Những biện pháp đẩy mạnh XK hàng dệt may VN đến năm 2010 - Pdf 12

Lời nói đầu
Thế giới đã và đang diễn ra những biến đổi to lớn và sâu sắc. Những thay
đổi đó, một mặt tạo ra những cơ hội thuận lợi cho các nớc đang trên đà phát
triển có thể nắm bắt, vơn tới nhằm đạt đợc những mục tiêu phát triển kinh tế xã
hội, mặt khác đang đặt ra những thách thức, những vấn đề phức tạp hơn mà mỗi
quốc gia phải đối phó giải quyết.
Trong thời đại ngày nay, cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế
giới đang phát triển nh vũ bão với tốc độ nhanh trên tất cả các lĩnh vực. Sự phát
triển của khoa học công nghệ đã đẩy nhanh quá trình quốc tế hoá đời sống kinh
tế thế giới. Ngày nay hợp tác quốc tế đã trở thành yêu cầu tất yếu đối với sự
phát triển đi lên của mỗi quốc gia. Hoà nhập với xu thế này, trong công cuộc
phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt là từ khi tiến hành đổi mới kinh tế - xã hội,
Đảng và Nhà nớc ta rất coi trọng các hoạt động kinh tế đối ngoại. Trong báo
cáo chính trị của ban chấp hành trung ơng Đảng tại đại hội Đảng VIII đã nhấn
mạnh:
...Tiếp tục thực hiện đờng lối đối ngoại độc lập tự chủ, mở rộng đa phơng
hoá và đa dạng hoá các quan hệ đối ngoại với tinh thần Việt Nam muốn làm
bạn với tất cả các nớc trong cộng đồng thế giới, phấn đấu vì hoà bình, độc lập
phát triển. Hợp tác nhiều mặt, song phơng và đa phơng với các nớc, các tổ chức
quốc tế và khu vực ...
Tuy nhiên, chúng ta tham gia hội nhập vào nền kinh tế thế giới nghĩa là
chúng ta phải chấp nhận xu hớng hợp tác trong cạnh tranh. Đây vừa là thời cơ
mà ta có thể tận dụng để phát triển đất nớc đồng thời cũng là thách thức trớc
nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với các nớc xung quanh và trên thế giới.
Hơn bao giờ hết xuất khẩu đóng vai trò hết sức quan trọng đối với phát triển
kinh tế. Việc mở rộng xuất khẩu để tăng thu nhập ngoại tệ cho tài chính và cho
nhu cầu nhập khẩu cũng nh tạo cơ sở cho phát triển cơ sở hạ tầng là mục tiêu
quan trọng. Nhà nớc ta đã và đang thực hiện các chính sách và các biện pháp
thúc đẩy các ngành kinh tế theo hớng xuất khẩu, khuyến khích khu vực t nhân
mở rộng xuất khẩu để giải quyết công ăn việc làm, tăng thu ngoại tệ cho đất n-
ớc. Do vậy, xây dựng đợc các chính sách và biện pháp thúc đẩy xuất khẩu nh

dùng trong nớc khi thực hiện chế độ tự cung tự cấp không buôn bán.
Tiền đề xuất hiện sự trao đổi là phân công lao động xã hội.Với sự tiến bộ
của khoa học kỹ thuật phạm vi chuyên môn hoá ngày một tăng. Số sản phẩm
cùng dịch vụ để thoả mãn nhu cầu con ngời ngày một dồi dào, sự phụ thuộc lẫn
nhau giữa các quốc gia ngày càng tăng. Thơng mại quốc tế xuất hiện từ sự đa
dạng về điều kiện tự nhiên của sản xuất những mặt hàng cụ thể và xuất khẩu
những hàng hoá của mình để nhập khẩu những hàng hoá cần thiết từ nớc khác.
Sự khác nhau về điều kiện sản xuất cũng giải thích đợc một số việc buôn
bán giữa các nớc, buôn bán các mặt hàng nh dầu lửa, lơng thực, dịch vụ, du
lịch... Song nh chúng ta đợc biết phần lớn số lợng thơng mại quốc tế thuộc
những mặt hàng không xuất phát từ những điều kiện vốn có của sản xuất nh:
Mỹ đã sản xuất đợc ô tô sao lại nhập ô tô của Nhật, cộng hoà liên bang Đức,
Nam Triều Tiên...
Để có thể giải thích những lí do này ngời ta đã xây dựng nhiều lý thuyết
nhằm giải thích tại sao các quốc gia lại trao đổi với nhau.
3
1.2 Các lý thuyết về thơng mại quốc tế
1.2.1 Lý thuyết của Adam Smith về lợi thế tuyệt đối.
Lý thuyết về thơng mại cổ điển xuất hiện vào thế kỷ XVIII cùng với thời
kỳ nổ ra ba cuộc cách mạng: Cách mạng công nghiệp, cách mạng Mỹ và cách
mạng Pháp. Lý thuyết này đợc xây dựng trên cơ sở lý thuyết về buôn bán tự do
đợc phát triển vào thời kỳ này. Năm 1776, trong tác phẩm sự giàu có của các
dân tộc Adam Smith đã rũ bỏ quan niệm coi vàng đồng nghĩa với của cải và
quan niệm các nớc thu đợc lợi ích lớn nhất khi tham gia trao đổi các hàng hoá
có thể sản xuất với hiệu quả tối đa. Điểm then chốt của lập luận này là ở chỗ
các loại chi phí sản xuất sẽ là căn cứ cho biết từng nớc hoặc từng bạn hàng
buôn bán nên sản xuất mặt hàng nào.
Theo quan niệm về lợi thế tuyệt đối, một nớc chỉ sản xuất các loại hàng
hoá cho phép sử dụng tốt nhất các nguồn tài nguyên của nó. Các nguồn lực đó
là đội ngũ lao động có tay nghề hoặc thậm chí cả truyền thống kinh doanh.

