiêu
dùng của nhân dân đang ngày một tăng lên theo sự phát triển của xã hội.
Thứ t, xuất khẩu là cơ sở để mở rộng và thúc đẩy các quan hệ kinh tế đối
ngoại của đất nớc.
Xuất khẩu bản thân là một hoạt động kinh tế đối ngoại, có thể ra đời và phát
triển sớm hơn các hoạt động kinh tế đối ngoại khác. Xuất khẩu và các quan hệ kinh
tế đối ngoại khác có tác động qua lại phụ thuộc lẫn nhau. Hoạt động xuất khẩu tạo
điều kiện thúc đẩy các hoạt động kinh tế đối ngoại khác mở rộng và phát triển. Ví
dụ nh xuất khẩu và công nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu sẽ thúc đẩy quan hệ tín
dụng quốc tế, đầu t quốc tế, mở rộng vận tải quốc tế,.... Mặt khác, các quan hệ kinh
tế quốc tế này lại tạo tiền đề cho sự mở rộng phát triển của hoạt động xuất khẩu.
10Xuất khẩu còn góp phần tăng cờng hợp tác và chuyên môn hoá quốc tế, là một
mắt xích quan trọng trong quá trình phân công lao động và nâng cao uy tín của mỗi
một quốc gia trên trờng quốc tế.
Cuối cùng, xuất khẩu không chỉ quan trọng cho nền kinh tế xét trên tầm vĩ
mô mà còn là một nhu cầu kinh doanh tất yếu đối với các doanh nghiệp.
Dựa vào hoạt động xuất khẩu, các doanh nghiệp có thể sử dụng khả năng sản
xuất tối u. Khả năng sản xuất của các doanh nghiệp vợt quá nhu cầu tiêu dùng nội
địa là điều thờng xảy ra, việc chuyển các nguồn lực tài nguyên sang quy trình sản
nghiệp dệt,....
Cây công nghiệp ở nớc ta đã có từ lâu. Trớc những năm 1990, nhóm hàng cha
thực sự đợc chú trọng vì chúng ta cha nhận thấy vai trò rất quan trọng của nó, mà
thờng chú trọng tới các cây lơng thực mà đặc biệt là gạo. Tới nay, với 3 mặt hàng là
cà phê, cao su, hạt điều và gần đây là hạt tiêu lần lợt trở thành những mặt hàng xuất
khẩu chủ lực với kim ngạch lên tới trên 100 triệu USD (năm 1999) thì nhóm hàng
này trở thành nhóm hàng chiến lợc của nông sản, tầm quan trọng chỉ đứng sau gạo.
Nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày có những vai trò rất quan trọng trong nền
kinh tế quốc dân nói riêng cũng nh trong xuất khẩu nói chung. Trớc hết, đây là một
nhóm hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn, góp phần không nhỏ trong việc tạo nguồn
vốn cho nhập khẩu phục vụ công nghiệp hoá đất nớc. Đối với những nớc đang phát
triển, con đờng ngắn nhất để thoát khỏi tình trạng nghèo nàn, lạc hậu, kém phát
triển là thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nền kinh tế. Việt Nam cũng lựa
chọn con đờng đó để phát triển. Để thực hiện thành công quá trình đó, chúng ta cần
một lợng vốn lớn để nhập khẩu máy móc thiết bị và công nghệ tiên tiến.
Nh đã đề cập, xuất khẩu có vai trò tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu phục
vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Với tỷ trọng khá lớn của nhóm hàng
trong kim ngạch xuất khẩu (có những năm lên tới gần 20% kim ngạch xuất khẩu
của cả nớc), nhóm hàng đã đóng góp một phần không nhỏ trong tiến trình này. Tỷ
trọng đó cũng nói lên vị trí quan trọng của nhóm hàng. Đây là nhóm hàng xuất
khẩu có tính chiến lợc trong giai đoạn công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc. Với
giá trị xuất khẩu năm 1997 đạt 1.033 triệu USD, năm 1998 đạt 1.049 triệu USD và
năm 1999 đạt 1.133 triệu USD, chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuất khẩu của
cả nớc, nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày xuất khẩu của Việt Nam đã đem lại
một lợng vốn không nhỏ, làm tăng dự trữ ngoại tệ của quốc gia. Là một trong những
mặt hàng xuất khẩu chủ lực có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất, nhóm hàng này đã
góp phần tăng vai trò của việc xây dựng và phát triển các mặt hàng xuất khẩu chủ
lực của Việt Nam.
