Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp tại Habubank- chi nhánh Hoàng Quốc Việt - Pdf 12

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập WTO- một trang mới cho sự phát triển kinh tế và xã hội ở Việt
Nam. Với tư cách là một thành viên của WTO, Việt Nam đứng trước những cơ
hội và thách thức vô cùng to lớn. Các doanh nghiệp, các tập đoàn lớn ở Việt
Nam có dịp được bước chân vào thị trường thế giới, thị trường chỉ dành cho
những doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh lớn mạnh. Chính vì thế muốn tồn
tại, các doanh nghiệp cũng như các tập đoàn cần phải nỗ lực phát triển nâng cao
năng lực kinh doanh của mình để có thể đứng vững trên trường quốc tế này.
Ngành Tài chính – Ngân hàng cũng không nằm ngoài những mục tiêu chung đó.
Hội nhập trong những năm vừa qua đã giúp ngành Tài chính – Ngân hàng
có nhiều những phát triển vượt bậc, góp phần vào sự tăng trưởng chung của Việt
Nam chúng ta. Hội nhập đã khuyến khích xuất nhập khẩu tăng trưởng mạnh, các
hoạt động này lại kéo theo sự phát triển của dịch vụ Thanh toán, dịch vụ bảo
lãnh, dịch vụ ngoại hối.. tại các Ngân hàng. Để có thể đứng vững và vượt qua
các thử thách một cách dễ dàng, các ngân hàng thương mại cần phải chuẩn bị
cho mình một tiềm lực về kinh tế, về uy tín cung ứng dịch vụ nhằm cạnh tranh
được với các ngân hàng trên thế giới.
Không nằm ngoài xu thế chung đó, Habubank nói chung cũng như
Habubank – Chi nhánh Hoàng Quốc Việt nói riêng luôn phấn đấu để đạt được
những mục tiêu ổn định, tiếp tục phát triển bền vững nâng cao vị thế của mình
trên thị trường Tài chính Ngân hàng. Qua hơn 20 năm hình thành và phát triển,
Habubank đã trở thành một ngân hàng với bề dày kinh nghiệm, tiềm lực con
người dồi dào và tiềm lực tài chính ngày một vững mạnh. Habubank luôn sẵn
sàng tự hoàn thiện mình và chuẩn bị đầy đủ hành trang nỗ lực đổi mới và phấn
đấu không ngừng để vươn lên góp phần phục vụ đắc lực cho sự nghiệp công
nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước.
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
1
Trong những năm qua, Habubank- Chi nhánh Hoàng Quốc Việt với
những nỗ lực cung ứng dịch vụ chất lượng cao đã đạt được những kết quả đáng

3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu vấn đề phát triển dịch vụ tại Chi nhánh Hoàng
Quốc Việt – 118 Hoàng quốc Việt - Hà Nội
Thời gian nghiên cứu là giai đoạn từ năm 2006 đến 2008
1. Kết cấu đề tài
Chương I: Lý luận chung về phát triển dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp
tại các ngân hàng thương mại
Chương II: Phân tích thực trạng phát triển dịch vụ ngân hàng doanh
nghiệp tại Habubank- chi nhánh Hoàng Quốc Việt
Chương III: Phương hướng và giải pháp về phát triển dịch vụ ngân hàng
doanh nghiệp tại Habubank - Chi nhánh Hoàng Quốc Việt
Với kết cấu 3 chương như trên, chương 1 đi sâu vào phân tích những lý
luận chung về phát triển dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng
thương mại.
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
3
CHƯƠNG I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN
HÀNG DOANH NGHIỆP TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
Nhằm mục đích đi sâu vào nghiên cứu các loại hình dịch vụ ngân hàng doanh
nghiệp để phân tích các hướng phát triển dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp tại
các ngân hàng TMCP hiện nay, chương 1 đã tiếp cận vấn đề theo hướng mở
rộng, đi từ những khái nhất đến những nội dung cụ thể nhất về dịch vụ ngân hàng
. Kết cấu trình bày của chương 1 như sau:
- Trình bày các loại hình dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp hiện nay
- Trình bày các công việc phát triển dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp
- Trình bày được các chỉ tiêu đánh giá sự phát triển các loại hình dịch
vụ ngân hàng doanh nghiệp tại các ngân hàng TMCP hiện nay.
Cuối cùng là đi sâu vào phân tích tính cấp thiết cần phát triển dịch vụ ngân hàng