Nh vậy Việt Nam có lợi thế tuyệt đối trong việc sản xuất gạo so với Đài
Loan còn Đài Loan có lợi thế tuyệt đối so với Việt Nam trong việc sản xuất thịt
bò. Việt Nam sẽ chuyên môn hoá trong việc trồng lúa còn Đài Loan sẽ chuyên
môn hoá trong việc nuôi bò và sau đó hai nớc trao đổi một phần các sản phẩm
nói trên cho nhau.
Nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế của Việt Nam đổi 6 kg thịt bò của Đài Loan thì
Việt Nam sẽ lãi đợc 2 kg thịt bò hay tiết kiệm 1/2 giờ công lao động, vì mỗi
ngày công lao động ở Việt Nam chỉ sản xuất đợc 4kg thịt bò và tỷ lệ trao đổi
nội địa là 6kg gạo = 4kg thịt bò. Tơng tự, 6 kg gạo mà Đài Loan nhận từ Việt
Nam tơng đơng với 6 giờ công ở Đài Loan và có thể tạo đợc 30kg thịt bò ở Đài
Loan. Bằng việc trao đổi 6 kg thịt bò lấy 6 kg gạo thì Đài Loan vẫn lợi đợc 24
kg thịt bò hoặc tiết kiệm gần 5 giờ công lao động . ở đây ta thấy Đài Loan có
lợi nhiều hơn so với Việt Nam và nếu tỷ lệ trao đổi thay đổi thì lợi ích đó sẽ đợc
bình quân hoá. Điều đáng chú ý là cả hai quốc gia đều có lợi. Tỷ lệ trao đổi
quốc tế sẽ ở khoảng giữa các tỷ lệ trao đổi nội địa.
6/4 > tỷ lệ trao đổi quốc tế (gạo/thịt ) > 1/5
Lợi thế tuyệt đối, tuy nhiên chỉ giải thích cho một phần nhỏ của thơng mại
quốc tế hiện nay, đó là thơng mại giữa các nớc đang phát triển và các nớc phát
triển. Phần lớn thơng mại thế giới, đặc biệt là giữa các nớc phát triển không thể
giải thích đợc bằng lợi thế tuyệt đối. Trong những cố gắng để giải thích các cơ
sở của thơng mại quốc tế, lợi thế tuyệt đối chỉ là một trờng hợp của lợi thế so
sánh (lợi thế tuyệt đối ).
1.2.2 Lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo.
Lợi thế so sánh - quy luật cơ bản của thơng mại quốc tế. Quy luật về lợi
thế so sánh (lợi thế tơng đối ) là một trong những ý tởng vĩ đại của kinh tế học
cổ điển Anh do David Ricardo đề xớng. Theo quy luật lợi thế so sánh, nếu một
quốc gia có hiệu quả thấp so với các quốc gia khác trong sản xuất hầu hết các
loại sản phẩm, thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thơng mại quốc tế để
tạo ra lợi ích cho mình. Nghĩa là, nếu quốc gia này tham gia vào thơng mại
quốc tế thì nó có thể thu đợc lợi ích không nhỏ. Khi tham gia thơng mại quốc