Bảng 1: Kim ngạch và tỷ trọng nhóm hàng trong xuất khẩu.
12
hàng triệu lao động làm các công việc liên quan đến nhóm hàng nh sản xuất, chế
biến, xuất khẩu,... kéo theo cuộc sống ổn định cho hàng triệu gia đình, góp phần cải
thiện đời sống và ổn định xã hội. Đây cũng chính là những hiệu quả xã hội của
nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày.
Hơn nữa, sự phát triển của nhóm hàng có thể đem lại cơ hội phát triển cho
những ngành khác có liên quan. Việc đẩy mạnh xuất khẩu nhóm hàng đã tạo động
lực cho một số ngành khác có điều kiện phát triển. Không những thế, nhóm hàng
còn có khả năng phát triển trên nhiều vùng kinh tế, đặc biệt ở các vùng miền núi,
góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ theo hớng hợp lý. Với đặc điểm
là sử dụng nhiều lao động, đơn giản về kỹ thuật, quy mô đầu t không lớn, trong giai
đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá, sản xuất cây công nghiệp dài ngày là một
13trong những ngành quan trọng và đợc đánh giá là một ngành mũi nhọn trong chiến
lợc phát triển kinh tế hớng về xuất khẩu của nớc ta hiện nay.
Bên cạnh đó, thông qua xuất khẩu, nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày của
Việt Nam đã thâm nhập thị trờng thế giới, từ đó mở rộng và thúc đẩy sự phát triển
các mối quan hệ kinh tế đối ngoại giữa Việt Nam và các nớc khác. Thế giới đã biết
đến Việt Nam thông qua các sản phẩm nông sản mà nhóm hàng này cũng là một
phần quan trọng trong nông sản, nhóm hàng mà đã tạo vị thế của Việt Nam trên tr-
ờng quốc tế. Nhờ đó các mối quan hệ khác cũng phát triển theo nh du lịch quốc tế,
vận tải quốc tế, tín dụng quốc tế...Sự phát triển những ngành này cũng tác động ng-
ợc trở lại tới hoạt động xuất khẩu của nhóm hàng.
Ngoài ra, do yêu cầu của thị trờng thế giới và cũng do sự cạnh tranh khốc liệt mà
các doanh nghiệp sản xuất, xuất khẩu luôn phải tìm tòi, cải tiến mẫu mã chất lợng
sản phẩm, nâng cao hàm lợng công nghệ của sản phẩm thông qua công nghệ chế
biến sâu nhằm đáp ứng một cách tốt nhất cho nhu cầu của thị trờng. Từ đó góp phần
đáp ứng tốt hơn nhu cầu của thị trờng trong nớc, góp phần làm tăng trởng GDP của
đất nớc.
2.2 Quan điểm về hiệu quả kinh tế:
Quan điểm này coi những lợi thế về đất đai, địa hình, khí hậu, lao động là những
tiền đề bố trí sản xuất có lãi, coi trọng việc bố trí sản xuất nhóm hàng cây công
nghiệp dài ngày đi đôi với việc bảo vệ môi trờng sinh thái và chiến lợc phát triển
tổng hợp các loại cây trồng theo quy hoạch phát triển nông nghiệp chung của Nhà
nớc để đạt đợc hiệu quả kinh tế tối u.