doanh nghiệp, các tổ chức tài chính và các cá nhân với nhau, giúp mối quan hệ
làm ăn giữa các tổ chức này được thuận lợi hơn.
 Dịch vụ
 Khái niệm:
 Hiểu theo nghĩa rộng, dịch vụ là ngành kinh tế thứ 3
ngoài công nghiệp và nông nghiệp như hàng không, thông tin, viễn thông…
 Hiểu theo nghĩa hẹp, dịch vụ là phần mềm của sản
phẩm, hỗ trợ cho khách hàng trước, trong và sau khi bán.
 Theo Philip Kotler, dịch vụ là mọi hành động hay lợi ích
mà một bên có thể và cũng có thể không liên quan đến một sản phẩm vật chất.
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
5
 Bản chất:
Thực chất dịch vụ cũng là một sản phẩm của quá trình lao động, sản xuất
của con người. Và nó mang tính vô hình nhưng giá trị vật chất lại rất lớn lao đối
với việc đóng góp vào GDP của một đất nước.
Một nước phát triển là một đất nước có tỷ trọng phát triển dịch vụ chiếm
khoảng 70%-80% tổng thu nhập từ các hoạt động như nông, công và dịch vụ.
Nền kinh tế nước ta những năm vừa qua đã tăng trưởng vượt bậc là nhờ có tỷ
trọng phát triển dịch vụ tăng đều qua các năm. Tỷ trọng dịch vụ trong GDP năm
1995 là 44,0%; năm 2000 là 38,7%; năm 2005 là 38,1% và đến năm 2008 là
38,7%.
 Dịch vụ ngân hàng
 Khái niệm:
Dịch vụ ngân hàng là một trong những loại hình dịch vụ cung ứng các sản
phẩm liên quan đến hoạt động thương mại, hoạt động tiền tệ…đem lại ích lợi
cho không chỉ khách hàng tham gia sử dụng mà còn cả chính ngân hàng đó.
 Bản chất:
Dịch vụ ngân hàng là một trong muôn ngàn các loại hình dịch vụ, nó là
một yếu tố cấu thành nên dịch vụ. Bản chất của dịch vụ ngân hàng là cung cấp

xác định được hình thái vật chất của nó. Mỗi một khách hàng khi được sử dụng
dịch vụ chỉ quan tâm đến mục đích cuối cùng mà dịch vụ cung ứng là gì, lợi ích
nó đem lại cho bản thân là gì mà thôi.
Và cũng chính vì nó không tồn tại dưới dạng vật chất nên không thể
chuyển nhượng được dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp. Khách hàng khi đến
tham gia dịch vụ thì sẽ là người có quyền quyết định đến tất cả những vấn đề
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
7
liên quan đến mọi phát sinh quanh nó và Ngân hàng cũng chỉ làm việc với người
có thỏa thuận sử dụng dịch vụ với ngân hàng ngay trong bản hợp đồng.
 Không đồng nhất, khó tiêu chuẩn hóa
Dịch vụ là loại sản phẩm không đánh giá dựa vào việc cân đo đong đếm.
Chất lượng dịch vụ cung ứng được đánh giá bằng chính mức độ thỏa mãn nhu
cầu của khách hàng, khách hàng sẽ nhận xét đánh giá và đưa ra kết luận là có
nên tiếp tục sử dụng dịch vụ này nữa không sau khi sử dụng. Nhưng mỗi một
người lại có một suy nghĩ một góc nhìn, góc đánh giá khác nhau, chính vì vậy
dịch vụ rất khó có thể đưa ra được tiêu chuẩn chung nhất để đo lường. Lúc này
các ngân hàng chỉ có thể cố gắng làm sao dịch vụ mình tung ra thị trường đều
mang tính phổ biến và có lợi ích cao nhất cho khách hàng sử dụng.
 Có tính không tách rời giữa quá trình sản xuất và tiêu dùng
Nếu như quá trình sản xuất một bộ bàn ghế được thực hiện qua các công
đoạn như chế biến gỗ thô thành các miếng gỗ hoa văn đẹp mắt, các thợ thủ công
sẽ đục đẽo làm sao cho những nét tinh tế nhất sẽ được hiện hữu trên mặt bàn,
trên chân ghế, và trên từng cm gỗ, sau đấy qua quá trình lắp ráp chúng ta sẽ có
một bộ bàn ghế hoàn chỉnh. Nhưng sản phẩm này sẽ không thể đến tay người
tiêu dùng nếu nó không được thực hiện thêm một khâu cuối cùng nữa đấy là đưa
hàng hóa đến các đại ly bán đồ thủ công mỹ nghệ. Vậy quy trình sản xuất và tiêu
thụ sản phẩm là hai quy trình hoàn toàn tách rời nhau, nó là hai hoạt động độc
lập không phụ thuộc lẫn nhau. Nhưng khi tìm hiểu về quá trình cung ứng dịch
vụ thì nhận thấy một điều hoàn toàn trái ngược, không có một dịch vụ nào được