vải thì Việt Nam sẽ từ chối trao đổi vì ngay trong thị trờng nội địa Việt nam
cũng đã trao đổi theo tỷ lệ này. Do đó tỷ lệ trao đổi quốc tế phải ở khoảng giữa,
tức là :
6/4 > tỷ lệ trao đổi quốc tế (thép/ vải) > 1/2
Giả sử tỷ lệ trao đổi quốc tế là 1/1 tức là 6kg thép đổi 6m vải thì Đài loan
sẽ có lợi 2m vải, tức là tiết kiệm đợc 2 giờ công. Còn Việt nam nhận đợc 6kg
thép từ Đài loan mà bình thờng đáng lẽ phải bỏ ra 6 giờ công mới sản xuất đợc.
6
Việt nam sẽ sử dụng 6 giờ công đó để chuyên môn hoá sản xuất vải và tạo ra đ-
ợc 12m vải và chi phí phải dùng là 6m vải để đổi lấy 6kg thép, nh vậy còn lợi ra
6m vải hay tiết kiệm đợc 3 giờ công.
Nếu trao đổi theo tỷ lệ của Việt nam thì 6kg thép sẽ đổi lấy 12m vải, còn
theo tỷ lệ của Đài loan thì sẽ đổi 6kg thép lấy 4m vải. Nếu tỷ lệ trao đổi gần tỷ
lệ trao đổi nội địa Đài loan thì Việt nam càng có lợi và ngợc lại, nếu gần tỷ lệ
Việt nam thì Đài loan càng có lợi. Tóm lại, khi tiến hành trao đổi theo tỷ lệ ở
khoảng giữa thì cả hai quốc gia đều có lợi. Khoảng dao động của tỷ lệ trao đổi
quốc tế là:
4m vải < 6kg thép < 12m vải
Trong trờng hợp 6 kg thép đổi 6m vải thì Đài loan đợc lợi 2m vải còn Việt
nam đợc lợi 6m vải. Còn nếu trao đổi 6kg thép lấy 8m vải thì Đài loan đợc lợi
4m vải còn Việt nam cũng đợc lợi 4m vải. Nh vậy khi tỷ lệ trao đổi quốc tế thay
đổi sẽ dẫn đến sự phân phối lại nguồn lực từ thơng mại giữa các nớc tham gia.
1.2.3 cách tiếp cận của Haberler về lợi thế t ơng đối ( hay lợi thế t ơng
đối xét từ góc độ chi phí cơ hội).
D.Ricardo khi nghiên cứu quy luật về lợi thế tơng đối đã dựa trên hàng
loạt các giả thuyết đơn giản hoá của lý thuyết giá trị lao động để chứng minh
quy luật trên. Song trên thực tế lao động không phải là đồng nhất, những ngành
sản xuất khác nhau sẽ có cơ cấu lao động khác nhau với mức lơng, năng suất
lao động và trình độ tay nghề khác nhau. Hơn nữa, hàng hoá làm ra không chỉ
bởi lao động mà cả yếu tố sản xuất khác nh đất đai, vốn, khoa học- kỹ thuật.

có thể buôn bán. Ngay cả trong trờng hợp hiệu quả tuyệt đối trong hai nơi
giống hệt nhau, buôn bán vẫn có thể diễn ra do khác nhau về sở thích.
Có thể nói nhu cầu trao đổi xuất hiện từ thời cổ đại nhng chỉ từ khi ra đời
của nền sản xuất t bản chủ nghĩa mới phá vỡ tính chất đóng kín của từng đơn vị
kinh tế trong từng quốc gia và của từng nớc.
Chế độ t bản chủ nghĩa gắn chặt thị trờng dân tộc với thị trờng thế giới,
gắn chặt phân công lao động trong nớc với phân công lao động quốc tế. Ngoại
thơng trở nên không thể thiếu đợc với phơng thức sản xuất đó, nh Lê-Nin đã
nhận xét: không có thị trờng bên ngoài thì một số nớc t bản không thể sống đ-
ợc .
Thực tế chứng minh rằng không một quốc gia nào có thể bằng chính sách
đóng cửa với nớc ngoài lại phát triển nhanh và có hiệu quả kinh tế cao đợc.
Muốn phát triển nhanh, mỗi nớc không thể đơn độc dựa vào nguồn lực của
mình mà phải biết tận dụng có hiệu quả tất cả các thành tựu kinh tế, khoa học
kỹ thuật của nhân loại đã đạt đợc. Nền kinh tế mở cửa sẽ mở ra những tiềm
năng sẵn có của một nớc nhằm sử dụng phân công lao động quốc tế một cách
có lợi nhất.
Mở rộng thơng mại quốc tế và các mối quan hệ kinh tế đối ngoại là vận
dụng một trong những bài học kinh nghiệm quý báu rút ra từ thực tiễn nớc ta
trong những năm qua. Đại hội VIII Đảng ta khẳng định: chúng ta chủ trơng
hợp tác bình đẳng và cùng có lợi với tất cả các nớc không phân biệt thể chế
chính trị, xã hội trên nguyên tắc cùng tồn tại hoà bình .
8
Cho đến nay dù thành tựu đã đạt đợc xong cha có thể giúp chúng ta thoát
khỏi vị trí là một trong những nớc nghèo trên thế giới nhng cũng có những kết
quả đáng mừng từ chính sách mở rộng thơng mại, giao lu kinh tế với bên ngoài.
Nớc ta đang từng bớc chuyển mình với nhịp độ sản xuất mới bằng những công
nghệ khoa học tiên tiến. Tin tởng rằng, với những hớng đi đúng dắn, với những
u thế của mình và sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nớc, Việt nam sẽ trở thành một
mắt xích quan trọng trong nền kinh tế thế giới.