Hiệu quả kinh tế của cả nhóm hàng trên phơng diện vĩ mô đợc thể hiện qua
những thành tựu về sản lợng sản xuất, diện tích đất đai canh tác, năng suất sản
phẩm trên một đơn vị đất canh tác, tổng sản lợng xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu
cũng nh vai trò của nhóm hàng trong hoạt động xuất khẩu của cả nớc.
Đối với các doanh nghiệp, hiệu quả kinh tế đợc thể hiện ở những chỉ tiêu kinh tế
nh doanh thu, lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận,... Các doanh nghiệp thờng hớng đến các
chỉ tiêu hiệu quả này càng lớn càng tốt. Nhng nếu quan tâm quá đến hiệu quả kinh
tế mà bỏ qua các chỉ tiêu khác nh hiệu quả xã hội thì chỉ phục vụ lợi ích của bản
thân mà không chú ý tới sự phát triển của toàn nền kinh tế. Bởi vậy, hiệu quả kinh
tế cần phải đợc xét đến cùng với các chỉ tiêu hiệu quả khác.
2.3 Quan điểm về hiệu quả xã hội:
Sản xuất các cây công nghiệp dài ngày thờng tập trung ở các vùng đồi núi, tại đó
dân c còn nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở hạ tầng còn kém phát triển. Việc phát triển cây
công nghiệp dài ngày có hiệu quả kinh tế cao sẽ thúc đẩy kinh tế văn hoá xã hội
phát triển, tạo ra công ăn việc làm cho hàng triệu lao động. Xét về mặt hiệu quả xã
hội có thể chấp nhận u tiên thị phần (kể cả u tiên vốn) cho vùng miền núi để phát
triển cây công nghiệp nhằm xoá đói giảm nghèo, góp phần chấm dứt nạn du canh
du c, chặt phá rừng để kiếm sống.
15Có thể khẳng định hiệu quả xã hội của nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày qua
thành tựu đạt đợc trong những năm gần đây. Việc phát triển nhóm hàng này đã tạo
ra hàng triệu công ăn việc làm cho ngời lao động chủ yếu ở khu vực nông thôn và
Cần thiết phải mở rộng thị trờng, tìm kiếm các thị trờng mới cho các sản phẩm.
Để mở rộng thị trờng và có đợc các thị trờng ổn định cho cây công nghiệp dài ngày,
chúng ta phải quan tâm đến các công việc sau:
- Có khối lợng lớn các sản phẩm và cơ cấu sản phẩm hợp lý.
- Chú trọng vào công tác chế biến, đặc biệt cần quan tâm áp dụng các công
nghệ chế biến tiên tiến trên thế giới để theo kịp đợc thị trờng thế giới nhng
cũng cần kết hợp với lao động thủ công để tận dụng các nguồn lực của đất n-
ớc.
- Tiếp cận với các thị trờng tiêu thụ sản phẩm này trên thế giới để tìm đợc các
thị trờng ổn định. Xuất khẩu trực tiếp hạn chế tối đa việc tiêu thụ qua trung
gian vì nh vậy ta không có quan hệ trực tuyến với khách hàng và hơn nữa còn
bị chia sẻ một phần lợi nhuận. Cần tìm những bạn hàng lớn, có nhu cầu ổn
định và có uy tín lớn trên thị trờng thế giới.
- Có kế hoạch mở rộng và tăng cờng công tác thông tin, quảng cáo đi đôi với
việc nghiên cứu thị trờng, nghiên cứu khách hàng để tìm nhu cầu cho những
sản phẩm mới để thay đổi cơ cấu sản xuất, cơ cấu sản phẩm.
2.7 Quan điểm sử dụng tổng hợp và khai thác các nguồn tài nguyên thiên
nhiên và cơ sở hạ tầng kinh tế đã có:
Theo quan điểm này, cùng với việc tiếp thu thêm những công nghệ tiên tiến trên
thế giới, chúng ta cần quan tâm đến những nguồn lực sẵn có để có thể tận dụng tối
đa các nguồn lực, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội cho nhóm hàng.