thích ứng của dịch vụ đó. Sự phát triển của dịch vụ này sẽ kéo theo sự phát triển
của dịch vụ kia, ví như đối với dịch vụ kinh doanh kiều hối và dịch vụ thanh
toán quốc tế, một khi ngân hàng tham gia cung ứng nhiều hơn số lượng dịch vụ
thanh toán quốc tế cho các DN thì cũng đồng nghĩa với việc ngân hàng đã nâng
cao doanh thu cho hoạt động kiều hối.
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
9
Trong thời kỳ hội nhập như hiện nay, sự phát triển hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa sẽ làm tăng hoạt động thanh toán quốc tế như thế có nghĩa là
hoạt động thanh toán tại các ngân hàng sẽ phải sử dụng đến kiều hối.Vậy có thể
khẳng định, không chỉ các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp mà ngay cả các dịch
vụ ngân hàng nói chung đều có sự tương hỗ lẫn nhau, sự tiến lên mạnh mẽ của 1
dịch vụ sẽ kéo theo sự phát triển vượt bậc cho cả hệ thống dịch vụ.
 Tính linh hoạt cao
Dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp không mang tính cứng nhắc, cán bộ
ngân hàng cần phải linh động trong các trường hợp đặc biệt để có thể phục vụ
khách hàng một cách tốt nhất.
Ví như trong dịch vụ thanh toán quốc tế, % ký quỹ của khách hàng
khác nhau sẽ khác nhau, không có một chuẩn mực chung cho nó. Nếu doanh
nghiệp bạn là khách hàng lâu năm của Ngân hàng thì vấn đề ký quỹ chỉ còn là
hình thức mà thôi, ngân hàng sẽ dựa vào uy tín của doanh nghiệp và dựa vào
mối quan hệ thân quen của mình mà xử lý công việc.
Đồng thời các dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp còn dễ thích ứng với
đặc điểm của từng ngân hàng khác nhau. Mỗi một ngân hàng có năng lực tài
chính, năng lực nhân viên khác nhau nhưng đều có khả năng cung ứng những
dịch vụ có cùng mục đích, song chất lượng dịch vụ cung ứng lại hoàn toàn khác
nhau. Như dịch vụ rút tiền tự động qua thẻ ATM, hầu như ngân hàng nào cũng
đều cung ứng, nhưng phạm vi và chất lượng cung ứng lại hoàn toàn khác nhau.
Nếu như ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn có một lượng lớn
khách hàng là các sinh viên thì ngân hàng ANZ lại chỉ chủ yếu cung ứng cho