9
phép chúng ta khai thác đợc tiềm năng, thế mạnh về sức lao động và tài nguyên
thiên nhiên. Vì vậy, nền sản xuất xã hội phát triển nh thế nào trong giai đoạn
hiện nay phụ thuộc rất lớn vào hoạt động xuất khẩu.
Xuất khẩu không những đợc thừa nhận là hoạt động cơ bản của hoạt động
kinh tế đối ngoại mà nó còn là một phơng tiện thúc đẩy tăng trởng kinh tế. Do
vậy, các Chính phủ ở các quốc gia trong chiến lợc phát triển kinh tế của mình
đều coi hoạt động xuất khẩu là một hoạt động trọng tâm để thúc đẩy tăng trởng
và phát triển kinh tế.
2. Vai trò của xuất khẩu hàng hoá đối với nền kinh tế quốc dân.
Trên thực tế ta thấy, bất cứ một ngành sản xuất hay kinh doanh nào muốn
thu hút đợc kết quả cao đều phải biết khai thác và phát huy triệt để những lợi
thế sẵn có ở bên trong cũng nh bên ngoài một cách đúng đắn và hợp lý. Đối với
hoạt động xuất khẩu của Việt nam cần phải tận dụng các nguồn tiềm năng để
mang lại hiệu quả ngày càng cao.
Chúng tá có những điều kiện thuận lợi: nớc ta là một nớc Đông nam á nằm
ở khu vực Châu á - Thái Bình Dơng - khu vực đợc coi là phát triển năng
động, có tầm chiến lợc ngày càng quan trọng trên bản đồ chính trị và kinh tế
thế giới. Vị trí của Việt nam nằm trên tuyến đờng giao lu hàng hải quốc tế từ
các nớc SNG, Trung Quốc, Nhật bản, Nam Triều Tiên sang các nớc Nam á,
Trung Đông, và Châu phi. Với một vị trí thuận lợi nh vậy tạo điều kiện cho Việt
nam tham gia vào phân công lao động quốc tế và trong sự hợp tác với các nớc
trong khối ASEAN, trong khu vực, và các nớc trên thế giới một cách dễ dàng.
Mặt khác, nó cũng góp phần đẩy mạnh hoạt động thơng mại nói chung và hoạt
động xuất nhập khẩu nói riêng.
Không những thế, Việt nam còn có biển chạy dọc theo chiều dài đất nớc,
nhất là từ Phan Thiết trở vào còn có cảng nớc sâu, khí hậu tốt, không có sơng
mù, tàu bè nớc ngoài có thể cập bến an toàn quanh năm. Điều này rất thuận lợi
cho việc giao lu buôn bán giữa các nớc. Mặt khác, về vận tải hàng không, tuy
chúng ta cha có nhiều sân bay nhng chúng ta có sân bay Tân Sơn Nhất nằm ở vị

thác lợi thế tuyệt đối.
Hơn nữa nớc ta lại có hệ thống sông ngòi dày đặc giúp cho việc phát
triển hệ thống giao thông đờng thuỷ tạo điều kiện phát huy thế mạnh cho việc
vận chuyển hàng hoá xuất nhập khẩu của nớc ta với các nớc trên thế giới đợc dễ
dàng thuận lợi hơn và chi phí thấp hơn so với các phơng tiện khác.
Về nguồn nhân lực Việt nam có lực lợng lao động dồi dào, giá nhân công
rẻ. Việt nam là thị trờng đáng kể và là đối tợng đợc quan tâm của giới kinh
doanh quốc tế.
Thêm vào đó, việt nam có tình hình chính trị - xã hội tơng đối ổn định,
tốc độ tăng trởng kinh tế mấy năm qua đạt tỷ lệ cao so với các nớc trong khu
vực. Cụ thể năm 1998 tốc độ tăng trởng 9,5 %, năm 1999 là 9,3%, năm 2000 là
8,2%, năm 2001 là khoảng 5,8%. Chúng ta có sự cải thiện liên tục tình hình
kinh tế, pháp luật và chính sách thơng mại. Đó là những nhân tố tạo niềm tin và
sức hấp dẫn cho các đối tợng nớc ngoài.
11
Bên cạnh những cơ hội, chúng ta cũng còn gặp rất nhiều khó khăn trong
sự nghiệp công nghiệp hoá đất nớc. Vì xuất phát điểm của chúng ta quá thấp.
Thách thức gay gắt nhất là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều n-
ớc trong khu vục và trên thế giới. Mỹ và phơng tây tiếp tục mu toan thực hiện
chiến lợc diễn biến hoà bình. Gây áp lực đối với chúng ta về vấn đề dân
chủ, nhân quyền, đa nguyên đa đảng. Nguy cơ đi chệch hớng XHCN.
Nền kinh tế trong nớc còn nhiều yếu kém. Vẫn hiện trạng tham ô, tham
nhũng nhiều. Bộ máy quản lý còn quan liêu, thủ tục hành chính còn dờm dà.
Đội ngũ cán bộ vừa thiếu lại vừa yếu, đặc biệt đối với cán bộ thuộc lĩnh vực
ngoại thơng.
Nhận thức rõ những điều kiện thuận lợi và khó khăn trên Đảng và Nhà nớc
ta đã đề ra phơng hớng chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội. Phát huy
lợi thế tơng đối, không ngừng nâng cao sức cạnh tranh của hàng hoá. Đáp ứng
tốt nhu cầu của sản xuất và đời sống. Hớng mạnh vào xuất khẩu, thay thế nhập
khẩu những mặt hàng trong nớc sản xuất có hiệu quả. Mở rộng quan hệ kinh tế