Mặc dù trớc đây, nhóm hàng này không đợc quan tâm đúng mức, nhng từ những
năm 90, Nhà nớc đã có những quan điểm, chính sách thể hiện mối quan tâm đến
nhóm hàng nh nhóm hàng chiến lợc trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Dựa trên những u thế về đất đai, khí hậu, con ngời và những nguồn lực đã có khác
để phát triển nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày hớng về xuất khẩu.
2.8 Quan điểm phát triển sản xuất phải kết hợp với định canh, định c, phân
bố lại dân c và lao động, xây dựng các vùng kinh tế mới:
Quan điểm này cũng giống nh quan điểm về hiệu quả xã hội. Việc phát triển
nhóm hàng cần kết hợp với việc định canh, định c, phân bố lại dân c và lao động,
đạt 112 triệu USD, chiếm 5,49% trong tổng kim ngạch xuất khẩu cả nớc, đến nay
18nhóm hàng này đã tăng trởng vợt bậc với kim ngạch tăng lên hơn 10 lần. Theo số
liệu năm 1999, kim ngạch xuất khẩu của nhóm hàng đạt 1.133 triệu USD, gấp hơn
10 lần so với kim ngạch năm 1990.
Bảng 2: Tình hình xuất khẩu nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày.
Năm Kim ngạch
(triệu USD)
Tỷ trọng trong
tổng KN (%)
Tăng trởng
Giá trị Tỷ lệ
Tăng giảm tỷ
trọng (%)
1990 112 5,49
1991 176 8,43 64 57,14 + 2,94
1992 228 8,83 52 29,55 + 0,40
1993 271 9,08 43 18,86 + 0,25
1994 629 15,52 358 132,10 + 6,44
1995 1.044 19,16 415 65,98 + 3,64
1996 968 13,34 - 76 -7,28 - 5,82
1997 1.033 11,25 65 6,71 - 2,09
1998 1.049 11,20 16 1,55 - 0,05
1999 1.133 9,83 84 8,01 - 1,37
2000
(*)
1.100 8,46 - 33 - 2,91 - 1,37
Nguồn: Niên giám thống kê thơng mại 2000, 1996, 1994.
hiện nhiều mặt hàng mới ngày càng chiếm tỷ trọng cao trong nhóm hàng nh hạt
tiêu, cà phê xay rang,.... Cụ thể cơ cấu nhóm hàng theo những mặt hàng chính nh
sau:
Bảng 3: Cơ cấu mặt hàng của nhóm hàng
Đơn vị: triệu USD.
Mặt hàng 1994 1995 1996 1997 1999 2000
(*)
Tổng KN nhóm
hàng
629 1.044 968 1.033 1.133 1.100
Cà phê 330,3 598,1 420,2 497,5 585,3 500,0
Tỷ trọng cà phê (%) 52,5 57,3 43,4 48,2 51,7 45,5
Cao su 135,4 187,9 254,5 190,5 120 125,4
Tỷ trọng cao su (%) 21,5 18,0 26,3 18,4 10.6 11,4
Hạt điều 70,5 88,8 75,6 133,3 108,5 120,0
Tỷ trọng điều (%) 11,2 8,5 7,8 12,9 9,6 10,9
Nguồn: Niên giám thống kê thơng mại 2000, 1996, 1994.
(*): Số liệu dự đoán.
Ngoài sự phát triển mạnh của mặt hàng hạt tiêu, cơ cấu các mặt hàng khác chỉ
dao động xung quanh một tỷ trọng nhất định. Mặt hàng cà phê tỏ ra chiếm u thế
nhất trong cả nhóm hàng khi luôn chiếm khoảng50% tổng kim ngạch nhóm hàng.