làm thủ tục rút tiền.
 Đối tượng phục vụ chỉ là các doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
11
Đúng thế, dịch vụ ngân hàng ở hầu hết các ngân hàng TMCP đều đã được
chia ra làm 3 hoặc 4 mảng chính, trong đó dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp chỉ
cung cấp cho mỗi một đối tượng đó là các doanh nghiệp và các tổ chức tài chính
khác. Chính vì chỉ phục vụ cho đối tượng doanh nghiệp nên các phòng ban phụ
trách mảng dịch vụ này sẽ cần phải có những chuyên môn nghiệp vụ sâu về việc
đánh giá năng lực tài chính thực sự của các doanh nghiệp và tổ chức tài chính
tham gia sử dụng dịch vụ, tránh các rủi ro khôn lường. Chính vì nghiệp vụ mang
tính chuyên sâu nên ngân hàng sẽ dễ dàng cung ứng dịch vụ mang chất lượng
cao cho khách hàng doanh nghiệp, đồng thời sự giới hạn này sẽ phân loại được
rõ nét giữa nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu cá nhân, từ đó tạo không ít thuận
lợi cho các ngân hàng thương mại phát triển mảng dịch vụ ngân hàng doanh
nghiệp.
1.1.2 Phân loại dịch vụ ngân hàng doanh nghiệp(NHDN)
Hiện nay trên thế giới đã có rất nhiều loại hình dịch vụ ngân hàng doanh
nghiệp. Những dịch vụ cần kể đến như:
1.1.2.1 Dịch vụ tài khoản tiền gửi
Trước hết cần hiểu tài khoản tiền gửi là dịch vụ như thế nào, nó là dịch vụ
ngân hàng cung ứng nhằm thay mặt doanh nghiệp quản lý lượng tiền nhàn rỗi
của mình, hoặc quản lý số tiền được dùng để thanh toán các hợp đồng theo hình
thức ký quỹ.
 Lợi ích :
- Với doanh nghiệp: Dịch vụ tài khoản tiền gửi đem lại sự an toàn và
tính đảm bảo cao cho các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính khi chưa muốn
đưa đồng tiền nhàn rỗi của mình vào tham gia hoạt động kinh doanh.
- Với chính ngân hàng cung ứng: dịch vụ tài khoản tiền gửi giúp ngân
hàng tăng được nguồn vốn sẵn có, tạo ra những nguồn thu từ việc sử dụng tiền

13
- Với doanh nghiệp: doanh nghiệp sẽ được ngân hàng hỗ trợ vốn ban đầu để
tham gia kinh doanh, hoặc đấu tư cho những dự án có lợi ích kinh tế cao. Từ đó
gây dựng được hình ảnh của mình trên thị trường.
 Hạn chế:
- Với ngân hàng: dễ gặp rủi ro khi khách hàng không có khả năng thanh toán
lượng tiền vay. Chính vì vậy các ngân hàng luôn phải thận trọng trong việc kiểm
tra kiểm soát các giấy tờ chứng minh khả năng tài chính của các doanh nghiệp.
1.1.2.3 Bảo lãnh
Bảo lãnh nghĩa là ngân hàng sẽ đứng ra bảo đảm cho đối tác của doanh
nghiệp về khả năng thực hiện hợp đồng, khả năng thanh toán hợp đồng..nhằm
tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp tham gia kinh doanh.
 Tiện ích:
- Với doanh nghiệp: được ngân hàng đứng ra trực tiếp bảo lãnh, doanh
nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận được với những cơ hội làm ăn béo bở hơn. Uy tín của
ngân hàng sẽ giúp doanh nghiệp tạo dựng được niềm tin trong công việc, tạo nên
cơ hội thăng tiến cho doanh nghiệp mình.
- Với ngân hàng: khi nói đến bảo lãnh là ta đã hiểu rằng người đứng ra bảo
lãnh phải là người có uy tín, có tiềm năng về vốn khi đó mới đảm bảo được
những gì mình bảo lãnh là có cơ sở. Với một hợp đồng bảo lãnh thành công,
ngân hàng lại thu về cho mình những khoản lợi nhuận đáng kể, đồng thời lấy
được niềm tin từ những đối tác trong việc cung ứng dịch vụ. Đó là điều quan
trọng trên thị trường tài chính đầy biến động này.
 Hạn chế:
- Với doanh nghiệp: nếu ngân hàng mà doanh nghiệp lựa chọn không có
uy tín trên thị trường thì khi đó hậu quả gây ra sẽ rất nặng nề, đối tác sẵn sàng từ
chối kết ước vào hợp đồng cho dù đã đàm phán thành công.
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
14
- Với ngân hàng: Nếu cán bộ ngân hàng chưa có sự kiểm tra kỹ càng các