Một là, xuất khẩu chỉ là việc tiêu thụ những sản phẩm thừa do sản xuất vợt
quá nhu cầu nội địa.Trong trờng hợp nền kinh tế còn lạc hậu và chậm phát triển
nh nớc ta, sản xuất về cơ bản là cha đủ cho nhu cầu tiêu dùng nếu chỉ thụ động
chờ sự thừa ra của sản xuất thì xuất khẩu sẽ vẫn cứ nhỏ bé và tăng trởng
chậm chạp. Sản xuất và thay thế cơ cấu kinh tế cũng sẽ rất chậm chạp.
Hai là, coi thị trờng đặc biệt là thị trờng thế giới là hớng quan trọng để tổ
chức sản xuất. Quan điển thứ hai chính là xuất phát từ nhu cầu của thị trờng thế
giới để tổ chức sản xuất. Điều đó có tác động tích cực đến chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển. Sự tác động này nên sản xuất thể hiện ở
các mặt sau:
Xuất khẩu tạo điều kiện cho các ngành có cơ hội phát triển thuận lợi. Ví
dụ khi phát triển ngành dệt may xuất khẩu sẽ tạo điều kiện thuận lợi và cơ hội
đầy đủ cho việc phát triển các ngành sản xuất nguyên liệu nh bông, vải sợi... Sự
phát triển của ngành công nghiệp chế biến thực phẩm xuất khẩu gạo, chè, cà
phê... sẽ thúc đẩy sự phát triển của các ngành sản xuất nông nghiệp và các
ngành chế biến có liên quan.
Xuất khẩu tạo khả năng mở rộng thị trờng tiêu thụ góp phần cho sản xuất
phát triển ổn định. Khi sản xuất bắt đầu lớn mạnh thị trờng trong nớc không đủ
khả năng làm cho sản xuất phát triển mạnh đợc, chỉ có thị trờng rộng lớn ở bên
ngoài mới có thể đảm bảo cho sự phát triển mạnh mẽ và không ngừng của các
ngành nghề trong nớc và đảm bảo sản xuất phát triển ổn định.
Xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nớc.
Xuất khẩu tạo ra những tiền đề kinh tế, kỹ thuật nhằm cải tạo và nâng
cao năng lực sản xuất trong nớc. Điều này muốn nói đến xuất khẩu là phơng
tiện quan trọng tạo ra vốn, kỹ thuật và công nghệ từ thế giới bên ngoài vào Việt
nam nhằm hiện đại hoá nền kinh tế của đất nớc tạo ra một năng lực sản xuất
mới.
13
Thông qua xuất khẩu, hàng hoá của ta sẽ tham gia vào cuộc cạnh tranh

đây:
1.1 Những khó khăn của hoạt động xuất khẩu.
Hoạt động xuất khẩu phụ thuộc vào rất nhiều các điều kiện khác nhau,
đồng thời trong quá trình tiến hành hoạt động xuất khẩu cũng nảy sinh nhiều
vấn đề có tính chất đặc thù của loại hình này.
14
Một trong những điều kiện để có đợc các sản phẩm có khả năng cạnh
tranh quốc tế là sự tồn tại của một hệ thống các điều kiện khung về chính sách
thích hợp cho sản xuất, tạo điều kiện cho sản xuất doanh nghiệp sản xuất ra các
sản phẩm thích hợp cho xuất khẩu.Các điều kiện khung này bao gồm các điều
kiện về pháp lý, thuế và các thủ tục hành chính. Ngoài ra còn phải kể đến các
điều kiện để tiến hành hoạt động nhập khẩu cũng nh triển khai đầu t trực tiếp
của nớc ngoài để tận dụng các khả năng chuyển giao công nghệ.
Nhân tố thứ hai gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu là vấn đề về
thông tin của thị trờng xuất khẩu. Các thông tin này thờng khó thu nhận hơn là
các thông tin ở thị trờng trong nớc. Các thông tin này bao gồm cả thông tin về
thị trờng nh: khả năng tiêu thụ, yêu cầu chất lợng, tình hình cạnh tranh, các quy
định về hạn chế nhập khẩu, những hiểu biết riêng về khách hàng và độ tin cậy
của khách hàng. Do tính năng động của thị trờng mà ngoài những hiểu biết
riêng, cơ bản còn cần phải tiếp tục theo dõi diễn biến của thị trờng để có thể
phản ứng linh hoạt trớc những thay đổi của tình hình.
Khi đã có những thông tin cần thiết, cần triển khai các hoạt động xúc
tiến xuất khẩu và marketing xuất khẩu. Do sự xa cách về mặt địa lý với các thị
trờng xuất khẩu và sự hiểu biết thờng là ít ỏi về các thị trờng này nên công việc
tiến hành các hoạt động này khó hơn đối với thị trờng trong nớc. Những công
việc xúc tiến ở đây là giới thiệu sản phẩm, lựa chọn và áp dụng các phơng pháp
tiếp thị thích hợp, hỗ trợ tiêu thụ và trong trờng hợp cần thiết xây dựng hệ thống
dịch vụ và các hệ thống kho phân phối.
Yếu tố thứ t gây khó khăn cho hoạt động xuất khẩu là hoạt động này đòi
hỏi những kiến thức và kinh nghiệm. Các thủ tục cần thiết trong xuất khẩu bao