20Hạt điều, chè, quế và các mặt hàng khác có sự thay đổi tỷ trọng nhỏ, năm tăng năm
giảm. Đối với cao su có sự tăng trởng vợt bậc vào năm 1996 khi kim ngạch tăng lên
đến 254,4 triệu USD, chiếm tới 26,3% tổng kim ngạch nhóm hàng. Diễn biến cơ
cấu trong thời gian tới có lẽ sẽ có sự chuyển biến lớn, tỷ trọng giữa các mặt hàng sẽ
có sự thay đổi lớn vì lý do là ngành cà phê đang gặp phải khó khăn nặng nề về giá,
nên trong vài năm tới sẽ bị sụt giảm kim ngạch rất nhiều. Đó là khó khăn không chỉ
Khu vực khác : 5%
Từ năm 1996 đến nay, cơ cấu thị trờng đã thay đổi nhiều theo hớng tăng dần tỷ
trọng xuất khẩu sang những nớc công nghiệp phát triển nh thị trờng Bắc Mỹ và
Châu Âu. Ví dụ nh, những khách hàng trớc đây thờng mua sản phẩm cao su của
Việt Nam thông qua thị trờng Singapore thì hiện nay đã có thể liên hệ mua trực tiếp
từ phía Việt Nam. Điều này rất có lợi cho các doanh nghiệp Việt Nam vì chúng ta
không chỉ thu đợc kim ngạch xuất khẩu cao hơn khi không phải chia sẻ quyền lợi
cho ngời trung gian mà chúng ta còn tiếp cận trực tiếp với khách hàng, tiến gần đến
với thị trờng thế giới về giá cả, nhu cầu, thị hiếu cũng nh phơng thức buôn bán.
Do có sự tiếp cận trực tiếp với thị trờng thế giới nên giá xuất khẩu của nhóm
hàng này cũng thay đổi theo hớng dần dần xích lại gần với giá cả thế giới. Giá bán
cho khách hàng nớc ngoài thờng thấp hơn so với giá ở các sàn giao dịch nông sản
lớn trên thế giới vì hàng của Việt Nam thờng bị coi là có chất lợng không tốt, không
đảm bảo nh hàng của những nớc khác. Tuy nhiên, có một phần lý do là hàng của
chúng ta mới tham gia vào thị trờng thế giới nên hay bị ép giá. Sau một thời gian
khi đã quen thuộc với thị trờng, với khách hàng và tập quán thơng mại quốc tế, giá
cả xuất khẩu dần dần tăng lên, tiến sát đến giá cả quốc tế.
Phải thừa nhận rằng chất lợng là một lý do chính dẫn đến giá xuất khẩu thấp hơn
nhiều so với giá cả thế giới. Đó là lý do khách hàng chê hàng của Việt Nam và hàng
thì không cạnh tranh mặc dù có giá cả thấp. Về lâu dài, phải có những cải tiến về
chất lợng hàng hoá thì mới có thể cạnh tranh tốt trên thị trờng thế giới với giá cao.
4. Về hình thức xuất khẩu
Trớc đây, do mối quan hệ khăng khít với Liên Xô cũ và các nớc Đông Âu, và
cũng do sự cấm vận của Mỹ mà nhóm hàng xuất khẩu rất hạn chế. Hàng hoá của
Việt Nam thờng đợc xuất sang các nớc xã hội chủ nghĩa khác theo quy chế thơng
mại của những nớc này. Từ năm 1990-1996, nhóm hàng đợc xuất sang các nớc khác
thông qua các nớc trung gian nh Singapore. Đến này, các doanh nghiệp Việt Nam
đã có quan hệ thơng mại trực tuyến với khách hàng nớc ngoài.
ở Việt Nam, nhóm hàng cây công nghiệp dài ngày thờng đợc mua bán tại các
nông trờng và các hộ gia đình sau đó đợc xuất khẩu. Phơng thức thông thờng và phổ
Năng suất trồng cà phê trên thế giới thời gian qua có xu hớng giảm xuống, tốc
độ giảm trung bình 0,2%/năm. Tuy nhiên, năng suất trồng tăng giảm không đều ở
23các quốc gia và các vùng, chẳng hạn nh ở các nớc Châu á Thái Bình Dơng, năng
xuất cà phê tăng trung bình 0,4%/năm.