một công ty có nhiều mánh khóe trong làm ăn, tạo ra những trường hợp khó
khăn cho bên nhập khẩu dẫn đến việc ngân hàng cần phải thận trọng trong thực
hiện thanh toán quốc tế.
1.1.2.5 Dịch vụ kinh doanh ngoại tệ
Kinh doanh ngoại tệ là dịch vụ mà ngân hàng cung cấp đồng ngoại tệ cho các
doanh nghiệp cần mua lượng ngoại tệ đó với mục đích thanh toán hợp đồng
hoặc những mục đích khác. Thông qua 4 hình thức cơ bản như giao dịch hối
đoái giao ngay, giao dịch hối đoái kỳ hạn, giao dịch hối đoái hoán đổi và giao
dịch quyền chọn.
Mỗi một loại hình giao dịch sẽ có những đặc điểm khác nhau, song đều có
một nét chung là đáp ứng tối đa nhu cầu mua ngoại tệ của doanh nghiệp. Nó
đem lại những tiện ích và hạn chế nhất định cho doanh nghiệp.
 Tiện ích
- Với doanh nghiệp: Doanh nghiệp sẽ đáp ứng được yêu cầu thanh toán tiền
hàng bằng đồng ngoại tệ cho đối tác một cách đơn giản.
- Với ngân hàng: thu được lợi từ việc thu phí và hưởng chênh lệch tỷ giá
 Hạn chế: kinh doanh ngoại tệ là dịch vụ gây ra rủi ro cho cả doanh nghiệp và
ngân hàng khi tỷ giá tiền tệ thay đổi.
1.1.2.6 Dịch vụ thanh toán thẻ
Thời đại bây giờ thanh toán bằng thẻ là một phương thức khá gần gũi với
người dân. Thanh toán thẻ được ngân hàng sử dụng nhằm giả thiểu thời gian
thanh toán và sử dụng tiền mặt cho khách hàng.
 Tiện ích
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
16
- Với doanh nghiệp: thanh toán thẻ giúp doanh nghiệp rút ngắn thời gian giao
dịch thanh toán, tránh những rủi ro về mất mát tài sản một cách bất ngờ.
- Với ngân hàng: với dịch vụ thanh toán thẻ ngân hàng cũng như doanh nghiệp
rút ngắn được thời gian xử lý giao dịch, gia tăng thêm lượng dịch vụ phục vụ
khách hàng doanh nghiệp, giúp ngân hàng nâng cao hiệu quả dịch vụ.

nhượng quyền sở hữu.
1.1.2.8 Cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho các doanh nghiệp và hoạt động kinh
doanh của các doanh nghiệp
Nắm bắt được biến động vô cùng to lớn của thị trường tài chính hiện nay, các
ngân hàng đã cung ứng dịch vụ bán bảo hiểm tín dụng cho các doanh nghiệp.
Tiện ích:
- Với ngân hàng: dịch vụ này giúp ngân hàng tránh được rủi ro trong trường
hợp người vay phá sản, không có khả năng thanh toán tiền nợ..
Hạn chế:
- Với doanh nghiệp: doanh nghiệp sẽ phải đóng thêm khoản phí bảo hiểm về
khoản vay tín dụng của mình.
1.1.2.9 Dịch vụ tư vấn tài chính cho các doanh nghiệp
Ngân hàng tư vấn cho doanh nghiệp xử lý các vấn đề khó khăn, vướng mắc
trong hoạt động tài chính, tư vấn cho doanh nghiệp xây dựng kế hoạch tài chính
trong kinh doanh, lập đề án thu xếp vốn theo nhu cầu doanh nghiệp.