đất, rừng, biển, khoáng sản, thuỷ sản.... Yêu cầu đặt ra là phải khai thác đợc
nguồn lực trong nớc, thúc đẩy xuất khẩu có hiệu quả.
1.2.2 Xuất khẩu phải mở rộng thị tr ờng, nguồn hàng và đối tác kinh
doanh xuất khẩu nhằm tạo thành cao trào xuất khẩu, coi xuất khẩu là mũi
nhọn đột phá cho sự giàu có.
Xuất khẩu phải mạnh và có hiệu quả để tạo thế đứng cho nớc ta trên thơng
trờng quốc tế. Trong điều kiện hiện nay, muốn gia nhập các tổ chức kinh tế
quốc tế thì nớc ta phải có đợc các quan hệ kinh tế bền vững với các trung tâm
kinh tế chủ yếu của thế giới nh Mỹ, Nhật bản và Châu âu. Chính những mối
quan hệ này là giá đỡ cho một quốc gia có thể tham gia có hiệu quả váo các
khối kinh tế khu vực.
Xuất khẩu muốn hiệu quả trớc tiên ta phải nghiên cứu nhu cầu trên thị
trờng đồng thời đánh giá khả năng sản xuất của ta. Từ đó, tìm các đối tác liên
doanh, liên kết tạo nguồn hàng xuất khẩu.
1.2.3 Nâng cao năng lực sản xuất hàng xuất khẩu để tăng nhanh khối l -
ợng kim ngạch xuất khẩu.
Hiện nay, xuất khẩu của ta còn manh mún, thờng xuất khẩu với khối l-
ợng nhỏ. Trong xu thế khu vực hoá ngày nay đòi hỏi năng lực xuất khẩu của n-
ớc ta phải đợc nâng cao để thu ngoại tệ về cho đất nớc đồng thời vơn lên chiếm
lĩnh ngày càng nhiều thị trờng xuất khẩu.
16
1.2.4 Tạo ra những mặt hàng xuất khẩu chủ lực đáp ứng những đòi hỏi
của thị tr ờng thế giới và của khách hàng, với chất l ợng cao khối l ợng lớn và
có khả năng cạnh tranh cao.
Nớc ta có cơ cấu hàng xuất khẩu tơng đối giống với các nớc trong khối
ASEAN. Do kỹ thuật sản xuất những mặt hàng này của ta hiện còn lạc hậu,
chất lợng cha cao, số lợng cha lớn nên hàng hoá của ta có sức cạnh tranh kém
hơn so với các nớc trong khu vực. Để có thể phát triển kinh tế dựa vào xuất khẩu
đòi hỏi phải có sự thay đổi cơ cấu hàng xuất khẩu sang những mặt hàng có hàm l-
ợng kỹ thuật cao, chế biến sâu, tơng đối mới và có nhu cầu lớn trên thị trờng nh

Khi đó, giá bán hàng hoá sẽ hạ tạo điều kiện cho ngời dân có thể mua hàng với
khối lợng lớn hơn, chi phí thấp hơn. Nh vậy khả năng tiêu dùng của xã hội sẽ
tăng lên.
Hội nhập khu vực góp phần chuyển hớng mậu dịch, điều kiện buôn bán
giữa các nớc thành viên trong liên minh sẽ trở nên thuận lợi và hấp dẫn hơn tr-
ớc. Ngay cả trong trờng hợp nớc ta tiến hành nhập khẩu những sản phẩm của
quốc gia ngoài liên minh với giá thấp hơn, nhng đợc thay thế bằng sản phẩm
cùng loại của các quốc gia trong liên minh mà giá cả lại cao hơn( do ảnh hởng
của chính sách u đãi thuế quan) chính những u đãi này giữa các nớc thành viên
trong liên minh đã đa tới sự chuyển hớng mậu dịch nói trên.
Hội nhập vào khu vực hiện đang tự do hoá thơng mại tạo điều kiện cho
mỗi quốc gia thành viên có điều kiện thuận lợi trong việc tiếp thu vốn, công
nghệ, trình độ quản lý...từ các quốc gia khác trong liên minh.Về lâu dài, tự do
hoá thơng mại góp phần tăng năng xuất lao động, tăng trởng kinh tế. Tự do hoá
thơng mại góp phần tăng trởng kinh tế bằng 2 cách: tăng xuất khẩu và tăng
năng xuất cận biên của hai yếu tố sản xuất là vốn và lao động.
Tự do hoá thơng mại làm tăng xuất khẩu góp phần tăng hiệu quả sản xuất
và tăng tiềm năng về kinh tế của từng quốc gia. Điều này đợc thể hiện:
Thực hiện tự do hoá thơng mại gây ra áp lực lớn với mọi quốc gia trong
liên minh ở các ngành sản xuất hàng xuất khẩu, buộc các ngành này phải phấn
đấu giảm giá hoặc giữ giá thành ở mức tơng đối thấp. Muốn vậy các ngành này
phải nhanh chóng thay đổi công nghệ, áp dụng các kinh nghiệm quản lý, những
thành tựu mới và hiện đại của cuộc cách mạng khoa học công nghệ.
Tự do hoá thơng mại góp phần giải phóng năng lực sản xuất của khu vực t
nhân, giải phóng quyền tự chủ sản xuất của các doanh nghiệp của t nhân và nhà
nớc. Điều này cho phép sản xuất đạt hiệu quả cao hơn.
Tham gia tự do hoá thơng mại buộc Chính phủ phải đa ra những chính
sách hợp lý hơn để phát triển kinh tế.
Hội nhập khu vực và thế giới góp phần đẩy mạnh xuất khẩu và tăng đầu t
từ nớc ngoài. Trong điều kiện hội nhập các quốc gia thành viên có xu hớng tập