Sản lợng cà phê thế giới tăng giảm thất thờng nhng nhìn chung có xu hớng tăng
lên. Càng gần đây, xu hớng tăng sản lợng cà phê ngày càng thể hiện rõ. Vụ mùa
năm 1998, 1999 và năm 2000, hầu hết các nớc sản xuất cà phê đều đợc mùa, dẫn
đến các vụ mùa bội thu và sản lợng tăng đáng kể.
Sản xuất cà phê tập trung chủ yếu ở các nớc đang phát triển: chiếm hơn 90% sản
lợng cà phê thế giới. Các nớc phát triển sản xuất với khối lợng rất nhỏ và chủ yếu
nhập khẩu để tiêu dùng. Châu Mỹ La tinh là khu vực trồng cà phê lớn nhất thế giới,
trong đó Braxin có sản lợng đứng đầu thế giới. Trớc chiến tranh thế giới lần thứ 2,
Braxin chiếm 80% sản lợng cà phê thế giới. Những năm sau đó, do sự phát triển
mạnh mẽ về sản xuất cà phê ở các nớc Châu á, Châu Phi nên sản lợng của Braxin
chỉ chiếm 30% sản lợng cà phê thế giới. Sản lợng cà phê của các nớc Châu á, Châu
Phi tăng đáng kể và đã nâng dần tỷ trọng so với sản lợng thế giới.
Trớc đây, các nớc sản xuất cà phê chủ yếu xuất khẩu cà phê thô hoặc chế biến
cha sâu cho các nớc tiêu thụ để các nớc này chế biến. Nhng nhận thấy biện pháp đó
có hiệu quả kinh tế không cao nên hiện nay, nhiều nớc đã chú trọng đến sản xuất cà
phê hoà tan để xuất khẩu.
1.1.2 Tình hình xuất khẩu:
Là một trong những mặt hàng có kim ngạch buôn bán lớn trên thế giới, hàng
năm khoảng trên 10 tỷ USD), cà phê ngày càng có vị trí quan trọng trong buôn bán
quốc tế. Đợc trồng chủ yếu ở những nớc đang phát triển, nhng cà phê lại đợc tiêu
thụ mạnh ở những nớc phát triển, với các thị trờng lớn là Châu Âu và Bắc Mỹ.
Giá xuất khẩu cà phê từ năm 1990 trở lại đây tăng giảm thất thờng, đặc biệt là
đối với cà phê Robusta. Gần đây, do nhiều nguyên nhân mà chủ yếu là do cung vợt
Bungari, Tiệp Khắc, Ba Lan, tạo cho ngành cà phê Việt Nam một bớc phát triển
mới. Ngành cà phê nớc ta trong những năm qua đã có những bớc tiến bộ vợt bậc có
tính chất bùng nổ, đặc biệt là năng suất tăng lên rất cao so với thế giới. Ngày
26/3/1991, Việt Nam chính thức gia nhập tổ chức cà phê Quốc tế (ICO).
Về diện tích: Cây cà phê đợc đánh giá là một trong những cây công nghiệp dài
ngày chủ lực cần đợc chú trọng phát triển nên diện tích đã tăng lên nhanh chóng.
Thời kỳ 1990-1994, diện tích trồng cà phê tăng không đáng kể, có năm còn bị
giảm, nhng sản lợng tăng rất nhanh do đa số các vờn trồng cà phê đến độ trởng
thành và cho năng suất cao. Thời kỳ 1994-1996, giá cà phê thế giới tăng đột biến
nên diện tích trồng cà phê cũng tăng mạnh ở khắp các tỉnh Tây Nguyên. Đến hết
năm 1998, theo ớc tính của Hiệp hội Cà phê-Cacao Việt Nam, diện tích trồng cà
phê ở Việt Nam đạt xấp xỉ 370.000 ha, trong đó riêng 3 tỉnh Tây Nguyên đã chiếm
khoảng 60%. Tuyệt đại đa số diện tích đợc sử dụng trồng cà phê Robusta, chỉ có
25