Tiện ích
-
Với doanh nghiệp: tài chính luôn là một vấn đề gây nhiều khúc mắc
cho doanh nghiệp nhất, chính vì vậy mà mỗi một doanh nghiệp đều mong muốn
được ngân hàng cung ứng dịch vụ này nhằm đảm bảo tính an toàn trong kế
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
18
hoạch kinh doanh của mình. Với dịch vụ tư vấn tài chính, doanh nghiệp được
ngân hàng tư vấn từ những khâu đơn giản nhất như chuẩn bị thuế đến việc lập kế
hoạch tài chính về các cơ hội thị trường trong và ngoài nước
- Với ngân hàng: với bất kỳ một dịch vụ nào ngân hàng cũng thu được
lợi nhuận, song với riêng dịch vụ tư vấn ngân hàng còn gây dựng được lòng tin
và uy tín của mình nếu việc tư vấn đem lại thành công to lớn cho doanh nghiệp
trong hoạt động kinh doanh.

hàng TMCP phải đề ra cho mình một bản kế hoạch bao gồm các công việc cần
thực hiện trong quá trình thực hiện chính sách phát triển dịch vụ ngân hàng
doanh nghiệp.
Những công việc đó có thể được kể đến như:
 Đối với các dịch vụ NHDN hiện có:
 Nâng cao chất lượng dịch vụ NHDN
Chất lượng dịch vụ luôn là yếu tố hàng đầu, mức độ thỏa mãn khách hàng
hay lợi nhuận mà ngân hàng có được chính dựa vào chất lượng của dịch vụ cung
ứng. Chính vì thế hoạt động nâng cao chất lượng dịch vụ NHDN là một công
việc hết sức quan trọng và mang ý nghĩa thiết thực nhất.
Ngân hàng cần phải tập trung vào việc đánh giá chất lượng hiện có của
dịch vụ, cần nắm bắt được trên thực tế dịch vụ cung ứng đã mang lại những gì
cho khách hàng và cho chính bản thân ngân hàng mình. Những nét hạn chế nào
mà ngân hàng còn tồn tại khi cung ứng dịch vụ, và yếu kém so với các dịch vụ
ngân hàng doanh nghiệp của các ngân hàng khác trong hệ thống. Chính những
nhận định đó sẽ giúp ngân hàng có những bước đi đúng đắn trong việc định
hướng phát triển.
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
20
Từ những cơ sở đó, Ngân hàng sẽ không ngừng cải tiến chất lượng dịch
vụ nhằm thỏa mãn tối đa lợi ích và nhu cầu của khách hàng, những người trực
tiếp đánh giá và kiểm định giá trị của dịch vụ. Nếu ngân hàng thực hiện một
cách nghiêm túc và có tính thời đại thì chắc hẳn dịch vụ ngân hàng doanh
nghiệp được cung cấp sẽ ngày càng chiếm ưu thế cạnh tranh cao.
 Mở rộng phạm vi cung ứng dịch vụ NHDN
Việc mở rộng phạm vi cung ứng sẽ làm cho ngân hàng gia tăng được số
lượng khách hàng, và điều đó ắt hẳn sẽ gia tăng được doanh thu. Tuy nhiên, khi
thực hiện công việc này các ngân hàng TMCP cần lưu tâm đến các khu vực thực
sự có tiềm năng phát triển để tránh bỏ vốn đầu tư mở rộng mà không thu về
được một con số ấn tượng nào cả.