nam và các nớc ngày cáng đậm nét.
2. Mục tiêu của chính sách thúc đẩy xuất khẩu.
Để thực hiện chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế xã hội, chính sách
thúc đẩy xuất khẩu nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ một nớc nông nghiệp
thành một nớc công nghiệp, từ công nghiệp chế biến dựa trên lao động thủ
công, kỹ thuật giản đơn đến công nghiệp chế tạo dựa trên vốn cao và kỹ thuật
hiện đại. Theo đó sự chuyển dịch cơ cấu hàng chế tạo và tỷ lệ hàng chế tạo xuất
khẩu có xu hớng tăng nhanh. Công nghiệp hoá hớng về xuất khẩu không phải là
mục đích tự thân mà nó là phạm trù lịch sử cho nên mục tiêu trực tiếp cụ thể
không thể nào khác là nhằm phát triển kinh tế xã hội nhanh, bền vững, có hiệu
quả. Phấn đấu vợt qua tình trạng nớc nghèo và kém phát triển, cải thiện đời
sống nhân dân củng cố quốc phòng và an ninh, tạo điều kiện cho đất nớc phát
triển nhanh hơn vào thế kỷ 21.
Thực hiện chính sách thúc đẩy xuất khẩu nhằm đặt nền kinh tế quốc gia
trong quan hệ cạnh tranh trên thị trờng quốc tế nhằm phát huy lợi thế so sánh,
19
buộc sản xuất trong nớc phải luôn đổi mới công nghệ, không thể tồn tại với
năng suất thấp kém, mau chóng nâng cao khả năng mở rộng thị trờng và xúc
tiến thơng mại. Đích cuối cùng là làm thoả mãn nhu cầu của thị trờng, kể cả thị
trờng trong nớc và thị trờng quốc tế. Thúc đẩy xuất khẩu không có nghĩa là xem
nhẹ nhu cầu trong nớc, không chú ý thay thế nhập khẩu.
Chính sách thúc đẩy xuất khẩu nhằm:
+ Đảm bảo kim ngạch nhập khẩu phục vụ cho quá trình Công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nớc.
+ Gắn sản xuất vì nền kinh tế trong nớc với các hoạt động của nền
kinh tế thế giới, nối kết các nền kinh tế với nhau và tạo ra một không
gian kinh tế rộng lớn hơn nhờ hiệu quả và buôn bán quốc tế.
+ Tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh hơn tốc độ tăng trởng kinh tế và
tạo ra ngoại tệ để nhập khẩu. Khai thác có hiệu quả lợi thế tuyệt đối và t-
ơng đối của đất nớc kích thích các ngành kinh tế phát triển.

Các yếu tố cải thiện điều kiện khung:
Cải thiện điều kiện khung kinh tế bao gồm nội dung của một chính sách
kinh tế hớng vào các mục tiêu ổn định, mỗi chính sách xã hội thích ứng và một
chính sách ngoại thơng tự do. Cụ thể gồm các yếu tố:
- Các yếu tố về đờng lối chính sách chung:
+ Hoàn thiện hệ thống pháp luật đủ năng lực, bao gồm một hệ thống luật
thành văn phù hợp, một hệ thống tài phán độc lập và thực thi pháp luật bởi các
cơ quan thích hợp.
+ Trên cơ sở có sự tham gia của tất cả các tầng lớp xã hội, xây dựng
và hoàn thiện một hệ thống đảm bảo xã hội thích hợp và một chính sách
phân phối phù hợp.
+ Có đợc một chính sách môi trờng thích hợp sẽ góp phần tạo ra sự
phát triển lâu bền, ngăn ngừa các nguy cơ phát sinh các chi phí giải
quyết hậu quả trong tơng lai.
+ Xây dựng một bộ máy hành chính hoạt động hiệu quả là tiền đề
có thể thực thi các chính sách một cách hữu hiệu và tiết kiệm.
- Các yếu tố về chính sách kinh tế chung:
+ Đề ra một kế hoạch khung kinh tế với các mục tiêu định hớng sẽ
cho ta tầm nhìn và phơng hớng.
+ Vận dụng một chính sách cạnh tranh thích hợp với nội dung ngăn
ngừa các thoả thuận và hoạt động hạn chế cạnh tranh, đẩy mạnh định h-
ớng vào thị trờng.
+ Không ngừng cải thiện hệ thống thuế theo hớng quan tâm tới khía
cạnh công bằng lẫn khía cạnh năng lực sẽ khuyến khích hoạt động sản
xuất kinh doanh và góp phần nâng cao khả năng xuất khẩu.
+ Tự do thị trờng vốn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự ra đời của
các cơ cấu ngân hàng có năng lực, khuyến khích cạnh tranh về tiền gửi
21
và tín dụng, tăng khối lợng tiền gửi tiết kiệm trong cả nớc và tạo điều
kiện thuận lợi cho sự xuất hiện của lãi suất hớng theo thị trờng.

trợ xuất khẩu mà đợc hiểu rộng hơn, đó là sự cải thiện điều kện sản xuất ở
những ngành có tỷ trọng xuất khẩu cao, qua đó gián tiếp góp phần nâng cao
khả năng cạnh tranh quốc tế. Sau đây là một số công cụ đợc áp dụng ở nhiều n-
ớc:
22
- Bao cấp dới hình thức hỗ trợ đầu t, hỗ trợ phát triển kinh tế vùng ( nh
chính sách hỗ trợ phát triển các vùng ven ở Đức, hỗ trợ phát triển kinh tế ở
đông Đức hoặc hỗ trợ từ quỹ khu vực của liên minh Châu âu). Chính sách bao
cấp này có thể nhằm vào các mục tiêu nh đảm bảo việc làm hoặc đẩy nhanh
phát triển công nghệ. Tuy nhiên, chúng cũng đồng thời giúp mở rộng cơ hội
xuất khẩu dới dạng bù lỗ đóng một vai trò quan trọng.
- Thông qua các chính sách thuế có thể tạo điều kiện thuận lợi cho các
hoạt động nghiên cứu thị trờng xuất khẩu.
- Việc phát triển các đơn hàng của Nhà nớc cho các công ty trong nớc thực
hiện góp phần củng cố khả năng đáp ứng về vốn tự có và bảo đảm việc làm,
ngoài ra còn bao hàm cả các yếu tố về chính sách công nghệ ( nh Pháp và Mỹ).
- Trong khuôn khổ chính sách cạnh tranh của quốc gia có thể có những
quy định ngoại lệ nhằm nâng cao năng lực nền công nghệ trong nớc. Có thể cho
phép lập ra các hiệp hội xuất khẩu để giảm nhẹ rủi ro xuất khẩu cho từng cá
nhân và từng doanh nghiệp ( Pháp, Mỹ, Nhật ).
-Trong khuôn khổ chính sách tín dụng và lãi suất áp dụng phân biệt đối
với các đối tợng khác nhau, có thể cấp tín dụng, đảm nhận bảo lãnh của nhà n-
ớc hoặc giảm chi phí tái cấp vốn để khuyến khích sự phát triển của một số lĩnh
vực kinh tế nhất định ( Pháp, Nhật ).
- Bằng việc áp dụng một chính sách nhập khẩu phục vụ cho mục đích thực
thi chính sách công nghiệp, có thể áp dụng hàng rào thơng mại một cách có chủ
đích để bảo hộ một số ngành và đồng thời xây dựng một số ngành mới có khả
năng cạnh tranh ( EU, Mỹ, Nhật ).
3.3 Khu kinh tế đặc biệt.
Những nội dung cơ bản của chính sách công nghiệp trong giai đoạn đầu

thông qua việc tham gia thiết lập các điều kiện khung quốc tế. Điều này đợc
thực hiện bởi việc ký kết các hiệp định xong phơng hoặc đa phơng, gia nhập
các hiệp hội khu vực nh ASEAN, EU hoặc các tổ chức quốc tế nh WTO, OECD
hoặc UNCTAD. Các hiệp định quốc tế tác động hết sức cơ bản tới các điều kiện
khung của buôn bán quốc tế.
+ OECD: Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế.
+ UNCTAD: Hội nghị của Liên hợp quốc về thơng mại và phát triển.
24
Ch ơng II
Một số chính sách thúc đẩy xuất khẩu và tác động
của nó tới hoạt động xuất khẩu ở Việt nam
Để tránh nguy cơ tụt hậu về kinh tế trong quá trình hội nhập kinh tế khu
vực và thế giới, hoạt động xuất khẩu Việt nam phải có những bớc tiến dài và
vững chắc. Muốn hoạt động xuất khẩu của Việt nam phát triển không ngừng
điều đầu tiên chúng ta phải có một định hớng đúng đắn cho xuất khẩu. Dựa trên
định hớng này, Chính phủ sẽ đa ra các chính sách thúc đẩy hoạt động xuất
khẩu. Từ Đại hội Đảng VII, Đảng ta đã xác định chiến lợc đa nền kinh tế hớng
về xuất khẩu và nhấn mạnh chiến lợc hớng mạnh vào xuất khẩu tại kỳ họp thứ 4
Đại hội Đảng VIII. Sau mấy năm thực hiện, thực tế đã chứng minh đây là một
quyết định đúng đắn.
Để thực hiện mục tiêu chuyển dịch cơ cấu kinh tế hớng về xuất khẩu.
Chính phủ đã ban hành nhiều đạo luật, nghị định có tác động khuyến khích đầu
t sản xuất hàng xuất khẩu. Các biện pháp này đã góp phần không nhỏ thúc đẩy
hoạt động xuất khẩu, tăng trởng không ngừng trong những năm vừa qua. Sau
đây, chúng ta sẽ xem xét đánh giá về những mặt làm đợc cũng nh những mặt
cha làm đợc của những chính sách này.
I. Chính sách khuyến khích đầu t.
Văn kiện Đại hội Đảng VIII đã chỉ rõ Cần huy động mọi nguồn vốn
trong và ngoài nớc để đầu t phát triển, trong đó vốn trong nớc có ý nghĩa quyết
định, vốn nớc ngoài có ý nghĩa quan trọng .


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status