doanh dịch vụ này ở các ngân hàng khác( nếu nó là dịch vụ đã được triển khai),
hoặc cần thử nghiệm nó với một lượng khách hàng nhất định đã được khoanh
vùng(nếu nó là dịch vụ hoàn toàn mới mẻ). Kết luận rút ra sẽ tạo đà cho bước
triển khai thực hiện dịch vụ.
 Thu thập ý kiến của khách hàng về chất lượng dịch vụ
Cần phải có chiêu thức quảng bá dịch vụ mới, và khuyến khích những
khách hàng đầu tiên tiêu dùng dịch vụ, để từ đó thu thập được những ý kiến
đóng góp quý giá nhằm hoàn thiện hơn nữa dịch vụ mới này.
1.2.3. Chỉ tiêu đánh giá sự phát triển dịch vụ NHDN
Có 4 chỉ tiêu chủ yếu sau đây:
 Sự gia tăng số lượng dịch vụ
Phát triển dịch vụ chính là hoạt động làm tăng quy mô và tổng số lượng
dịch vụ cung ứng. Trước đây các ngân hàng chủ yếu chỉ tập trung vào dịch vụ
truyền thống mang đậm tính chất kinh doanh tiền tệ, đó là dịch vụ trao đổi ngoại
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
22
tệ, dịch vụ cho vay doanh nghiệp. Song với xu hướng phát triển của kinh tế thị
trường, sự gia tăng của các doanh nghiệp và nhu cầu kinh doanh đa dạng và
phong phú của chúng đã thúc đẩy cho các ngân hàng thực hiện chính sách đa
dạng hóa sản phẩm.
Tăng thêm số lượng dịch vụ cung ứng, ví nhu sự xuất hiện của các dịch vụ
thanh toán quốc tế phục vụ cho hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, dịch vụ tư
vấn tài chính phục vụ cho các doanh nghiệp tham gia các hoạt động kinh doanh
thương mại phức tạp, và mới đây nhất là sự xuất hiện hàng loạt các dịch vụ ngân
hàng điện tử như dịch vụ thanh toán bằng thẻ, dịch vụ internet banking.. những
dịch vụ mới xuất hiện này đem lại nhiều tiện ích hơn nữa cho các doanh nghiệp
sử dụng và hoàn thiện hơn vai trò chức năng của các ngân hàng thương mại trên
thế giới.
 Sự cải tiến chất lượng dịch vụ
 Phù hợp với nhu cầu của khách hàng

với mục đích kinh doanh đạt hiệu quả cao hơn.
 Khách hàng tiềm năng: bên cạnh những khách hàng doanh
nghiệp quen thuộc, ngân hàng đang cố gắng mở rộng và khai thác lượng khách
hàng doanh nghiệp thuộc khối doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Đây là
loại hình doanh nghiệp có năng lực kinh doanh hiệu quả khá cao. Vì thế với chất
lượng dịch vụ phát triển, ngân hàng đang nỗ lực tiếp cận với số khách hàng này,
đem lại sự tăng trưởng về khách hàng tiềm năng.
1.2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển các dịch vụ ngân hàng doanh
nghiệp tại các ngân hàng Thương mại
1.2.4.1 Các yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ NHDN đối
với các ngân hàng Thương mại
 Năng lực về tài chính
Lớp: Kinh doanh quốc tế 47A Khoa: Thương mại & Kinh tế quốc tế
24
Tài chính hay nguồn vốn chính là một trong những yếu tố ban đầu cấu
thành nên hệ thống ngân hàng. Các ngân hàng muốn hoạt động được cần phải có
tiền, có vốn để xây dựng cơ sở, có vốn để duy trì và phát triển hoạt động thương
mại của nó. Năng lực tài chính của ngân hàng được thể hiện thông qua các chỉ
tiêu về cơ cấu nguồn vốn, về tài sản hiện có. Nó sẽ ảnh hưởng tích cực đến sự
phát triển dịch vụ NHDN nếu nguồn tài chính của ngân hàng có thế mạnh trên
thị trường, và ngược lại nó sẽ kìm hãm sự phát triển dịch vụ NHDN vì thiếu tiền
sẽ khó có thể thực hiện được một số lượng công việc trên.
 Nguồn nhân lực
Không phải ngẫu nhiên mà các ngân hàng liên tiếp tuyển dụng và đào
tạo các cán bộ nhân viên theo học các khóa học nâng cao, mà là vì mục đích
nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường tài chính ngân hàng. Con
người là yếu tố hàng đầu cấu thành nên một tổ chức, ngân hàng cũng vậy, muốn
kinh doanh dịch vụ ngân hàng hiệu quả chăc hẳn cần phải đào tạo, tuyển dụng
đội ngũ nhân viên tốt và có bề dày kinh nghiêm. Chính vì thế, nếu ngân hàng có
đội ngũ nhân viên trình độ nghiệp vụ chuyên sâu, khả năng quản lý và lập kế


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status